BJT 686Đức Thế Tôn Siddhattha đã có hội chúng cư sĩ đông đảo. Những người ấy đã đi đến nương nhờ vào đức Phật, họ đặt niềm tin vào đức Như Lai.
BJT 687Tất cả đã tụ hội lại, bàn bạc, rồi xây dựng hội trường dành cho bậc Đạo Sư. Không có được một cây cột trụ, họ tìm kiếm ở khu rừng bạt ngàn.
BJT 688Khi ấy, tôi đã nhìn thấy bọn họ ở trong rừng và đã đi đến gần đám đông. Sau khi chắp tay lên, tôi đã hỏi đám đông.
BJT 689Được tôi hỏi, những người cư sĩ có giới hạnh ấy đã trả lời rằng: “Chúng tôi có ý định xây dựng hội trường nhưng không có được một cây cột trụ.”
BJT 690“Xin các vị hãy giao cho tôi, tôi sẽ dâng đến bậc Đạo Sư một cây cột trụ. Tôi sẽ mang cây cột trụ đến, các vị không phải bận tâm.”
BJT 691Họ đã xem xét cây cột trụ của tôi, và đã được tin tưởng với tâm ý hớn hở. Sau đó, họ đã quay trở lại và đã đi về nhà của mình.
BJT 692Khi ấy, lúc đám đông cư sĩ ra đi không lâu, tôi đã dâng cúng cây cột trụ. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã dựng đứng cây cột trụ trước tiên.
BJT 693Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã được sanh lên cõi trời. Có cung điện cao ráo dành cho tôi, được vươn cao một trăm tầng lầu.
BJT 694Khi ấy, tôi luôn luôn được người hầu hạ trong lúc những chiếc trống lớn được vỗ vang. (Trước đây) năm mươi lăm kiếp, tôi đã là đức vua Yasodhara.
BJT 695Ở tại nơi ấy, dành cho tôi cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu, được kề cận nhà mái nhọn cao quý, và có một cây cột trụ thích ý.
BJT 696(Trước đây) hai mươi mốt kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Udena. Ở tại nơi ấy, cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu dành cho tôi.
BJT 697Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều thọ hưởng mọi sự an lạc; điều này là quả báu của một cây cột trụ.
BJT 698Kể từ khi tôi đã dâng cúng cây cột trụ trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một cây cột trụ.
BJT 699Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekatthambhikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Siddhatthassa bhagavato,
mahāpūgagaṇo ahu;
Saraṇaṁ gatā ca te buddhaṁ,
saddahanti tathāgataṁ.
Sabbe saṅgamma mantetvā,
māḷaṁ kubbanti satthuno;
Ekatthambhaṁ alabhantā,
vicinanti brahāvane.
Tehaṁ araññe disvāna,
upagamma gaṇaṁ tadā;
Añjaliṁ paggahetvāna,
paripucchiṁ gaṇaṁ ahaṁ.
Te me puṭṭhā viyākaṁsu,
sīlavanto upāsakā;
Māḷaṁ mayaṁ kattukāmā,
ekatthambho na labbhati.
Ekatthambhaṁ mamaṁ detha,
ahaṁ dassāmi satthuno;
Āharissāmahaṁ thambhaṁ,
appossukkā bhavantu te.
Te me thambhaṁ pavecchiṁsu,
pasannā tuṭṭhamānasā;
Tato paṭinivattitvā,
agamaṁsu sakaṁ gharaṁ.
Aciraṁ gate pūgagaṇe,
thambhaṁ ahāsahaṁ tadā;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
paṭhamaṁ ussapesahaṁ.
Tena cittappasādena,
Vimānaṁ upapajjahaṁ;
Ubbiddhaṁ bhavanaṁ mayhaṁ,
Sattabhūmaṁ samuggataṁ.
Vajjamānāsu bherīsu,
paricāremahaṁ sadā;
Pañcapaññāsakappamhi,
rājā āsiṁ yasodharo.
Tatthāpi bhavanaṁ mayhaṁ,
sattabhūmaṁ samuggataṁ;
Kūṭāgāravarūpetaṁ,
ekatthambhaṁ manoramaṁ.
Ekavīsatikappamhi,
udeno nāma khattiyo;
Tatrāpi bhavanaṁ mayhaṁ,
sattabhūmaṁ samuggataṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Anubhomi sukhaṁ sabbaṁ,
ekatthambhassidaṁ phalaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ thambhamadadaṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
ekatthambhassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ekatthambhiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ekatthambhikattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.
Walt 686 The Blessed One named Siddhattha
had a large group of followers.
They had taken the lay refuge
with faith in the Thus-Gone Buddha. Verse 1
Walt 687 They all gathered and decided
to build a hut for the Teacher.
Still in need of one more pillar
they were searching the thick forest. Verse 2
Walt 688 Having seen them in the forest
I then went up to that group there.
Pressing both my hands together
I made inquiries of that group. Verse 3
Walt 689 Those morally-restrained layfolk
asked by me then gave their reply,
“we desire to build a māḷa
but we are still one pillar short.” Verse 4
Walt 690 “Give me the one pillar duty;
I will give it to the Teacher.
I will take that pillar to him,
all of you please now be at ease.” Verse 5
Walt 691 Pleased and with minds full of delight
they felled that pillar for me there,
then having turned around to leave
they went back to their own houses. Verse 6
Walt 692 Not long after that big group left
I then did give him that pillar.
I was the first one to raise it,
happy, and with a happy heart. Verse 7
Walt 693 Because of the pleasure in my heart
I was born in a god’s mansion.
That lofty residence of mine
was one hundred stories in height. Verse 8
Walt 694 When the drums are being beaten,
I am then being entertained.
