BJT 1840Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi sống tại khu ẩn cư ở không xa núi Hi-mã-lạp.
BJT 1841Tôi có vật cúng dường đến ngọn lửa, có các bông sen trắng và trái cây. Sau khi đặt vào trong chiếc giỏ, tôi đã treo lên ở ngọn cây.
BJT 1842Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, có ý định tiếp độ tôi, trong khi khất thực Ngài đã đi đến gần tôi.
BJT 1843Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật. Tôi đã là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc, là sự đưa đến an lạc trong thời hiện tại cho chính tôi.
BJT 1844Bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đứng ở trên không trung đã nói lên lời kệ này:
BJT 1845“Do sự dâng cúng trái cây này và do các nguyện lực của tác ý, (người này) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.”
BJT 1846Do nhờ nhân tố trong sạch ấy, tôi đã thọ hưởng sự thành đạt. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1847Trước đây bảy trăm kiếp, tôi đã là đức vua Sumaṅgala, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1848Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Phaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Ajjhāyako mantadharo,
tiṇṇaṁ vedāna pāragū;
Himavantassāvidūre,
vasāmi assame ahaṁ.
Aggihuttañca me atthi,
puṇḍarīkaphalāni ca;
Puṭake nikkhipitvāna,
dumagge laggitaṁ mayā.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Mamuddharitukāmo so,
bhikkhanto mamupāgami.
Pasannacitto sumano,
phalaṁ buddhassadāsahaṁ;
Vittisañjanano mayhaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvaho.
Suvaṇṇavaṇṇo sambuddho,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Antalikkhe ṭhito satthā,
imaṁ gāthaṁ abhāsatha.
‘Iminā phaladānena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjati’.
Teneva sukkamūlena,
anubhotvāna sampadā;
Pattomhi acalaṁ ṭhānaṁ,
hitvā jayaparājayaṁ.
Ito sattasate kappe,
rājā āsiṁ sumaṅgalo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā phaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Phaladāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 1840 I was a learned mantra-knower
who had mastered the three Vedas.
I lived in an ashram back then,
not far from the Himalayas. Verse 1
Walt 1841 I had offerings for the fire
and some white-lotus-fruits as well;
having placed these in a bag, I’d
hung them on the top of a tree. Verse 2
Walt 1842 Padumuttara, World-Knower,
Sacrificial Recipient,
with a wish for my upliftment,
came up to me while begging alms. Verse 3
Walt 1843 Happy, and with a happy heart,
producing supreme joyfulness,
conveying pleasure to the world,
I gave the Buddha my fruit. Verse 4
Walt 1844 The Golden-Colored Sambuddha,
Sacrificial Recipient,
the Teacher, standing in the sky,
then uttered this verse \[about me: Verse 5
Walt 1845 “Because of this gift of some fruit
with intention and firm resolve,
for one hundred thousand aeons
he’ll come to know no bad rebirth.” Verse 6
Walt 1846 By means of just those wholesome roots,
I did experience happiness.
I’ve attained the unshaking state
beyond all conquest and defeat. Verse 7
Walt 1847 In the seventh aeon ago
I was the king, Sumaṅgala,
a wheel-turner with great power,
possessor of the seven gems. Verse 8
Walt 1848 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Phaladāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Phaladāyaka Thera is finished.
BJT 1840Là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, tôi sống tại khu ẩn cư ở không xa núi Hi-mã-lạp.
BJT 1841Tôi có vật cúng dường đến ngọn lửa, có các bông sen trắng và trái cây. Sau khi đặt vào trong chiếc giỏ, tôi đã treo lên ở ngọn cây.
BJT 1842Đấng Hiểu Biết Thế Gian Padumuttara, vị thọ nhận các vật hiến cúng, có ý định tiếp độ tôi, trong khi khất thực Ngài đã đi đến gần tôi.
BJT 1843Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng cúng trái cây đến đức Phật. Tôi đã là nguồn sanh lên niềm hạnh phúc, là sự đưa đến an lạc trong thời hiện tại cho chính tôi.
BJT 1844Bậc Toàn Giác có màu da vàng chói, vị thọ nhận các vật hiến cúng, đứng ở trên không trung đã nói lên lời kệ này:
BJT 1845“Do sự dâng cúng trái cây này và do các nguyện lực của tác ý, (người này) không đi đến khổ cảnh trong một trăm ngàn kiếp.”
BJT 1846Do nhờ nhân tố trong sạch ấy, tôi đã thọ hưởng sự thành đạt. Sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 1847Trước đây bảy trăm kiếp, tôi đã là đức vua Sumaṅgala, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1848Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Phaladāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Ajjhāyako mantadharo,
tiṇṇaṁ vedāna pāragū;
Himavantassāvidūre,
vasāmi assame ahaṁ.
Aggihuttañca me atthi,
puṇḍarīkaphalāni ca;
Puṭake nikkhipitvāna,
dumagge laggitaṁ mayā.
Padumuttaro lokavidū,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Mamuddharitukāmo so,
bhikkhanto mamupāgami.
Pasannacitto sumano,
phalaṁ buddhassadāsahaṁ;
Vittisañjanano mayhaṁ,
diṭṭhadhammasukhāvaho.
Suvaṇṇavaṇṇo sambuddho,
āhutīnaṁ paṭiggaho;
Antalikkhe ṭhito satthā,
imaṁ gāthaṁ abhāsatha.
‘Iminā phaladānena,
cetanāpaṇidhīhi ca;
Kappānaṁ satasahassaṁ,
duggatiṁ nupapajjati’.
Teneva sukkamūlena,
anubhotvāna sampadā;
Pattomhi acalaṁ ṭhānaṁ,
hitvā jayaparājayaṁ.
Ito sattasate kappe,
rājā āsiṁ sumaṅgalo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā phaladāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Phaladāyakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.