Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa401-500
SA481 Kinh 481. nhất-xa-năng-già-la
SA401 Kinh 401. bách thương SA402 Kinh 402. bình đẳng chánh giác SA403 Kinh 403. như thật tri SA404 Kinh 404. thân-thứ SA405 Kinh 405. khổng SA406 Kinh 406. manh SA407 Kinh 407. tư duy (1) SA408 Kinh 408. tư duy (2) SA409 Kinh 409. giác (1) SA410 Kinh 410. giác (2) SA411 Kinh 411. luận thuyết SA412 Kinh 412. tranh SA413 Kinh 413. vương lực SA414 Kinh 414. túc mạng SA415 Kinh 415. đàn-việt SA416 Kinh 416. thọ trì (1) SA417 Kinh 417. như như SA418 Kinh 418. thọ trì (2) SA419 Kinh 419. nghi (1) SA420 Kinh 420. nghi (2) SA421 Kinh 421. thâm hiểm SA422 Kinh 422. đại nhiệt SA423 Kinh 423. đại ám SA424 Kinh 424. minh ám (1) SA425 Kinh 425. minh ám (2) SA426 Kinh 426. minh ám (3) SA427 Kinh 427. thánh đế SA428 Kinh 428. thiền tư SA429 Kinh 429. tam-ma-đề SA430 Kinh 430. trượng (1) SA431 Kinh 431. trượng (2) SA432 Kinh 432. ngũ tiết luân SA433 Kinh 433. tăng thượng thuyết pháp SA434 Kinh 434. hiệt tuệ SA435 Kinh 435. tu-đạt SA436 Kinh 436. điện đường (1) SA437 Kinh 437. điện đường (2) SA438 Kinh 438. chúng sanh SA439 Kinh 439. tuyết sơn SA440 Kinh 440. hồ trì đẳng SA441 Kinh 441. thổ SA442 Kinh 442. trảo giáp SA443 Kinh 443. tứ thánh đế dĩ sanh SA444 Kinh 444. nhãn dược hoàn SA445 Kinh 445. bỉ tâm SA446 Kinh 446. kệ (1) SA447 Kinh 447. hành SA448 Kinh 448. kệ (2) SA449 Kinh 449. giới hòa hợp SA450 Kinh 450. tinh tấn SA451 Kinh 451. giới SA452 Kinh 452. xúc (1) SA453 Kinh 453. xúc (2) SA454 Kinh 454. tưởng (1) SA455 Kinh 455. tưởng (2) SA456 Kinh 456. chánh thọ SA457 Kinh 457. thuyết SA458 Kinh 458. nhân SA459 Kinh 459. tự tác SA460 Kinh 460. cù-sư-la SA461 Kinh 461. tam giới (1) SA462 Kinh 462. tam giới (2) SA463 Kinh 463. tam giới (3) SA464 Kinh 464. đồng pháp SA465 Kinh 465. trước sử SA466 Kinh 466. xúc nhân SA467 Kinh 467. kiếm thích SA468 Kinh 468. tam thọ SA469 Kinh 469. thâm hiểm SA470 Kinh 470. tiễn SA471 Kinh 471. hư không SA472 Kinh 472. khách xá SA473 Kinh 473. thiền SA474 Kinh 474. chỉ tức SA475 Kinh 475. tiên trí SA476 Kinh 476. thiền tư SA477 Kinh 477. a-nan sở vấn SA478 Kinh 478. tỳ-kheo SA479 Kinh 479. giải thoát SA480 Kinh 480. sa-môn bà-la-môn SA481 Kinh 481. nhất-xa-năng-già-la SA482 Kinh 482. hỷ lạc SA483 Kinh 483. vô thực lạc SA484 Kinh 484. bạt-đà-la SA485 Kinh 485. ưu-đà-di SA486 Kinh 486. nhất pháp (1) SA487 sa487 SA488 Kinh 488. nhất pháp (2) SA489 Kinh 489. nhất pháp (3) SA490 Kinh 490. diêm-phù-xa SA491 Kinh 491. sa-môn xuất gia sở vấn SA492 Kinh 492. nê thủy SA493 Kinh 493. thừa thuyền nghịch lưu SA494 Kinh 494. khô thọ SA495 Kinh 495. giới SA496 Kinh 496. tránh SA497 Kinh 497. cử tội SA498 Kinh 498. na-la-kiền-đà SA499 Kinh 499. thạch trụ SA500 Kinh 500. tịnh khẩu
SA481

Kinh 481. nhất-xa-năng-già-la

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật trú trong rừng Nhất-xa-năng-già-la, nước Nhất-xa-năng-già-la. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Ta muốn ở lại tại đây nửa tháng để ngồi thiền. Các Tỳ-kheo, chớ đi du hành nữa, trừ khi đi khất thực và Bố tát.”

