BJT 5140Ở ngọn núi Hi-mã-lạp, (tôi là) vị đạo sĩ khổ hạnh tên Devaḷa. Con đường kinh hành của tôi ở tại nơi ấy đã được tạo nên bởi các vị phi nhân.
BJT 5141Lúc bấy giờ, (tôi) là vị quấn búi tóc rối mang túi đựng nước, trong khi tầm cầu mục đích tối thượng, tôi đã rời khỏi khu rừng bao la.
BJT 5142Khi ấy, tám mươi bốn ngàn người đệ tử đã phục vụ tôi. Được sanh ra theo nghiệp của mình, các vị sống ở trong khu rừng bao la.
BJT 5143Sau khi rời khỏi khu ẩn cư, tôi đã tạo nên ngôi bảo tháp bằng cát. Tôi đã gom góp các bông hoa các loại và đã cúng dường ngôi bảo tháp ấy.
BJT 5144Ở tại nơi ấy, sau khi làm cho tâm được tịnh tính, tôi đi vào khu ẩn cư. Tất cả các người đệ tử đã tụ hội lại và đã hỏi tôi về sự việc này:
BJT 5145“Chúng tôi cũng muốn biết ngài sẽ lễ bái vị Thiên thần nào ở ngôi bảo tháp đã được xây dựng bằng cát. Được hỏi, xin ngài hãy giải thích cho chúng tôi.”
BJT 5146“Các đấng Hữu Nhãn có danh vọng lớn lao đã được xác định rõ ở trong câu chú thuật của chúng ta. Đương nhiên, ta lễ bái các vị Phật tối thượng có danh vọng lớn lao ấy.”
BJT 5147“Các bậc Đại Hùng, các đấng Toàn Tri, các vị Lãnh Đạo Thế Gian ấy là như thế nào? Màu da thế nào? Giới hạnh thế nào? Các vị có danh vọng lớn lao ấy là như thế nào?”
BJT 5148“Chư Phật có ba mươi hai tướng mạo, và còn có bốn mươi cái răng. Với lông mi dài như của bò cái tơ, các con mắt của các vị ấy trông giống như trái cam thảo rừng.
BJT 5149Và trong khi bước đi, chư Phật ấy chỉ nhìn với khoảng cách của cán cày. Đầu gối của các vị ấy không phát tiếng, âm thanh của các khớp không nghe được.
BJT 5150Và trong khi bước đi, các đấng Thiện Thệ bước đi đều nhấc lên bàn chân phải trước tiên; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
BJT 5151Và chư Phật ấy không bị hãi sợ tương tợ như con sư tử vua của loài thú. Các vị chẳng bao giờ ca tụng bản thân và không khinh miệt các hạng chúng sanh.
BJT 5152Được thoát khỏi sự kiêu ngạo và chê bai, là bình đẳng đối với tất cả sanh linh, chư Phật là những vị không ca tụng chính mình; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
BJT 5153Và trong khi được sanh ra, chư Phật Toàn Giác ấy thị hiện ánh sáng và làm toàn thể trái đất này rung chuyển theo sáu cách.
BJT 5154Và chư vị này nhìn thấy địa ngục, khi ấy địa ngục được tiêu diệt, có đám mây lớn đổ mưa; điều này là trạng thái tự nhiên của chư Phật.
BJT 5155Các bậc Long Tượng ấy là như thế, và có danh vọng lớn lao không thể sánh bằng, không bị vượt trội về thể hình, các đấng Như Lai là vô lượng.”
BJT 5156Tất cả các người đệ tử đã tùy hỷ những lời nói của tôi với sự kính trọng. Và họ đã thực hành theo đúng như thế, tùy theo sức mạnh, tùy theo năng lực.
BJT 5157Trong khi tin tưởng lời nói của tôi, những đệ tử có sự mong mỏi về nghiệp của mình tôn vinh (ngôi bảo tháp) cát với tâm ý hướng về bản thể đức Phật.
BJT 5158Vào lúc bấy giờ, vị Thiên tử có danh vọng lớn lao sau khi mệnh chung ở cõi trời Đẩu Suấtđã sanh vào bụng mẹ, mười ngàn thế giới đã rung động.
BJT 5159Tôi đã đứng ở đường kinh hành không xa khu ẩn cư. Tất cả các đệ tử đã tụ tập lại và đã đi đến ở bên tôi (hỏi rằng):
BJT 5160“Trái đất gầm thét như loài bò mộng, rống lên như loài sư tử, khuấy động như loài cá sấu, sẽ có hậu quả gì đây?”
