BJT 5039(Tôi) là vị giảng huấn, thông thạo về chú thuật, thông suốt về ba tập Vệ-đà, về tướng mạo, về truyền thống gồm cả văn tự và nghi thức.
BJT 5040Lúc bấy giờ, những người học trò đi đến với tôi tợ là làn nước chảy ở dòng sông. Tôi dạy bọn họ về các chú thuật đêm ngày không biếng nhác.
BJT 5041Trong khi ấy, đấng Toàn Giác Siddhattha đã hiện khởi ở thế gian. Sau khi xua đi điều tăm tối ấy, Ngài đã vận hành ánh sáng của trí tuệ.
BJT 5042Tôi có người đệ tử nọ, vị ấy đã thuật lại cho các đệ tử của tôi. Khi ấy, sau khi nghe được sự việc này bọn họ đã nói với tôi rằng:
BJT 5043“Đức Phật, đấng Toàn Tri, bậc Lãnh Đạo Thế Gian đã hiện khởi ở trên đời. Dân chúng đi theo vị ấy, lợi lộc cho chúng ta sẽ không còn.”
BJT 5044(Tôi đã nói rằng): “Chư Phật, các bậc Hữu Nhãn có danh vọng lớn lao là những vị hiếm khi hiện khởi. Hay là ta nên nhìn thấy đức Phật tối thượng, đấng Lãnh Đạo Thế Gian?”
BJT 5045Tôi đã cầm lấy tấm da dê, bộ y phục vỏ cây, và túi đựng nước của tôi rồi đã rời khỏi khu ẩn cư. Tôi đã thông báo với các đệ tử rằng:
BJT 5046“Tương tợ như bông hoa của cây odumbara và chú thỏ ở mặt trăng, tương tợ như sữa của các con quạ, chư vị Lãnh Đạo Thế Gian là điều hy hữu.
BJT 5047Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian cũng như (được sanh vào) bản thể nhân loại là điều hy hữu. Và trong khi có được cả hai, việc nghe (Giáo Pháp) là điều vô cùng hy hữu.
BJT 5048Đức Phật đã hiện khởi ở thế gian. Này chư vị, chúng ta sẽ nhận được (Pháp) nhãn của chúng ta. Chư vị hãy đến, tất cả chúng ta sẽ đi gặp đấng Chánh Đẳng Giác.”
BJT 5049Khi ấy, tất cả các vị ấy đều mang túi đựng nước, mặc y phục da dê thô xấu, quấn búi tóc rối đã rời khỏi khu rừng.
BJT 5050Những vị tầm cầu mục đích tối thượng (ấy) trong khi nhìn với khoảng cách của cán cày, không còn các vướng bận và sân hận, tợnhư những con sư tử không bị hãi sợ.
BJT 5051Ít bị bận rộn, không tham lam, cẩn trọng, có hành vi thanh tịnh, các vị ấy trong khi vừa lo việc kiếm sống vừa đi đến gần đức Phật tối thượng.
BJT 5052Khi chỉ còn một do-tuần rưỡi, có cơn bệnh đã sanh khởi đến tôi. Sau khi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng, tôi đã qua đời ở tại nơi ấy.
BJT 5053Kể từ khi tôi đã đạt được sự suy tưởng trước đây chín mươi bốn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc suy tưởng về đức Phật.
BJT 5054Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5055Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5056Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Buddhasaññaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Buddhasaññaka là phần thứ nhì.
“Ajjhāyako mantadharo,
tiṇṇaṁ vedāna pāragū;
Lakkhaṇe itihāse ca,
sanighaṇḍusakeṭubhe.
Nadīsotapaṭibhāgā,
sissā āyanti me tadā;
Tesāhaṁ mante vācemi,
rattindivamatandito.
Siddhattho nāma sambuddho,
loke uppajji tāvade;
Tamandhakāraṁ nāsetvā,
ñāṇālokaṁ pavattayi.
Mama aññataro sisso,
sissānaṁ so kathesi me;
Sutvāna te etamatthaṁ,
ārocesuṁ mamaṁ tadā.
‘Buddho loke samuppanno,
sabbaññū lokanāyako;
Tassānuvattati jano,
lābho amhaṁ na vijjati.
