BJT 1096Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian Sikhī, bậc cao quý trong số các vị đang thuyết giảng, đã Niết Bàn, tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã đảnh lễ ngôi bảo tháp tối thượng.
BJT 1097Khi ấy, sau khi thảo luận với những người thợ mộc, tôi đã dâng cúng phần tài chánh. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã cho xây dựng ngôi sảnh đường dài.
BJT 1098Tôi đã sống ở giữa chư Thiên tám kiếp không bị gián đoạn. Trong các kiếp còn lại, tôi đã luân hồi xen kẽ (giữa cõi trời và cõi người).
BJT 1099Chất độc không ngấm vào cơ thể, các loại vũ khí không hãm hại được tôi, tôi không bị chết đuối ở trong nước; điều này là quả báu của ngôi sảnh đường dài.
BJT 1100Nếu tôi ao ước cơn mưa thì có đám mây lớn đổ mưa xuống, ngay cả chư Thiên cũng chịu sự điều khiển của tôi; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 1101Tôi đã là (đấng Chuyển Luân Vương) được thành tựu bảy loại châu báu ba mươi lần, không người nào chê bai tôi; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 1102(Kể từ khi) tôi đã cho thực hiện ngôi sảnh đường dài trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ngôi sảnh đường dài.
BJT 1103Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Āyāgadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Āyāgadāyaka là phần thứ tám.
“Nibbute lokanāthamhi,
sikhimhi vadataṁ vare;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
avandiṁ thūpamuttamaṁ.
Vaḍḍhakīhi kathāpetvā,
mūlaṁ datvānahaṁ tadā;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
āyāgaṁ kārapesahaṁ.
Aṭṭha kappāni devesu,
abbokiṇṇaṁ vasiṁ ahaṁ;
Avasesesu kappesu,
vokiṇṇaṁ saṁsariṁ ahaṁ.
Kāye visaṁ na kamati,
satthāni na ca hanti me;
Udakehaṁ na miyyāmi,
āyāgassa idaṁ phalaṁ.
Yadicchāmi ahaṁ vassaṁ,
mahāmegho pavassati;
Devāpi me vasaṁ enti,
puññakammassidaṁ phalaṁ.
Sattaratanasampanno,
tiṁsakkhattuṁ ahosahaṁ;
Na maṁ kecāvajānanti,
puññakammassidaṁ phalaṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
āyāgaṁ yamakārayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
āyāgassa idaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā āyāgadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Āyāgadāyakattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.
Walt 1096 When the World’s Protector had died,
Sikhi Buddha, Best Debater,
I worshipped his superb stupa,
happy, and with a happy heart. Verse 1
Walt 1097 Having spoken with the workmen
I provided the capital;
I constructed an eating hall,
happy, and with a happy heart. Verse 2
Walt 1098 After that I lived among gods
for eight aeons without a break.
In the remaining aeons I
transmigrated in a mixture. Verse 3
Walt 1099 Poisons don’t enter my body,
enemies are not hurting me,
I do not sink down in water:
that’s the fruit of an eating hall. Verse 4
Walt 1100 A massive cloud rains heavy rain
whenever I may wish for it.
Even gods visit my dwelling;
that is the fruit of good karma. Verse 5
Walt 1101 Thirty times as wheel-turning kings,
possessors of the seven gems;
no one at all despises me:
that is the fruit of good karma. Verse 6
Walt 1102 In the thirty-one aeons since
I had that hall for eating made,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of an eating hall. Verse 7
Walt 1103 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 8
Thus indeed Venerable Āyāgadāyaka Thera spoke these verses.
The legend of Āyāgadāyaka Thera is finished.
BJT 1096Khi đấng Bảo Hộ Thế Gian Sikhī, bậc cao quý trong số các vị đang thuyết giảng, đã Niết Bàn, tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã đảnh lễ ngôi bảo tháp tối thượng.
BJT 1097Khi ấy, sau khi thảo luận với những người thợ mộc, tôi đã dâng cúng phần tài chánh. Tôi đã trở nên mừng rỡ, với tâm mừng rỡ tôi đã cho xây dựng ngôi sảnh đường dài.
BJT 1098Tôi đã sống ở giữa chư Thiên tám kiếp không bị gián đoạn. Trong các kiếp còn lại, tôi đã luân hồi xen kẽ (giữa cõi trời và cõi người).
BJT 1099Chất độc không ngấm vào cơ thể, các loại vũ khí không hãm hại được tôi, tôi không bị chết đuối ở trong nước; điều này là quả báu của ngôi sảnh đường dài.
BJT 1100Nếu tôi ao ước cơn mưa thì có đám mây lớn đổ mưa xuống, ngay cả chư Thiên cũng chịu sự điều khiển của tôi; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 1101Tôi đã là (đấng Chuyển Luân Vương) được thành tựu bảy loại châu báu ba mươi lần, không người nào chê bai tôi; điều này là quả báu của nghiệp phước thiện.
BJT 1102(Kể từ khi) tôi đã cho thực hiện ngôi sảnh đường dài trước đây ba mươi mốt kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của ngôi sảnh đường dài.
BJT 1103Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Āyāgadāyakađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Āyāgadāyaka là phần thứ tám.
“Nibbute lokanāthamhi,
sikhimhi vadataṁ vare;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
avandiṁ thūpamuttamaṁ.
Vaḍḍhakīhi kathāpetvā,
mūlaṁ datvānahaṁ tadā;
Haṭṭho haṭṭhena cittena,
āyāgaṁ kārapesahaṁ.
Aṭṭha kappāni devesu,
abbokiṇṇaṁ vasiṁ ahaṁ;
Avasesesu kappesu,
vokiṇṇaṁ saṁsariṁ ahaṁ.
Kāye visaṁ na kamati,
satthāni na ca hanti me;
Udakehaṁ na miyyāmi,
āyāgassa idaṁ phalaṁ.
Yadicchāmi ahaṁ vassaṁ,
mahāmegho pavassati;
Devāpi me vasaṁ enti,
puññakammassidaṁ phalaṁ.
Sattaratanasampanno,
tiṁsakkhattuṁ ahosahaṁ;
Na maṁ kecāvajānanti,
puññakammassidaṁ phalaṁ.
Ekattiṁse ito kappe,
āyāgaṁ yamakārayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
āyāgassa idaṁ phalaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā āyāgadāyako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Āyāgadāyakattherassāpadānaṁ aṭṭhamaṁ.