BJT 5219Vào lúc ấy, tôi đã đi sâu vào rừng cây sālā. Khu ẩn cư của tôi được xây dựng khéo léo, được phủ lên bởi những bông hoa sālā, tôi cư ngụ ở khu rừng.
BJT 5220Và đức Thế Tôn Piyadassī, đấng Tự Chủ, là nhân vật cao cả. Có ước muốn độc cư, bậc Toàn Giác đã đi đến khu rừng cây sālā.
BJT 5221Khi ấy, tôi đã rời khỏi khu ẩn cư và đã đi đến khu rừng. Trong khi tìm kiếm rễ và trái cây tôi đi lang thang ở trong rừng bao la.
BJT 5222Tại nơi ấy, tôi đã nhìn thấy đấng Toàn Giác Piyadassī, bậc có danh vọng lớn lao, ngồi vững chải, thể nhập (định), đang chói sáng ở trong khu rừng lớn.
BJT 5223Tôi đã dựng bốn cây gậy và đã tạo nên mái che được làm khéo léo ở phía bên trên của đức Phật, rồi đã phủ lên bằng các bông hoa sālā.
BJT 5224Tôi đã cầm giữ mái che được phủ lên bằng bông hoa sālā trong bảy ngày. Tại đó, sau khi làm cho tâm được tịnh tín tôi đã đảnh lễ đức Phật tối thượng.
BJT 5225Vào thời điểm ấy, đức Thế Tôn đã xuất khỏi định. Trong khi nhìn với khoảng cách của cán cày, bậc Tối Thượng Nhân đã ngồi xuống.
BJT 5226Vị Thinh Văn của bậc Đạo Sư Piyadassī tên là Varuṇa cùng với một trăm ngàn vị có năng lực đã đi đến gặp đấng Hướng Đạo.
BJT 5227Và đức Thế Tôn Piyadassī, bậc Trưởng Thượng của thế gian, đấng Nhân Ngưu, bậc Chiến Thắng sau khi ngồi xuống ở hội chúng tỳ khưu đã để lộ nụ cười.
BJT 5228Anuruddha, vị thị giả của bậc Đạo Sư Piyadassī, đã khoác y một bên vai rồi đã hỏi bậc Đại Hiền Trí rằng:
BJT 5229“Bạch đức Thế Tôn, bậc Đạo Sư để lộ nụ cười trong khi biết được lý do, vậy nguyên nhân của việc thể hiện nụ cười của bậc Đạo Sư là gì?”
BJT 5230Ta đã nhớ lại việc làm của người trai trẻ đã cầm giữ mái che bằng bông hoa cho ta trong bảy ngày, nên ta đã để lộ nụ cười.
BJT 5231Ta không nhìn thấy khoảng không gian nào dung chứa được phước báu, và không khoảng không gian nào được như ý dầu ở thế giới chư Thiên hay nhân loại.
BJT 5232Đối với người có được nghiệp phước thiện đang sinh sống ở thế giới chư Thiên, cho đến hội chúng của người ấy sẽ được phủ lên bởi bông hoa sālā.
BJT 5233Tại đó, trong khi nghiệp phước thiện đã được hội tụ, người ấy sẽ luôn luôn vui sướng với các điệu vũ, các lời ca, và các khúc tấu nhạc của Thiên đình.
BJT 5234Cho đến hội chúng của người ấy sẽ có được hương thơm hạng nhất. Và sẽ có cơn mưa bông hoa sālā rơi xuống liền khi ấy.
BJT 5235Mệnh chung từ nơi ấy, người nam này sẽ đi đến cõi nhân loại. Thậm chí ở nơi đây cũng có mái che bằng bông hoa sālā được duy trì trong mọi thời điểm.
BJT 5236Ở nơi đây, điệu vũ và lời ca, được kết hợp với (âm thanh của) chũm chọe, sẽ thường xuyên vây quanh người này; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5237Và khi mọc trời đang mọc lên, sẽ có cơn mưa bông hoa sālā rơi xuống. Được gắn liền với nghiệp phước thiện, (bông hoa sālā) đổ mưa vào mọi thời điểm.
BJT 5238Vào một ngàn tám trăm kiếp (về sau này), bậc Đạo Sư tên Gotama, xuất thân gia tộc Okkāka sẽ xuất hiện ở thế gian.
BJT 5239Là người thừa tự Giáo Pháp của vị (Phật) ấy, là chánh thống, được tạo ra từ Giáo Pháp, (người này) sẽ biết toàn diện về tất cả các lậu hoặc và sẽ Niết Bàn không còn lậu hoặc.”
BJT 5240Sẽ có mái che bông hoa sālā cho người này khi đang chứng ngộ Giáo Pháp. Trong khi người này đang được thiêu đốt ở giàn hỏa thiêu, sẽ có mái che ở tại nơi ấy.”
BJT 5241Sau khi tán dương quả thành tựu, trong khi làm hài lòng hội chúng với cơn mưa Giáo Pháp, bậc Đại Hiền Trí Piyadassī đã thuyết giảng Giáo Pháp.
BJT 5242Tôi đã cai quản Thiên quốc của chư Thiên trong ba mươi kiếp. Và tôi đã trở thành đấng Chuyển Luân Vương sáu mươi bảy lần.
BJT 5243Sau khi từ thế giới chư Thiên đi đến nơi đây, tôi nhận được sự an lạc lớn lao. Thậm chí ở nơi đây cũng sẽ có mái che bông hoa sālā trong mọi thời điểm.