Adhiccuppattikā buddhā,
cakkhumanto mahāyasā;
Yannūnāhaṁ buddhaseṭṭhaṁ,
passeyyaṁ lokanāyakaṁ’.
Ajinaṁ me gahetvāna,
vākacīraṁ kamaṇḍaluṁ;
Assamā abhinikkhamma,
sisse āmantayiṁ ahaṁ.
Odumbarikapupphaṁva,
candamhi sasakaṁ yathā;
Vāyasānaṁ yathā khīraṁ,
dullabho lokanāyako.
Buddho lokamhi uppanno,
manussattampi dullabhaṁ;
Ubhosu vijjamānesu,
savanañca sudullabhaṁ.
Buddho loke samuppanno,
cakkhuṁ lacchāma no bhavaṁ;
Etha sabbe gamissāma,
sammāsambuddhasantikaṁ.
Kamaṇḍaludharā sabbe,
kharājinanivāsino;
Te jaṭā bhārabharitā,
nikkhamuṁ vipinā tadā.
Yugamattaṁ pekkhamānā,
uttamatthaṁ gavesino;
Āsattidosarahitā,
asambhītāva kesarī.
Appakiccā aloluppā,
nipakā santavuttino;
Uñchāya caramānā te,
buddhaseṭṭhamupāgamuṁ.
Diyaḍḍhayojane sese,
byādhi me upapajjatha;
Buddhaseṭṭhaṁ saritvāna,
tattha kālaṅkato ahaṁ.
Catunnavutito kappe,
yaṁ saññamalabhiṁ tadā;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhasaññāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā buddhasaññako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Buddhasaññakattherassāpadānaṁ dutiyaṁ.
Walt 5039 In reading marks and history,
with glosses and ritual law,
I was learned, mantra-knowing,
a master of the three Vedas. Verse 1
Walt 5040 Many students came to me then,
resembling a river stream.
I am teaching mantras to them,
night and day, I am not lazy. Verse 2
Walt 5041 The Sambuddha named Siddhattha
arose in the world at that time.
Having driven out the darkness,
he displayed the light of knowledge. Verse 3
Walt 5042 A certain one of my students
conversed with my other students;
having heard the fact he discussed,
they then announced the fact to me: Verse 4
Walt 5043 “A Buddha’s risen in the world,
an Omniscient One, World-Leader.
The people are turning to him;
we’re not going to get anything.” Verse 5
Walt 5044 “Buddhas are Born Spontaneously,
those Eyeful Ones, Greatly Famed Ones.
Why then don’t I also go see
the Best Buddha, the World-Leader?” Verse 6
Walt 5045 Having taken my deer-leather,
my robes of bark, and water-pot,
departing from my hermitage,
I advised my students like this: Verse 7
Walt 5046 “Like a glomerous fig tree bloom,
and like the rabbit in the moon,
and like the mother’s milk of crows,
a World-Leader’s hard to obtain. Verse 8
Walt 5047 A Buddha’s risen in the world!
Even human birth’s hard to get,
and hearing’s very hard to get,
when both of them occur at once. Verse 9
Walt 5048 A Buddha’s risen in the world!
We’ll get to see him in our lives.
Come, we will now all go into
the Sammāsambuddha’s presence.” Verse 10
Walt 5049 They all were holding water-pots,
and dressed in rough bark and deer-hide.
They, bearing weights of matted hair,
then departed from the forest. Verse 11
Walt 5050 Looking but a plough’s length ahead,
searching for ultimate meaning,
coming like baby elephants,
they were without fear, like lions. Verse 12
Walt 5051 Free of cares and unwavering,
clever and living peacefully,
wandering about for gleaning,
they approached the Best of Buddhas. Verse 13
Walt 5052 When a league and a half was left
to go, illness arose in me.
Remembering the Best Buddha,
I passed away right on the spot. Verse 14
Walt 5053 In the ninety-four aeons since
I obtained that perception then,
I’ve come to know no bad rebirth:
the fruit of perceiving Buddhas. Verse 15
Walt 5054 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 16
Walt 5055 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 17
Walt 5056 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 18
Thus indeed Venerable Buddhasaññaka Thera spoke these verses.
The legend of Buddhasaññaka Thera is finished.