BJT 5161“Đấng Toàn Giác mà ta tán dương lúc ở gần ngôi bảo tháp bằng cát, giờ đây đức Thế Tôn bậc Đạo Sư ấy đã nhập vào bụng mẹ.”
BJT 5162Sau khi thực hiện việc giảng pháp cho họ và tán dương bậc Đại Hiền Trí, tôi đã giải tán các đệ tử của mình rồi đã xếp vào thế kiết già.
BJT 5163Và sức lực của tôi quả nhiên đã cạn kiệt, tôi đã bị bệnh một cách trầm trọng. Tôi đã tưởng nhớ đến đức Phật tối thượng và đã mệnh chung ở tại nơi ấy.
BJT 5164Khi ấy, tất cả các người đệ tử đã tụ hội lại và đã thực hiện giàn hỏa thiêu. Và sau khi cầm lấy thi thể của tôi họ đã đặt lên giàn hỏa thiêu.
BJT 5165Các vị ấy đã tụ hội lại, vây quanh giàn hỏa thiêu, và đã chắp tay lên ở đầu. Bị ưu phiền bởi mũi tên sầu muộn, các vị ấy đã khóc rống lên.
BJT 5166Trong khi các vị ấy đang than vãn, tôi đã đi đến gần giàn hỏa thiêu (nói rằng): “Này các bậc trí tuệ, ta là thầy của các ngươi, các ngươi chớ có sầu muộn.
BJT 5167Các ngươi hãy nên nỗ lực cho lợi ích của mình đêm ngày không biếng nhác. Các ngươi chớ trở nên xao lãng, thời khắc của các ngươi đã được xếp đặt.”
BJT 5168Sau khi chỉ dạy các đệ tử của mình, tôi đã trở lại thế giới chư Thiên. Và tôi đã sướng vui ở thế giới chư Thiên mười tám kiếp.
BJT 5169Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương năm trăm lần, và đã cai quản Thiên quốc hàng trăm lần.
BJT 5170Trong những kiếp còn lại, tôi đã luân hồi xen lẫn (ở cõi trời và cõi người), tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường cát.
BJT 5171Giống như vào tháng Komudī, có nhiều giống cây trổ hoa. Tương tợ y như thế, nhờ bậc Đại Ẩn Sĩ tôi cũng được trổ hoa vào thời điểm.
BJT 5172Chính sự tinh tấn là có khả năng tiến hành các phận sự, là điều kiện đưa đến sự an ổn khỏi các điều ràng buộc. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5173(Kể từ khi) tôi đã tán dương đức Phật trước đây một trăm ngàn kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc tán dương.
BJT 5174Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5175Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5176Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Pulinuppādaka đã nói lên những lời kệ này như thế ấy.
Ký sự về trưởng lão Pulinuppādaka là phần thứ bảy.
“Pabbate himavantamhi,
devalo nāma tāpaso;
Tattha me caṅkamo āsi,
amanussehi māpito.
Jaṭābhārena bharito,
kamaṇḍaludharo sadā;
Uttamatthaṁ gavesanto,
vipinā nikkhamiṁ tadā.
Cullāsītisahassāni,
sissā mayhaṁ upaṭṭhahuṁ;
Sakakammābhipasutā,
vasanti vipine tadā.
Assamā abhinikkhamma,
akaṁ pulinacetiyaṁ;
Nānāpupphaṁ samānetvā,
taṁ cetiyamapūjayiṁ.
Tattha cittaṁ pasādetvā,
assamaṁ pavisāmahaṁ;
Sabbe sissā samāgantvā,
etamatthaṁ pucchiṁsu maṁ.
‘Pulinena kato thūpo,
yaṁ tvaṁ deva namassasi;
Mayampi ñātumicchāma,
puṭṭho ācikkha no tuvaṁ’.
‘Niddiṭṭhā nu mantapade,
cakkhumanto mahāyasā;
Te kho ahaṁ namassāmi,
buddhaseṭṭhe mahāyase.
Kīdisā te mahāvīrā,
sabbaññū lokanāyakā;
Kathaṁvaṇṇā kathaṁsīlā,
kīdisā te mahāyasā.
Bāttiṁsalakkhaṇā buddhā,
cattālīsadijāpi ca;
Nettā gopakhumā tesaṁ,
jiñjukā phalasannibhā.
Gacchamānā ca te buddhā,
yugamattañca pekkhare;
Na tesaṁ jāṇu nadati,
sandhisaddo na suyyati.
Gacchamānā ca sugatā,
uddharantāva gacchare;
Paṭhamaṁ dakkhiṇaṁ pādaṁ,
buddhānaṁ esa dhammatā.
