BJT 1239Sau khi cho thực hiện cây cột trụ dành cho đức Thế Tôn Siddhattha, bậc Trưởng Thượng của thế gian như thế ấy, tôi đã phủ lên bằng các bông hoa nhài
BJT 1240Sau khi làm hoàn tất, tôi đã đem bông hoa ấy lại gần đức Phật. Tôi đã cầm lấy phần còn lại của bông hoa và đã dâng lên đức Phật.
BJT 1241Đức Phật, đấng Lãnh Đạo cao cả của thế gian trông tợ như cây cột trụ bằng vàng. Với tâm tịnh tín, với ý vui mừng, tôi đã dâng tặng cây cột trụ bông hoa đến Ngài.
BJT 1242Đấng Toàn Giác, bậc có sự nghi hoặc đã được loại trừ, được tháp tùng bởi những vị đã vượt qua các bộc lưu, sau khi ngồi xuống ở Hội Chúng tỳ khưu đã nói lên những lời kệ này:
BJT 1243“Người nào đã dâng cúng cột trụ bông hoa đang tỏa ra mùi hương của cõi trời đến Ta, Ta sẽ tán dương người ấy. Các người hãy lắng nghe Ta nói.
BJT 1244Mệnh chung ở đây, người nam này sẽ đi đến thế giới chư Thiên, (và sẽ) được hội chúng chư Thiên tôn trọng, được các bông hoa nhài phủ quanh.
BJT 1245Được phát khởi từ nghiệp phước thiện, có chỗ trú ngụ cao vút làm bằng vàng và ngọc ma-ni, có cung điện sẽ được hiện ra cho vị ấy.
BJT 1246Người ấy sẽ cai quản Thiên quốc bảy mươi bốn kiếp và sẽ thọ hưởng sự thành đạt, được các tiên nữ trọng vọng.
BJT 1247(Người ấy) sẽ ngự trị quốc độ thuộc đất liền ở trái đất ba trăm lần, và sẽ trở thành đấng Chuyển Luân Vương bảy mươi lăm lần.
BJT 1248(Người ấy) sẽ trở thành vị thống lãnh nhân loại tên là Dujjaya. Được nương tựa vào nghiệp của chính mình, (người ấy) sẽ thọ hưởng phước báu ấy.
BJT 1249(Người ấy) sẽ không đi đến đọa xứ và sẽ đi đến bản thể nhân loại. Và số vàng không ít hơn một trăm koṭi (một tỷ) sẽ được tích lũy (cho người ấy).
BJT 1250Người ấy sẽ sanh vào dòng dõi Bà-la-môn và sẽ là người con trai ruột thông minh yêu dấu của (Bà-la-môn) Vaṅganta và bà Sārī.
BJT 1251Và về sau, người ấy sẽ xuất gia trong Giáo Pháp của đức Aṅgīrasa (Phật Gotama) và sẽ trở thành Thinh Văn của bậc Đạo Sư có tên là Cūlacunda.
BJT 1252Người ấy sẽ trở thành bậc có lậu hoặc được đoạn tận ngay khi còn là vị sa-di. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, người ấy sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 1253Tôi đã phục vụ đấng Đại Hùng và nhiều vị hiền đức khác, và tôi đã hầu cận người anh trai của tôi nhằm đạt đến mục đích tối thượng.
BJT 1254Tôi đã phục vụ người anh trai của tôi, tôi đã đặt xá-lợi (của anh tôi) ở trong bình bát và đã trình lên đấng Toàn Giác, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu.
BJT 1255Đức Phật ở thế gian luôn cả chư Thiên đã cầm lấy bằng hai tay, và trong khi phô bày xá-lợi ấy Ngài đã tán dương vị Thinh Văn hàng đầu.
BJT 1256Tâm của tôi đã khéo được giải thoát, đức tin của tôi đã được thiết lập. Sau khi biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc, tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 1257Bốn (tuệ) phân tích, ―(như trên)― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Cunda đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Cunda là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Upāli, vị Soṇa, vị Bhaddiya, vị Sanniṭṭhāpaka, vị Hatthiya, mái che, giường nằm, đường kinh hành, vị Subhadda, vị tên Cunda; (tổng cộng) có một trăm bốn mươi câu kệ và bốn câu thêm vào đó.
Phẩm Upāli là phẩm thứ năm.
“Siddhatthassa bhagavato,
lokajeṭṭhassa tādino;
Agghiyaṁ kārayitvāna,
jātipupphehi chādayiṁ.
Niṭṭhāpetvāna taṁ pupphaṁ,
buddhassa upanāmayiṁ;
Pupphāvasesaṁ paggayha,
buddhassa abhiropayiṁ.
Kañcanagghiyasaṅkāsaṁ,
buddhaṁ lokagganāyakaṁ;
Pasannacitto sumano,
pupphagghiyamupānayiṁ.
Vitiṇṇakaṅkho sambuddho,
tiṇṇoghehi purakkhato;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā,
imā gāthā abhāsatha.
‘Dibbagandhaṁ pavāyantaṁ,
yo me pupphagghiyaṁ adā;
Tamahaṁ kittayissāmi,
suṇātha mama bhāsato.
Ito cuto ayaṁ poso,
devasaṅghapurakkhato;
Jātipupphehi parikiṇṇo,
devalokaṁ gamissati.
Ubbiddhaṁ bhavanaṁ tassa,
Sovaṇṇañca maṇīmayaṁ;
Byamhaṁ pātubhavissati,
Puññakammappabhāvitaṁ.
Catusattatikkhattuṁ so,
devarajjaṁ karissati;
Anubhossati sampattiṁ,
accharāhi purakkhato.
Pathabyā rajjaṁ tisataṁ,
vasudhaṁ āvasissati;
Pañcasattatikkhattuñca,
cakkavattī bhavissati.
Dujjayo nāma nāmena,
hessati manujādhipo;
Anubhotvāna taṁ puññaṁ,
sakakammaṁ apassito.
Vinipātaṁ agantvāna,
manussattaṁ gamissati;
Hiraññaṁ tassa nicitaṁ,
koṭisatamanappakaṁ.
Nibbattissati yonimhi,
brāhmaṇe so bhavissati;
Vaṅgantassa suto dhīmā,
sāriyā oraso piyo.
So ca pacchā pabbajitvā,
aṅgīrasassa sāsane;
Cūḷacundoti nāmena,
hessati satthu sāvako.
Sāmaṇerova so santo,
khīṇāsavo bhavissati;
Sabbāsave pariññāya,
nibbāyissatināsavo’.
Upaṭṭhahiṁ mahāvīraṁ,
aññe ca pesale bahū;
Bhātaraṁ me cupaṭṭhāsiṁ,
uttamatthassa pattiyā.
Bhātaraṁ me upaṭṭhitvā,
dhātuṁ pattamhi ohiya;
Sambuddhaṁ upanāmesiṁ,
lokajeṭṭhaṁ narāsabhaṁ.
Ubho hatthehi paggayha,
buddho loke sadevake;
Sandassayanto taṁ dhātuṁ,
kittayi aggasāvakaṁ.
Cittañca suvimuttaṁ me,
saddhā mayhaṁ patiṭṭhitā;
Sabbāsave pariññāya,
viharāmi anāsavo.
Paṭisambhidānuppattā,
Vimokkhāpi ca phassitā;
Chaḷabhiññā sacchikatā,
Kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā cundo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Cundattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Upālivaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Upāli soṇo bhaddiyo,
sanniṭṭhāpakahatthiyo;
Chadanaṁ seyyacaṅkamaṁ,
subhaddo cundasavhayo;
Gāthāsataṁ satālīsaṁ,
catasso ca taduttari.
Walt 1239 Having had a festoon work made
for the World’s Best, the Neutral One,
the Blessed One named Siddhattha,
I covered it with jasmine flowers. Verse 1
Walt 1240 After I finished placing flowers,
I then gave it to the Buddha.
Picking up the remaining flowers,
I offered them to the Buddha. Verse 2
Walt 1241 Happy, with pleasure in my heart
I gave that floral festoon work
to the Buddha, World’s Chief Leader,
like a festoon work made of gold. Verse 3
Walt 1242 The Sambuddha, With Doubt Dispelled,
Honored by Those Who’ve Crossed the Flood,
seated in the monks’ Assembly,
spoke these verses about me then: Verse 4
Walt 1243 “I’ll relate details of him who
gave me a floral festoon work
permeated with divine scents;
all of you listen to my words: Verse 5
Walt 1244 When he’s fallen from here, this man
will go on to the world of gods,
a god-assembly around him,
scattered with jasmine flowers there. Verse 6
Walt 1245 His residence, jutting up tall,
will be made of gold and gemstones.
That divine mansion will blaze forth,
illumined by his good karma. Verse 7
Walt 1246 He will exercise divine rule
seventy-four different times.
Waited on by celestial nymphs,
he will enjoy great happiness. Verse 8
Walt 1247 He will reside upon the earth
and have three hundred earthly reigns.
Five hundred times he’s going to be
a king who turns the wheel of law. Verse 9
Walt 1248 He will be a human monarch
known by the name of Dujjaya.
He’ll experience that merit
without knowing his own karma. Verse 10
Walt 1249 Not going to a place of grief
he will go to a human state.
There will be heaps of gold for him,
very much, counted in billions. Verse 11
Walt 1250 He will be reborn in the world;
he will then be a brahmin man,
beloved own son of Sārī,
and the wise son of Vaṅgata. Verse 12
Walt 1251 Then he’ll go forth in the Shiny-
Bodied Buddha’s dispensation.
His name will be Cūlacunda,
a follower of the Teacher. Verse 13
Walt 1252 Even when he is a novice,
he will become an arahant.
Knowing well all the defilements
he’ll reach nirvana, undefiled.” Verse 14
Walt 1253 To attain the ultimate goal
I waited on my own brother,
the Great Hero who’d arisen,
and many pleasant others, too. Verse 15
Walt 1254 Serving my brother, when he died,
I put his relics in his bowl
and gave it to the Sambuddha,
the World’s Best One, the Bull of Men. Verse 16
Walt 1255 The Buddha in this world with gods
picked up that bowl with both his hands.
Paying respect to those relics,
he praised the top follower then. Verse 17
Walt 1256 My mind is now completely freed
and faith is established in me.
Knowing well all the defilements,
I am now living, undefiled. Verse 18
Walt 1257 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 19
Thus indeed Venerable Cunda Thera spoke these verses.
The legend of Cunda Thera is finished.
The Summary:
Upāli, Soṇa, Bhaddiya,
Sannidhāpaka, Hatthiya,
Chadana, Seyya-Cankamaṁ
Subhadda, the one named Cunda:
one hundred and forty verses
and another four besides those.
The Upāli Chapter, the Fifth.