BJT 1849Tôi sống trong vùng đồi núi tại núi Hi-mã-lạp. Sau khi nhìn thấy bãi cát đang chói sáng, tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng rằng:
BJT 1850“Về trí tuệ, không có gì so sánh, không có gì đối địch với bậc Đạo Sư. Sau khi biết rõ tất cả các pháp, Ngài đã giải thoát nhờ vào trí tuệ.
BJT 1851Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Không có gì sánh bằng trí tuệ của Ngài cho dầu là trí tuệ hạng nhất.”
BJT 1852Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín ở trí tuệ (đức Phật), tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp. Trong những kiếp còn lại, điều tốt lành đã được tôi thực hiện.
BJT 1853Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về trí tuệ.
BJT 1854Trước đây bảy mươi ba kiếp, (tôi đã là) vị độc nhất tên Pulinapupphiya, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1855Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ñāṇasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ñāṇasaññaka là phần thứ tám.
“Pabbate himavantamhi,
vasāmi pabbatantare;
Pulinaṁ sobhanaṁ disvā,
buddhaseṭṭhaṁ anussariṁ.
Ñāṇe upanidhā natthi,
saṅkhāraṁ natthi satthuno;
Sabbadhammaṁ abhiññāya,
ñāṇena adhimuccati.
Namo te purisājañña,
namo te purisuttama;
Ñāṇena te samo natthi,
yāvatā ñāṇamuttamaṁ.
Ñāṇe cittaṁ pasādetvā,
kappaṁ saggamhi modahaṁ;
Avasesesu kappesu,
kusalaṁ caritaṁ mayā.
Ekanavutito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
ñāṇasaññāyidaṁ phalaṁ.
Ito sattatikappamhi,
eko pulinapupphiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ñāṇasaññiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ñāṇasaññikattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.
Walt 1849 I resided on a mountain
in the Himalayan Mountains.
Having seen some pure white sand I
recollected the Best Buddha: Verse 1
Walt 1850 “Knowledge has no analogy;
neither does meeting the Teacher.
After learning all the Teaching
one is set free by that knowledge. Verse 2
Walt 1851 Praise to you, O Well-Bred Person!
Praise to you, Ultimate Person!
There’s no one who’s the same as you
in terms of knowledge, Best of Men.” Verse 3
Walt 1852 Having pleased my heart in knowledge,
I thrilled an aeon in heaven.
During the aeons that remained,
I completed that good karma.Verse 4
Walt 1853 In the ninety-one aeons since
I obtained that perception then,
I’ve come to know no bad rebirth:
the fruit of knowledge-perception. Verse 5
Walt 1854 In the seventy-third aeon
one named Puḷinapupphiya
was a wheel-turner with great strength,
possessor of the seven gems. Verse 6
Walt 1855 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 7
Thus indeed Venerable Ñāṇasaññaka Thera spoke these verses.
The legend of Ñāṇasaññaka Thera is finished.
BJT 1849Tôi sống trong vùng đồi núi tại núi Hi-mã-lạp. Sau khi nhìn thấy bãi cát đang chói sáng, tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng rằng:
BJT 1850“Về trí tuệ, không có gì so sánh, không có gì đối địch với bậc Đạo Sư. Sau khi biết rõ tất cả các pháp, Ngài đã giải thoát nhờ vào trí tuệ.
BJT 1851Bạch đấng Siêu Nhân, con kính lễ Ngài! Bạch đấng Tối Thượng Nhân, con kính lễ Ngài! Không có gì sánh bằng trí tuệ của Ngài cho dầu là trí tuệ hạng nhất.”
BJT 1852Sau khi làm cho tâm của mình được tịnh tín ở trí tuệ (đức Phật), tôi đã sướng vui ở cõi trời một kiếp. Trong những kiếp còn lại, điều tốt lành đã được tôi thực hiện.
BJT 1853Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng ấy trước đây chín mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về trí tuệ.
BJT 1854Trước đây bảy mươi ba kiếp, (tôi đã là) vị độc nhất tên Pulinapupphiya, là đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1855Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ñāṇasaññakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Ñāṇasaññaka là phần thứ tám.
“Pabbate himavantamhi,
vasāmi pabbatantare;
Pulinaṁ sobhanaṁ disvā,
buddhaseṭṭhaṁ anussariṁ.
Ñāṇe upanidhā natthi,
saṅkhāraṁ natthi satthuno;
Sabbadhammaṁ abhiññāya,
ñāṇena adhimuccati.
Namo te purisājañña,
namo te purisuttama;
Ñāṇena te samo natthi,
yāvatā ñāṇamuttamaṁ.
Ñāṇe cittaṁ pasādetvā,
kappaṁ saggamhi modahaṁ;
Avasesesu kappesu,
kusalaṁ caritaṁ mayā.
Ekanavutito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
ñāṇasaññāyidaṁ phalaṁ.
Ito sattatikappamhi,
eko pulinapupphiyo;
Sattaratanasampanno,
cakkavattī mahabbalo.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ñāṇasaññiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ñāṇasaññikattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.