BJT 1862Ở không xa núi Hi-mã-lạp có ngọn núi tên Gotama được che phủ bởi nhiều loại cây cối khác nhau, là nơi trú ngụ của các nhóm chúng sanh vĩ đại.
BJT 1863Và có khu ẩn cư đã được tạo nên ở trung tâm của ngọn núi ấy. Được vây quanh bởi những học trò của mình, tôi sống tại khu ẩn cư.
BJT 1864“Này các nhóm học trò của ta, hãy mang lại cho ta hoa sen hồng. Chúng ta sẽ thực hiện việc cúng dường đức Phật, đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.”
BJT 1865Các vị ấy đã đáp lại rằng: “Xin vâng,” rồi đã mang lại hoa sen hồng cho tôi. Tại nơi ấy, sau khi xác định đối tượng, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 1866Khi ấy, tôi đã triệu tập các người học trò lại và đã giáo huấn điều tốt đẹp: “Các ngươi chớ xao lãng, không xao lãng là nguồn đem lại sự an lạc.”
BJT 1867Sau khi đã giáo huấn như vậy cho những người học trò có sự chấp nhận lời dạy bảo ấy, được gắn bó với đức tính không xao lãng, tôi đã mệnh chung vào khi ấy.
BJT 1868(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1869(Trước đây) 51 kiếp, tôi đã là đức vua Jaluttama, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
xxxx. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Padumapūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Padumapūjaka là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Sereyyaka, vị có ngôi bảo tháp bằng bông hoa, vị (dâng cúng) cơm sữa, vị (rắc) nước thơm, vị ca ngợi, vị có chỗ ngồi, vị (dâng cúng) trái cây, vị suy tưởng, bông hoa có hương thơm, vị có hoa sen hồng; (tổng cộng) có 105 câu kệ đã được thuật lại bởi các vị nhìn thấy sự lợi ích.
Phẩm Sereyyaka là phẩm thứ mười ba.
“Himavantassāvidūre,
gotamo nāma pabbato;
Nānārukkhehi sañchanno,
mahābhūtagaṇālayo.
Vemajjhamhi ca tassāsi,
assamo abhinimmito;
Purakkhato sasissehi,
vasāmi assame ahaṁ.
Āyantu me sissagaṇā,
padumaṁ āharantu me;
Buddhapūjaṁ karissāmi,
dvipadindassa tādino.
Evanti te paṭissutvā,
padumaṁ āhariṁsu me;
Tathā nimittaṁ katvāhaṁ,
buddhassa abhiropayiṁ.
Sisse tadā samānetvā,
sādhukaṁ anusāsahaṁ;
Mā kho tumhe pamajjittha,
appamādo sukhāvaho.
Evaṁ samanusāsitvā,
te sisse vacanakkhame;
Appamādaguṇe yutto,
tadā kālaṅkato ahaṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Ekapaññāsakappamhi,
rājā āsiṁ jaluttamo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā padumapūjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Padumapūjakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Sereyyavaggo terasamo.
Tassuddānaṁ
Sereyyako pupphathūpi,
pāyaso gandhathomako;
Āsani phalasaññī ca,
gaṇṭhipadumapupphiyo;
Pañcuttarasatā gāthā,
gaṇitā atthadassibhi.
Walt 1862 In the Himalayan region,
there’s a mountain named Gotama.
It’s covered with various trees,
and the lair of a great group of ghosts. Verse 1
Walt 1863 In the middle of that mountain
an ashram had been constructed.
Surrounded by my own students,
I lived in that ashram back then. Verse 2
Walt 1864 “Let the student-group come to me;
let them bring me a pink lotus;
let us do a Buddha-pūjā
for the Biped-Lord, Neutral One.” Verse 3
Walt 1865 Having assented, “yes, sir, let’s”
they brought a pink lotus flower.
Making an occasion for it,
I offered it to the Buddha. Verse 4
Walt 1866 Then, assembling the students,
I thus advised them thoroughly:
“Don’t you ever be neglectful;
be diligent, bring happiness.” Verse 5
Walt 1867 Having thus advised those students
who were patient about my words,
and bound to diligent virtue,
I passed away there at that time. Verse 6
Walt 1868 In the ninety-one aeons since
I offered that flower to him,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 7
Walt 1869 In the fifty-first aeon hence
there was a king, Jaluttama,
a wheel-turner with great power,
possessor of the seven gems. Verse 8
The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Padumapūjaka Thera spoke these verses.