I was the king, Yasodhara,
in the fifty-fifth aeon thence. Verse 9
Walt 695 There too I had a residence
which was seven stories in height.
Appointed with fine gabled cells
there was one pillar, mind’s delight. Verse 10
Walt 696 In the twenty-first aeon thence
I was the king known as Udena.
There too I had a residence
which was a hundred stories tall. Verse 11
Walt 697 In whichever womb I’m reborn,
whether it’s human or divine,
I experience all of that;
that is the fruit of one pillar. Verse 12
Walt 698 In the ninety-four aeons since
I gave him that pillar back then,
I’ve come to know no bad rebirth;
that is the fruit of one pillar. Verse 13
Walt 699 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 14
Thus indeed Venerable Ekatthambhika Thera spoke these verses.
The legend of Ekatthambhika Thera is finished.
BJT 686Đức Thế Tôn Siddhattha đã có hội chúng cư sĩ đông đảo. Những người ấy đã đi đến nương nhờ vào đức Phật, họ đặt niềm tin vào đức Như Lai.
BJT 687Tất cả đã tụ hội lại, bàn bạc, rồi xây dựng hội trường dành cho bậc Đạo Sư. Không có được một cây cột trụ, họ tìm kiếm ở khu rừng bạt ngàn.
BJT 688Khi ấy, tôi đã nhìn thấy bọn họ ở trong rừng và đã đi đến gần đám đông. Sau khi chắp tay lên, tôi đã hỏi đám đông.
BJT 689Được tôi hỏi, những người cư sĩ có giới hạnh ấy đã trả lời rằng: “Chúng tôi có ý định xây dựng hội trường nhưng không có được một cây cột trụ.”
BJT 690“Xin các vị hãy giao cho tôi, tôi sẽ dâng đến bậc Đạo Sư một cây cột trụ. Tôi sẽ mang cây cột trụ đến, các vị không phải bận tâm.”
BJT 691Họ đã xem xét cây cột trụ của tôi, và đã được tin tưởng với tâm ý hớn hở. Sau đó, họ đã quay trở lại và đã đi về nhà của mình.
BJT 692Khi ấy, lúc đám đông cư sĩ ra đi không lâu, tôi đã dâng cúng cây cột trụ. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã dựng đứng cây cột trụ trước tiên.
BJT 693Do sự tịnh tín ấy ở trong tâm, tôi đã được sanh lên cõi trời. Có cung điện cao ráo dành cho tôi, được vươn cao một trăm tầng lầu.
BJT 694Khi ấy, tôi luôn luôn được người hầu hạ trong lúc những chiếc trống lớn được vỗ vang. (Trước đây) năm mươi lăm kiếp, tôi đã là đức vua Yasodhara.
BJT 695Ở tại nơi ấy, dành cho tôi cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu, được kề cận nhà mái nhọn cao quý, và có một cây cột trụ thích ý.
BJT 696(Trước đây) hai mươi mốt kiếp, (tôi đã là) vị Sát-đế-lỵ tên Udena. Ở tại nơi ấy, cũng có cung điện được vươn cao một trăm tầng lầu dành cho tôi.
BJT 697Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, tôi đều thọ hưởng mọi sự an lạc; điều này là quả báu của một cây cột trụ.
BJT 698Kể từ khi tôi đã dâng cúng cây cột trụ trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của một cây cột trụ.
BJT 699Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Ekatthambhikađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
“Siddhatthassa bhagavato,
mahāpūgagaṇo ahu;
Saraṇaṁ gatā ca te buddhaṁ,
saddahanti tathāgataṁ.
Sabbe saṅgamma mantetvā,
māḷaṁ kubbanti satthuno;
Ekatthambhaṁ alabhantā,
vicinanti brahāvane.
Tehaṁ araññe disvāna,
upagamma gaṇaṁ tadā;
Añjaliṁ paggahetvāna,
paripucchiṁ gaṇaṁ ahaṁ.
Te me puṭṭhā viyākaṁsu,
sīlavanto upāsakā;
Māḷaṁ mayaṁ kattukāmā,
ekatthambho na labbhati.
Ekatthambhaṁ mamaṁ detha,
ahaṁ dassāmi satthuno;
Āharissāmahaṁ thambhaṁ,
appossukkā bhavantu te.
Te me thambhaṁ pavecchiṁsu,
pasannā tuṭṭhamānasā;
Tato paṭinivattitvā,
agamaṁsu sakaṁ gharaṁ.
Aciraṁ gate pūgagaṇe,
thambhaṁ ahāsahaṁ tadā;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
paṭhamaṁ ussapesahaṁ.
Tena cittappasādena,
Vimānaṁ upapajjahaṁ;
Ubbiddhaṁ bhavanaṁ mayhaṁ,
Sattabhūmaṁ samuggataṁ.
Vajjamānāsu bherīsu,
paricāremahaṁ sadā;
Pañcapaññāsakappamhi,
rājā āsiṁ yasodharo.
Tatthāpi bhavanaṁ mayhaṁ,
sattabhūmaṁ samuggataṁ;
Kūṭāgāravarūpetaṁ,
ekatthambhaṁ manoramaṁ.
Ekavīsatikappamhi,
udeno nāma khattiyo;
Tatrāpi bhavanaṁ mayhaṁ,
sattabhūmaṁ samuggataṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Anubhomi sukhaṁ sabbaṁ,
ekatthambhassidaṁ phalaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ thambhamadadaṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
ekatthambhassidaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
vimokkhāpi ca aṭṭhime;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā ekatthambhiko thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Ekatthambhikattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.