Rồi tọa thiền, không du hành nữa.

Bấy giờ, qua nửa tháng, Thế Tôn trải tọa cụ ngồi trước đại chúng, bảo các Tỳ-kheo:

“Khi Ta, bằng một ít thiền phần của thiền pháp được tư duy khi mới thành Phật, nay trong tháng này, tư duy rằng: Sự sanh khởi của tất cả cảm thọ của chúng đều có nhân duyên, không phải không có nhân duyên.

“Những gì là nhân duyên? Dục là nhân duyên, giác là nhân duyên, xúc là nhân duyên. Này các Tỳ-kheo, nếu dục không được diệt tận, giác không diệt tận, xúc không diệt tận, do những nhân duyên này mà cảm thọ của chúng sanh phát sanh. Vì nhân duyên không được diệt tận nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh.

“Nếu dục kia được diệt tận, nhưng giác không diệt tận, xúc không diệt tận, do những nhân duyên này mà cảm thọ của chúng sanh phát sanh. Vì nhân duyên không được diệt tận nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh.

“Nếu dục kia được diệt tận, giác diệt tận, nhưng xúc không diệt tận, do những nhân duyên này mà cảm thọ của chúng sanh phát sanh. Vì nhân duyên không được diệt tận nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh.

“Nếu dục kia được diệt tận, giác diệt tận, xúc diệt tận; nhưng do nhân duyên kia mà cảm thọ của chúng sanh phát sanh, là do nhân duyên cái kia diệt tận, nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh.

“Vì nhân duyên tà kiến nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh; vì nhân duyên tà kiến không diệt tận nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh; vì nhân duyên tà chí, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà phương tiện, tà niệm, tà định, tà giải thoát và tà trí, nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh. Vì nhân duyên tà trí không diệt tận nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh.

“Do nhân duyên chánh kiến nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh; do nhân duyên chánh kiến tịch diệt nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh; do nhân duyên chánh chí, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh phương tiện, chánh niệm, chánh định, chánh giải thoát và chánh trí nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh; do nhân duyên chánh trí tịch diệt nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh.

“Nếu dục này không được mà được, không thu hoạch mà thu hoạch, không chứng mà chứng, thì cũng vì nhân duyên này mà cảm thọ của chúng sanh phát sanh, vì nhân duyên cái kia tịch diệt nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh. Đó gọi là vì nhân duyên không diệt tận, nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh; và vì nhân duyên diệt tận nên cảm thọ của chúng sanh phát sanh.

“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, không biết như thật đối với duyên duyên, sự tập khởi của duyên duyên, sự diệt tận của duyên duyên, con đường đưa đến sự tập khởi của duyên duyên, con đường đưa đến sự diệt tận của duyên duyên như vậy, thì người này không phải là Sa-môn của Sa-môn, không phải Bà-la-môn của Bà-la-môn, không đồng với Sa-môn của Sa-môn, không đồng với Bà-la-môn của Bà-la-môn, không đúng nghĩa Sa-môn, không đúng nghĩa Bà-la-môn, đối với pháp hiện tại không tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’

“Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào, mà biết như thật đối với duyên duyên, sự tập khởi của duyên duyên, sự diệt tận của duyên duyên, con đường đưa đến sự tập khởi của duyên duyên và con đường đưa đến sự diệt tận của duyên duyên như vậy, thì người này là Sa-môn của Sa-môn, là Bà-la-môn của Bà-la-môn, đồng với Sa-môn của Sa-môn, đồng với Bà-la-môn của Bà-la-môn, đúng nghĩa Sa-môn, đúng nghĩa Bà-la-môn, đối với pháp hiện tại tự tri tự tác chứng: ‘Ta, sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã lập, những gì cần làm đã làm xong, tự biết không còn tái sanh đời sau nữa.’

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA482...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc