Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Hãy tinh tấn và cắt đứt sợi dây, loại bỏ sự tiếp nối, này Bà-la-môn,
biết sự diệt tận của các pháp hữu vi, ngươi là… Bà-la-môn.
Vị mà từ đó người ta học Pháp, dù già hay trẻ,
hãy cung kính đảnh lễ vị ấy, như Bà-la-môn đảnh lễ lễ tế lửa.
Vị mà từ đó người ta học Pháp do Bậc Chánh Đẳng Giác giảng dạy,
ngươi nên tôn kính vị ấy, như Bà-la-môn tôn kính lễ tế lửa.
Không phải vì tóc bện, dòng họ hay sự sinh ra mà một người là Bà-la-môn chân chính,
người nào ngăn chặn điều ác, dù nhỏ hay lớn, bằng mọi cách,
nhờ ngăn chặn điều ác, người ấy được gọi là Bà-la-môn.
Như nước trên lá sen, như hạt cải trên đầu kim,
người nào không bị dục vọng làm ô nhiễm, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Mặt trời rạng rỡ khi mọc, mặt trăng chiếu sáng ban đêm,
vị quý tộc trang bị vũ khí thì rạng rỡ, Bà-la-môn thiền định thì rạng rỡ,
nhưng suốt ngày đêm Đức Phật rạng rỡ nhờ uy lực của Ngài.
Đối với người mà bờ bên này, bờ bên kia hay cả hai đều không tồn tại,
không còn phiền não, không chấp trước, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Khi một Bà-la-môn đã vượt qua, nhờ hai điều,
thì, đối với người biết, tất cả các kiết sử đều được an nghỉ.
Người nào đã phá hủy kiết sử, phá hủy ngã mạn và sự tiếp nối sinh tồn,
sống trong Tăng-già, đứng vững trong Pháp, người có trí tuệ không gần gũi xã hội.
Bất cứ ai nói lời chân thật có hiểu biết và không thô tục,
nhờ đó không ai bị nguyền rủa, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Bất cứ ai không hòa lẫn với cư sĩ hay người không nhà,
lang thang không nhà, với ít dục vọng, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Đối với người mà không có ác nghiệp về thân, khẩu hay ý,
được kiềm chế trong ba điều này, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Một Bà-la-môn không nên đánh một Bà-la-môn khác, cũng không nên bỏ rơi người ấy,
khốn thay cho người đánh một Bà-la-môn, và cho người không bỏ rơi người ấy.
Phá hủy mẹ trước, và sau đó là hai vị vua cao quý,
phá hủy một vương quốc và những người theo nó, Bà-la-môn sống không phiền não.
Bậc trí tuệ sâu sắc, thông thái, thành thạo trong điều là đạo và không phải đạo,
đã đạt đến điều thiện tối thượng, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Người thiền định đang ngồi, người không còn bụi trần, đã hoàn thành bổn phận của mình, không còn ô nhiễm,
đã đạt đến điều thiện tối thượng, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Strive and cut off the thread, remove continuity, brahmin,
knowing the destruction of the conditioned, you are … brahmin
That one from whom one learned Dhamma, whether old or young,
with respect bow down to him, like a brahmin bows at fire-sacrifice.
That one from whom one learned Dhamma taught by the Perfect Sambuddha,
you should honor him, like a brahmin honors the fire-sacrifice.
Not because of matted hair, family or birth is one a true brahmin,
he who wards off wickedness, small or great, in every way,
through warding off wickedness, he is called a brahmin.
Like water on the lotus leaf, like a mustard seed on a needle,
he who is unsmeared by desires, that one I say is a brahmin.
The sun is radiant when it rises, the moon shines by night,
the accoutred noble is radiant, the meditating brahmin is radiant,
yet during every day and night the Buddha is radiant through his power.
For whom the near shore, the far shore or both do not exist,
free of fever, detached, that one I say is a brahmin.
When a brahmin has, through two things, crossed over,
then, for one who knows, all the fetters are laid to rest.
He who destroyed the fetter, destroyed conceit and continued existence,
living in the Community, standing by Dhamma, the knowing one does not approach society.
Whoever should speak a word of truth that is informed and is not coarse,
through which no one would be cursed, that one I say is a brahmin.
Whoever doesn’t mix with either householders or the houseless,
wandering homeless, with few desires, that one I say is a brahmin.
For whom there is no wrong-doing bodily, verbally or mentally,
being restrained in these three things, that one I say is a brahmin.
A brahmin should not hit a brahmin, nor should he abandon him,
woe to the one who strikes a brahmin, and to the one who does not abandon him.
Destroying mother first, and then two noble kings,
destroying a kingdom and its followers, the brahmin lives untroubled.
The deeply wise sagacious one, skilled in what is path and not path,
who has reached the ultimate good, that one I say is a brahmin.
The meditator sitting down, the one who is dustless, who has done his duty, without pollutants,
who has reached the ultimate good, that one I say is a brahmin.
