BJT 4738Đấng Toàn Giác có màu da vàng chói, có ba mươi hai hảo tướng tợ như cây sālāchúa đã được trổ hoa, đang di chuyển ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng bao la.
BJT 4739Tôi đã xếp đặt tấm trải cỏ và đã cầu xin đức Phật tối thượng rằng: “Xin đức Phật hãy thương tưởng đến con, con muốn dâng cúng vật thực.”
BJT 4740Sau khi biết được ý định của tôi, đấng Bi Mẫn, vị có lòng thương tưởng, có danh tiếng lớn lao Atthadassī đã ngự xuống khu ẩn cư của tôi.
BJT 4741Sau khi ngự xuống, đấng Toàn Giác đã ngồi xuống ở tấm thảm lá cỏ. Tôi đã cầm lấy trái cây bhallātakavà đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
BJT 4742Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, tôi đã đảnh lễ đấng Chiến Thắng.
BJT 4743Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 4744Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4745Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4746Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Bhallātakadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Bhallātakadāyaka là phần thứ tư.
“Suvaṇṇavaṇṇaṁ sambuddhaṁ,
Dvattiṁsavaralakkhaṇaṁ;
Vipinaggena gacchantaṁ,
Sālarājaṁva phullitaṁ.
Tiṇattharaṁ paññāpetvā,
buddhaseṭṭhaṁ ayācahaṁ;
‘Anukampatu maṁ buddho,
bhikkhaṁ icchāmi dātave’.
Anukampako kāruṇiko,
atthadassī mahāyaso;
Mama saṅkappamaññāya,
orūhi mama assame.
Orohitvāna sambuddho,
nisīdi paṇṇasanthare;
Bhallātakaṁ gahetvāna,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ.
Mama nijjhāyamānassa,
paribhuñji tadā jino;
Tattha cittaṁ pasādetvā,
abhivandiṁ tadā jinaṁ.
Aṭṭhārase kappasate,
yaṁ phalamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā bhallātadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Bhallātadāyakattherassāpadānaṁ catutthaṁ.
Walt 4738-4739Spreading out a rug made of grass
for the Gold-Colored Sambuddha,
Bearing the Thirty-two Great Marks,
flying along the forest top,
like a regal sal tree in bloom,
I asked him, the Best of Buddhas:
“let the Buddha show me mercy;
I would like to give you alms food.” Verse 1-2
Walt 4740 Merciful, Compassionate One,
Atthadassi, Greatly Famed One,
discerning what I was thinking,
descended to my hermitage. Verse 3
Walt 4741 Descending, the Sambuddha then
sat down on that mat made of leaves.
Having taken some markingnut,
I gave it to the Best Buddha. Verse 4
Walt 4742 While I meditated on him,
the Victor then consumed that fruit.
Bringing pleasure to my heart there,
I then worshipped him, the Victor. Verse 5
Walt 4743 In the eighteen hundred aeons
since I gave him that fruit back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that is the fruit of giving fruit. Verse 6
Walt 4744 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 7
Walt 4745 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Walt 4746 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 9
Thus indeed Venerable Bhallāṭakadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Bhallāṭakadāyaka Thera is finished.
BJT 4738Đấng Toàn Giác có màu da vàng chói, có ba mươi hai hảo tướng tợ như cây sālāchúa đã được trổ hoa, đang di chuyển ở phía trên chóp đỉnh của khu rừng bao la.
BJT 4739Tôi đã xếp đặt tấm trải cỏ và đã cầu xin đức Phật tối thượng rằng: “Xin đức Phật hãy thương tưởng đến con, con muốn dâng cúng vật thực.”
BJT 4740Sau khi biết được ý định của tôi, đấng Bi Mẫn, vị có lòng thương tưởng, có danh tiếng lớn lao Atthadassī đã ngự xuống khu ẩn cư của tôi.
BJT 4741Sau khi ngự xuống, đấng Toàn Giác đã ngồi xuống ở tấm thảm lá cỏ. Tôi đã cầm lấy trái cây bhallātakavà đã dâng cúng đến đức Phật tối thượng.
BJT 4742Khi ấy, đấng Chiến Thắng đã thọ dụng trong lúc tôi đang trầm tư. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín, tôi đã đảnh lễ đấng Chiến Thắng.
BJT 4743Kể từ khi tôi đã dâng cúng trái cây trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc dâng cúng trái cây.
BJT 4744Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 4745Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 4746Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Bhallātakadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Bhallātakadāyaka là phần thứ tư.
“Suvaṇṇavaṇṇaṁ sambuddhaṁ,
Dvattiṁsavaralakkhaṇaṁ;
Vipinaggena gacchantaṁ,
Sālarājaṁva phullitaṁ.
Tiṇattharaṁ paññāpetvā,
buddhaseṭṭhaṁ ayācahaṁ;
‘Anukampatu maṁ buddho,
bhikkhaṁ icchāmi dātave’.
Anukampako kāruṇiko,
atthadassī mahāyaso;
Mama saṅkappamaññāya,
orūhi mama assame.
Orohitvāna sambuddho,
nisīdi paṇṇasanthare;
Bhallātakaṁ gahetvāna,
buddhaseṭṭhassadāsahaṁ.
Mama nijjhāyamānassa,
paribhuñji tadā jino;
Tattha cittaṁ pasādetvā,
abhivandiṁ tadā jinaṁ.
Aṭṭhārase kappasate,
yaṁ phalamadadiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
phaladānassidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā bhallātadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Bhallātadāyakattherassāpadānaṁ catutthaṁ.