BJT 1110Ở phía trước ngôi bảo tháp tối thượng của đức Thế Tôn Siddhattha, tôi đã treo giăng những tấm vải nhiều màu sắc và đã thiết lập cây như ý.
BJT 1111Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, có cây như ý rực rỡ hiện diện ở cánh cửa lớn của tôi.
BJT 1112Tôi và luôn cả nhóm tùy tùng là những người sống nương tựa vào tôi, chúng tôi luôn luôn lấy vải từ cây như ý ấy rồi mặc vào.
BJT 1113Kể từ khi tôi đã thiết lập cây (như ý) trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cây như ý.
BJT 1114Và trước đây vào kiếp thứ bảy, đã có tám vị Sát-đế-lỵ tên Suceḷa, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1115Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kapparukkhiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kapparukkhiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Kuṇḍa, vị Sāgata, vị Kaccāna, vị Udāyi, vị Mogharāja, vị Adhimutta, vị dâng cúng củ tỏi, vị có sảnh đường dài, vị liên quan bánh xe Pháp, và vị có cây như ý là thứ mười, (tổng cộng) là một ngàn hai trăm câu kệ.
Phẩm Kuṇḍadhāna là phẩm thứ tư.
“Siddhatthassa bhagavato,
thūpaseṭṭhassa sammukhā;
Vicittadusse lagetvā,
kapparukkhaṁ ṭhapesahaṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Sobhayanto mama dvāraṁ,
kapparukkho patiṭṭhati.
Ahañca parisā ceva,
ye keci mama vassitā;
Tamhā dussaṁ gahetvāna,
nivāsema mayaṁ sadā.
Catunnavutito kappe,
yaṁ rukkhaṁ ṭhapayiṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
kapparukkhassidaṁ phalaṁ.
Ito ca sattame kappe,
suceḷā aṭṭha khattiyā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā kapparukkhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Kapparukkhiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Kuṇḍadhānavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Kuṇḍasāgatakaccānā,
udāyī mogharājako;
Adhimutto lasuṇado,
āyāgī dhammacakkiko;
Kapparukkhī ca dasamo,
gāthā dvayadasasataṁ.
Walt 1110 Affixing decorated cloth
on the front of the best stupa
of Siddhattha, the Blessed One,
I set up a wishing-tree there. Verse 1
Walt 1111 In whichever womb I’m reborn
whether it’s human or divine,
a wishing-tree’s established there,
making my doorway beautiful. Verse 2
Walt 1112 I, along with my retinue,
and whoever’s attached to me
getting cloth from that wishing-tree
we clothe ourselves all the time. Verse 3
Walt 1113 In the ninety-four aeons since
I set up that wishing-tree then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of a wishing-tree. Verse 4
Walt 1114 In the seventh aeon ago
eight kṣatriyans named Sucela
were wheel-turners who had great strength,
possessors of the seven gems. Verse 5
Walt 1115 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 6
Thus indeed Venerable Kapparukkhiya Thera spoke these verses.
The legend of Kapparukkhiya Thera is finished.
The Summary:
Kuṇḍa, Sāgata, Kaccāna
Udāyi, Rājasavhaya,
Adhimutta, Lasuṇada,
Āyāgī, Dhammacakkhika.
Kapparukkhi is the tenth;
verses one hundred twelve.
Kuṇḍadhāna Chapter, the Fourth.
BJT 1110Ở phía trước ngôi bảo tháp tối thượng của đức Thế Tôn Siddhattha, tôi đã treo giăng những tấm vải nhiều màu sắc và đã thiết lập cây như ý.
BJT 1111Nơi chốn nào tôi đi tái sanh dầu là bản thể Thiên nhân hay nhân loại, có cây như ý rực rỡ hiện diện ở cánh cửa lớn của tôi.
BJT 1112Tôi và luôn cả nhóm tùy tùng là những người sống nương tựa vào tôi, chúng tôi luôn luôn lấy vải từ cây như ý ấy rồi mặc vào.
BJT 1113Kể từ khi tôi đã thiết lập cây (như ý) trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của cây như ý.
BJT 1114Và trước đây vào kiếp thứ bảy, đã có tám vị Sát-đế-lỵ tên Suceḷa, là các đấng Chuyển Luân Vương được thành tựu bảy loại báu vật, có oai lực lớn lao.
BJT 1115Bốn (tuệ) phân tích, ―nt― tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Kapparukkhiyađã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Kapparukkhiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Vị Kuṇḍa, vị Sāgata, vị Kaccāna, vị Udāyi, vị Mogharāja, vị Adhimutta, vị dâng cúng củ tỏi, vị có sảnh đường dài, vị liên quan bánh xe Pháp, và vị có cây như ý là thứ mười, (tổng cộng) là một ngàn hai trăm câu kệ.
Phẩm Kuṇḍadhāna là phẩm thứ tư.
“Siddhatthassa bhagavato,
thūpaseṭṭhassa sammukhā;
Vicittadusse lagetvā,
kapparukkhaṁ ṭhapesahaṁ.
Yaṁ yaṁ yonupapajjāmi,
devattaṁ atha mānusaṁ;
Sobhayanto mama dvāraṁ,
kapparukkho patiṭṭhati.
Ahañca parisā ceva,
ye keci mama vassitā;
Tamhā dussaṁ gahetvāna,
nivāsema mayaṁ sadā.
Catunnavutito kappe,
yaṁ rukkhaṁ ṭhapayiṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
kapparukkhassidaṁ phalaṁ.
Ito ca sattame kappe,
suceḷā aṭṭha khattiyā;
Sattaratanasampannā,
cakkavattī mahabbalā.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā kapparukkhiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Kapparukkhiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Kuṇḍadhānavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Kuṇḍasāgatakaccānā,
udāyī mogharājako;
Adhimutto lasuṇado,
āyāgī dhammacakkiko;
Kapparukkhī ca dasamo,
gāthā dvayadasasataṁ.