The Chapter about Brahmins
Hãy tinh tấn và cắt đứt sợi dây, loại bỏ sự tiếp nối, này Bà-la-môn,
biết sự diệt tận của các pháp hữu vi, ngươi là… Bà-la-môn.
Vị mà từ đó người ta học Pháp, dù già hay trẻ,
hãy cung kính đảnh lễ vị ấy, như Bà-la-môn đảnh lễ lễ tế lửa.
Vị mà từ đó người ta học Pháp do Bậc Chánh Đẳng Giác giảng dạy,
ngươi nên tôn kính vị ấy, như Bà-la-môn tôn kính lễ tế lửa.
Không phải vì tóc bện, dòng họ hay sự sinh ra mà một người là Bà-la-môn chân chính,
người nào ngăn chặn điều ác, dù nhỏ hay lớn, bằng mọi cách,
nhờ ngăn chặn điều ác, người ấy được gọi là Bà-la-môn.
Như nước trên lá sen, như hạt cải trên đầu kim,
người nào không bị dục vọng làm ô nhiễm, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Mặt trời rạng rỡ khi mọc, mặt trăng chiếu sáng ban đêm,
vị quý tộc trang bị vũ khí thì rạng rỡ, Bà-la-môn thiền định thì rạng rỡ,
nhưng suốt ngày đêm Đức Phật rạng rỡ nhờ uy lực của Ngài.
Đối với người mà bờ bên này, bờ bên kia hay cả hai đều không tồn tại,
không còn phiền não, không chấp trước, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Khi một Bà-la-môn đã vượt qua, nhờ hai điều,
thì, đối với người biết, tất cả các kiết sử đều được an nghỉ.
Người nào đã phá hủy kiết sử, phá hủy ngã mạn và sự tiếp nối sinh tồn,
sống trong Tăng-già, đứng vững trong Pháp, người có trí tuệ không gần gũi xã hội.
Bất cứ ai nói lời chân thật có hiểu biết và không thô tục,
nhờ đó không ai bị nguyền rủa, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Bất cứ ai không hòa lẫn với cư sĩ hay người không nhà,
lang thang không nhà, với ít dục vọng, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Đối với người mà không có ác nghiệp về thân, khẩu hay ý,
được kiềm chế trong ba điều này, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Một Bà-la-môn không nên đánh một Bà-la-môn khác, cũng không nên bỏ rơi người ấy,
khốn thay cho người đánh một Bà-la-môn, và cho người không bỏ rơi người ấy.
Phá hủy mẹ trước, và sau đó là hai vị vua cao quý,
phá hủy một vương quốc và những người theo nó, Bà-la-môn sống không phiền não.
Bậc trí tuệ sâu sắc, thông thái, thành thạo trong điều là đạo và không phải đạo,
đã đạt đến điều thiện tối thượng, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Người thiền định đang ngồi, người không còn bụi trần, đã hoàn thành bổn phận của mình, không còn ô nhiễm,
đã đạt đến điều thiện tối thượng, người ấy, Ta nói là Bà-la-môn.
Strive and cut off the thread, remove continuity, brahmin,
knowing the destruction of the conditioned, you are … brahmin
That one from whom one learned Dhamma, whether old or young,
with respect bow down to him, like a brahmin bows at fire-sacrifice.
That one from whom one learned Dhamma taught by the Perfect Sambuddha,
you should honor him, like a brahmin honors the fire-sacrifice.
Not because of matted hair, family or birth is one a true brahmin,
he who wards off wickedness, small or great, in every way,
through warding off wickedness, he is called a brahmin.
Like water on the lotus leaf, like a mustard seed on a needle,
he who is unsmeared by desires, that one I say is a brahmin.
The sun is radiant when it rises, the moon shines by night,
the accoutred noble is radiant, the meditating brahmin is radiant,
yet during every day and night the Buddha is radiant through his power.
For whom the near shore, the far shore or both do not exist,
free of fever, detached, that one I say is a brahmin.
When a brahmin has, through two things, crossed over,
then, for one who knows, all the fetters are laid to rest.
He who destroyed the fetter, destroyed conceit and continued existence,
living in the Community, standing by Dhamma, the knowing one does not approach society.
Whoever should speak a word of truth that is informed and is not coarse,
through which no one would be cursed, that one I say is a brahmin.
Whoever doesn’t mix with either householders or the houseless,
wandering homeless, with few desires, that one I say is a brahmin.
For whom there is no wrong-doing bodily, verbally or mentally,
being restrained in these three things, that one I say is a brahmin.
A brahmin should not hit a brahmin, nor should he abandon him,
woe to the one who strikes a brahmin, and to the one who does not abandon him.
Destroying mother first, and then two noble kings,
destroying a kingdom and its followers, the brahmin lives untroubled.
The deeply wise sagacious one, skilled in what is path and not path,
who has reached the ultimate good, that one I say is a brahmin.
The meditator sitting down, the one who is dustless, who has done his duty, without pollutants,
who has reached the ultimate good, that one I say is a brahmin.
The Chapter about Brahmins