Asambhītā ca te buddhā,
migarājāva kesarī;
Nevukkaṁsenti attānaṁ,
no ca vambhenti pāṇinaṁ.
Mānāvamānato muttā,
samā sabbesu pāṇisu;
Anattukkaṁsakā buddhā,
buddhānaṁ esa dhammatā.
Uppajjantā ca sambuddhā,
ālokaṁ dassayanti te;
Chappakāraṁ pakampenti,
kevalaṁ vasudhaṁ imaṁ.
Passanti nirayañcete,
nibbāti nirayo tadā;
Pavassati mahāmegho,
buddhānaṁ esa dhammatā.
Īdisā te mahānāgā,
atulā ca mahāyasā;
Vaṇṇato anatikkantā,
appameyyā tathāgatā’.
Anumodiṁsu me vākyaṁ,
sabbe sissā sagāravā;
Tathā ca paṭipajjiṁsu,
yathāsatti yathābalaṁ.
Paṭipūjenti pulinaṁ,
sakakammābhilāsino;
Saddahantā mama vākyaṁ,
buddhasakkatamānasā.
Tadā cavitvā tusitā,
devaputto mahāyaso;
Uppajji mātukucchimhi,
dasasahassi kampatha.
Assamassāvidūramhi,
caṅkamamhi ṭhito ahaṁ;
Sabbe sissā samāgantvā,
āgacchuṁ mama santike.
‘Usabhova mahī nadati,
migarājāva kūjati;
Susumārova saḷati,
kiṁ vipāko bhavissati’.
‘Yaṁ pakittemi sambuddhaṁ,
sikatāthūpasantike;
So dāni bhagavā satthā,
mātukucchimupāgami’.
Tesaṁ dhammakathaṁ vatvā,
kittayitvā mahāmuniṁ;
Uyyojetvā sake sisse,
pallaṅkamābhujiṁ ahaṁ.
Balañca vata me khīṇaṁ,
byādhinā paramena taṁ;
Buddhaseṭṭhaṁ saritvāna,
tattha kālaṅkato ahaṁ.
Sabbe sissā samāgantvā,
akaṁsu citakaṁ tadā;
Kaḷevarañca me gayha,
citakaṁ abhiropayuṁ.
Citakaṁ parivāretvā,
sīse katvāna añjaliṁ;
Sokasallaparetā te,
vikkandiṁsu samāgatā.
Tesaṁ lālappamānānaṁ,
agamaṁ citakaṁ tadā;
‘Ahaṁ ācariyo tumhaṁ,
mā socittha sumedhasā.
Sadatthe vāyameyyātha,
rattindivamatanditā;
Mā vo pamattā ahuttha,
khaṇo vo paṭipādito’.
Sake sissenusāsitvā,
devalokaṁ punāgamiṁ;
Aṭṭhārasa ca kappāni,
devaloke ramāmahaṁ.
Satānaṁ pañcakkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ;
Anekasatakkhattuñca,
devarajjamakārayiṁ.
Avasesesu kappesu,
vokiṇṇo saṁsariṁ ahaṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
uppādassa idaṁ phalaṁ.
Yathā komudike māse,
bahū pupphanti pādapā;
Tathevāhampi samaye,
pupphitomhi mahesinā.
Vīriyaṁ me dhuradhorayhaṁ,
yogakkhemādhivāhanaṁ;
Nāgova bandhanaṁ chetvā,
viharāmi anāsavo.
Satasahassito kappe,
yaṁ buddhamabhikittayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
kittanāya idaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā pulinuppādako thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Pulinuppādakattherassāpadānaṁ sattamaṁ.
Walt 5140 On a Himalayan mountain,
I’m Devala the ascetic.
My meditation walkway there
was made by non-human beings. Verse 1
Walt 5141 Bearing a weight of matted hair,
carrying a water-pot then,
searching for ultimate meaning,
I departed from the forest. Verse 2
Walt 5142 Eighty-six thousand students there,
waited upon me at that time.
Well-known together with their deeds,
they are living in the forest. Verse 3
Walt 5143 Going out from the hermitage,
I made a stupa out of sand.
Assembling various flowers,
I worshipped that stupa then. Verse 4
Walt 5144 Bringing pleasure to my heart there,
I re-entered the hermitage.