The legend of Padumapūjaka Thera is finished.
The Summary:
Sereyyaka, Pupphathūpī,
Pāyās-Odaki-Thomaka,
Āsanī-Phala and Saññī,
Gandha and Padumapupphiya.
Five more than a hundred verses
preached by knowers of the meaning.
The Sereyyaka Chapter, the Thirteenth.
BJT 1862Ở không xa núi Hi-mã-lạp có ngọn núi tên Gotama được che phủ bởi nhiều loại cây cối khác nhau, là nơi trú ngụ của các nhóm chúng sanh vĩ đại.
BJT 1863Và có khu ẩn cư đã được tạo nên ở trung tâm của ngọn núi ấy. Được vây quanh bởi những học trò của mình, tôi sống tại khu ẩn cư.
BJT 1864“Này các nhóm học trò của ta, hãy mang lại cho ta hoa sen hồng. Chúng ta sẽ thực hiện việc cúng dường đức Phật, đấng Chúa Tể của loài người như thế ấy.”
BJT 1865Các vị ấy đã đáp lại rằng: “Xin vâng,” rồi đã mang lại hoa sen hồng cho tôi. Tại nơi ấy, sau khi xác định đối tượng, tôi đã dâng lên đức Phật.
BJT 1866Khi ấy, tôi đã triệu tập các người học trò lại và đã giáo huấn điều tốt đẹp: “Các ngươi chớ xao lãng, không xao lãng là nguồn đem lại sự an lạc.”
BJT 1867Sau khi đã giáo huấn như vậy cho những người học trò có sự chấp nhận lời dạy bảo ấy, được gắn bó với đức tính không xao lãng, tôi đã mệnh chung vào khi ấy.
BJT 1868(Kể từ khi) tôi đã dâng lên bông hoa trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 1869(Trước đây) 51 kiếp, tôi đã là đức vua Jaluttama, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
xxxx. Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Padumapūjakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Padumapūjaka là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Sereyyaka, vị có ngôi bảo tháp bằng bông hoa, vị (dâng cúng) cơm sữa, vị (rắc) nước thơm, vị ca ngợi, vị có chỗ ngồi, vị (dâng cúng) trái cây, vị suy tưởng, bông hoa có hương thơm, vị có hoa sen hồng; (tổng cộng) có 105 câu kệ đã được thuật lại bởi các vị nhìn thấy sự lợi ích.
Phẩm Sereyyaka là phẩm thứ mười ba.
“Himavantassāvidūre,
gotamo nāma pabbato;
Nānārukkhehi sañchanno,
mahābhūtagaṇālayo.
Vemajjhamhi ca tassāsi,
assamo abhinimmito;
Purakkhato sasissehi,
vasāmi assame ahaṁ.
Āyantu me sissagaṇā,
padumaṁ āharantu me;
Buddhapūjaṁ karissāmi,
dvipadindassa tādino.
Evanti te paṭissutvā,
padumaṁ āhariṁsu me;
Tathā nimittaṁ katvāhaṁ,
buddhassa abhiropayiṁ.
Sisse tadā samānetvā,
sādhukaṁ anusāsahaṁ;
Mā kho tumhe pamajjittha,
appamādo sukhāvaho.
Evaṁ samanusāsitvā,
te sisse vacanakkhame;
Appamādaguṇe yutto,
tadā kālaṅkato ahaṁ.
Ekanavutito kappe,
yaṁ pupphamabhiropayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Ekapaññāsakappamhi,
rājā āsiṁ jaluttamo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā padumapūjako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Padumapūjakattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Sereyyavaggo terasamo.
Tassuddānaṁ
Sereyyako pupphathūpi,
pāyaso gandhathomako;
Āsani phalasaññī ca,
gaṇṭhipadumapupphiyo;
Pañcuttarasatā gāthā,
gaṇitā atthadassibhi.