All my students, come together,
questioned me about what that meant: Verse 5
Walt 5145 “All of us would like to find out
which deity you’re honoring
at that stupa made out of sand:
being asked, please tell that to us.” Verse 6
Walt 5146 “The Eyeful Ones, Greatly Famed Ones,
have no views and no magic spells;
they’re the ones I am honoring,
the Best Buddhas, Greatly Famed Ones.” Verse 7
Walt 5147 “In what way are they Great Heroes,
Omniscient Ones, Lords of the World?
What do they look like? What conduct?
In what way are they Greatly Famed?” Verse 8
Walt 5148 “Buddhas have thirty-two great marks,
and also forty adult teeth.
Their eyes with heifer-eyelashes
resemble wild licorice fruits. Verse 9
Walt 5149 And when those Buddhas are walking,
they look but a plough’s length ahead.
They do not have a person’s voice;
their euphonic sound is not heard. Verse 10
Walt 5150 Also, when those Well-Gone-Ones walk,
they lift up one foot at a time,
always starting with the right foot:
that is the nature of Buddhas. Verse 11
Walt 5151 And those Buddhas are not afraid,
just like lions, the kings of beasts.
They do not ever praise themselves,
and don’t revile living beings. Verse 12
Walt 5152 They are free of pride and contempt,
the same for all living beings.
Buddhas only praise selflessly:
that is the nature of Buddhas. Verse 13
Walt 5153 And when Buddhas are being born,
they radiate light from themselves,
and in six different ways they cause
this whole bountiful earth to quake. Verse 14
Walt 5154 And they are able to see hell,
and hell is cooled off at that time.
A massive cloud rains forth as well:
that is the nature of Buddhas. Verse 15
Walt 5155 Such-like are those Great Elephants,
Incomparable, of Great Fame;
in beauty they are unsurpassed,
the Thus-Gone-Ones, Beyond Measure.” Verse 16
Walt 5156 All of my students, respectful,
then expressed their thanks for my speech,
and likewise went along with me,
as far as they could and had strength. Verse 17
Walt 5157 Wishing for their own good karma,
they’re worshipping that sand stupa.
Having faith in that speech of mine,
their minds drifted to Buddhahood. Verse 18
Walt 5158 Then a God’s Son, Greatly Famous,
fell down from Tusitā heaven.
He was born in a mother’s womb,
making the ten-thousand worlds quake. Verse 19
Walt 5159 I stood on the walkway which was
near my hermitage at that time.
All my students, having gathered,
came into my presence just then. Verse 20
Walt 5160 “The earth, bull-like, is bellowing;
it’s roaring like the king of beasts.
It’s shaking like a crocodile;
what will this be the result of?” Verse 21
Walt 5161 “The Buddha I detailed for you,
close to the stupa made of sand,
the Blessed One, the Teacher, now
has been born in a mother’s womb.” Verse 22
Walt 5162 Discussing the Teaching for them,
and having detailed the Great Sage,
exhorting my own students there,
I sat in lotus position. Verse 23
Walt 5163 All my strength was then exhausted,
due to a serious illness.
Remembering the Best Buddha,
I passed away right on the spot. Verse 24
Walt 5164 All of my students assembled;
they made me a pyre at that time,
and taking my mortal remains,
they lifted me onto the pyre. Verse 25
Walt 5165 Having attended to the pyre,
hands pressed together on their heads,
wounded by the arrows of grief,
come together they lamented. Verse 26
Walt 5166 While they were wailing uselessly,
I then came back to the pyre there.
“I am your dead teacher, wise ones;
do not lament my passing on. Verse 27
Walt 5167 Endeavor for the highest good,
night and day not being lazy.
Don’t be negligent, all of you;
your moment is offered to you.” Verse 28
Walt 5168 Exhorting my own students thus,
I returned to the world of gods.
For eighteen aeons after that
I delighted in the gods’ world. Verse 29
Walt 5169 And then a hundred times I was
a king who turns the wheel of law.
Also another hundred times,
I was a king who turns the wheel.
Also another hundred times
I then exercised divine rule. Verse 30
Walt 5170In the remaining aeons I
transmigrated as god or man.
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of generating. Verse 31
Walt 5171 As in the month of Kattikā,
many trees are in full flower,
likewise in that very season,
I have flowered as a great sage. Verse 32
Walt 5172 Vigorous effort’s the yoked ox,
carrying perfect peace for me.
Like elephants with broken chains
I am dwelling without constraint. Verse 33
Walt 5173 In the hundred thousand aeons
since I praised the Buddha back then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of praising Buddhas. Verse 34
Walt 5174 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 35
Walt 5175 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 36
Walt 5176 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 37
Thus indeed Venerable Puḷinuppādaka Thera spoke these verses.
The legend of Puḷinuppādaka Thera is finished.