BJT 5244Sau khi đã làm hài lòng bậc Đại Hiền Trí Gotama đấng cao quý dòng Sakya, sau khi từ bỏ sự hơn thua, tôi đã đạt được vị thế Bất Động.
BJT 5245Kể từ khi tôi đã cúng dường đức Phật trước đây một ngàn tám trăm kiếp, tôi không còn biết đến khổ cảnh; điều này là quả báu của việc cúng dường đức Phật.
BJT 5246Các phiền não của tôi đã được thiêu đốt, tất cả các hữu đã được xóa sạch. Sau khi cắt đứt sự trói buộc như là con voi đực (đã được cởi trói), tôi sống không còn lậu hoặc.
BJT 5247Quả vậy, tôi đã thành công mỹ mãn, đã thành tựu tam minh, đã thực hành lời dạy đức Phật trong sự hiện tiền của đức Phật tối thượng.
BJT 5248Bốn (tuệ) phân tích, tám giải thoát, và sáu thắng trí đã được (tôi) đắc chứng; tôi đã thực hành lời dạy của đức Phật.
Đại đức trưởng lão Sālamaṇḍapiya đã nói lên những lời kệ này như thế.
Ký sự về trưởng lão Sālamaṇḍapiya là phần thứ mười.
Phần Tóm Lược:
Tấm y may từ vải bị quăng bỏ, vị tưởng nhớ đến đức Phật, vị dâng cúng củ sen, vị tán dương trí tuệ, vị có trầm hương, vị cúng dường xá-lợi, vị tái sanh do cát, vị vượt qua, vị Dhammaruci, vị có mái che bông hoa sālālà tương tợ. Có hai trăm câu kệ và thêm vào mười chín câu nữa.
Phẩm Saṁsukūla là phẩm thứ năm mươi mốt.
sabbāsavā parikkhīṇā natthi dāni punabbhavo.
So ahaṁ vicarissāmi gāmā gāmaṁ purā puraṁ,
namassamāno sambuddhaṁ dhammassa ca sudhammataṁ—Ma.gaṇanā ekasatacatunavutīti paññāyati.
“Ajjhogāhetvā sālavanaṁ,
sukato assamo mama;
Sālapupphehi sañchanno,
vasāmi vipine tadā.
Piyadassī ca bhagavā,
sayambhū aggapuggalo;
Vivekakāmo sambuddho,
sālavanamupāgami.
Assamā abhinikkhamma,
pavanaṁ agamāsahaṁ;
Mūlaphalaṁ gavesanto,
āhiṇḍāmi vane tadā.
Tatthaddasāsiṁ sambuddhaṁ,
piyadassiṁ mahāyasaṁ;
Sunisinnaṁ samāpannaṁ,
virocantaṁ mahāvane.
Catudaṇḍe ṭhapetvāna,
buddhassa uparī ahaṁ;
Maṇḍapaṁ sukataṁ katvā,
sālapupphehi chādayiṁ.
Sattāhaṁ dhārayitvāna,
maṇḍapaṁ sālachāditaṁ;
Tattha cittaṁ pasādetvā,
buddhaseṭṭhamavandahaṁ.
Bhagavā tamhi samaye,
vuṭṭhahitvā samādhito;
Yugamattaṁ pekkhamāno,
nisīdi purisuttamo.
Sāvako varuṇo nāma,
piyadassissa satthuno;
Vasīsatasahassehi,
upagacchi vināyakaṁ.
Piyadassī ca bhagavā,
lokajeṭṭho narāsabho;
Bhikkhusaṅghe nisīditvā,
sitaṁ pātukarī jino.
Anuruddho upaṭṭhāko,
piyadassissa satthuno;
Ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā,
apucchittha mahāmuniṁ.
‘Ko nu kho bhagavā hetu,
sitakammassa satthuno;
Kāraṇe vijjamānamhi,
satthā pātukare sitaṁ’.
‘Sattāhaṁ sālacchadanaṁ,
yo me dhāresi māṇavo;
Tassa kammaṁ saritvāna,
sitaṁ pātukariṁ ahaṁ.
Anokāsaṁ na passāmi,
yattha puññaṁ vipaccati;
Devaloke manusse vā,
okāsova na sammati.
Devaloke vasantassa,
puññakammasamaṅgino;
Yāvatā parisā tassa,
sālacchannā bhavissati.
Tattha dibbehi naccehi,
gītehi vāditehi ca;
Ramissati sadā santo,
puññakammasamāhito.
Yāvatā parisā tassa,
gandhagandhī bhavissati;
Sālassa pupphavasso ca,
pavassissati tāvade.
Tato cutoyaṁ manujo,
mānusaṁ āgamissati;
Idhāpi sālacchadanaṁ,
sabbakālaṁ dharissati.
Idha naccañca gītañca,
sammatāḷasamāhitaṁ;
Parivāressanti maṁ niccaṁ,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Uggacchante ca sūriye,
sālavassaṁ pavassati;
Puññakammena saṁyuttaṁ,
vassate sabbakālikaṁ.
Aṭṭhārase kappasate,
okkākakulasambhavo;
Gotamo nāma gottena,
satthā loke bhavissati.
Tassa dhammesu dāyādo,
oraso dhammanimmito;
Sabbāsave pariññāya,
nibbāyissatināsavo.
Dhammaṁ abhisamentassa,
sālacchannaṁ bhavissati;
Citake jhāyamānassa,
chadanaṁ tattha hessati’.
Vipākaṁ kittayitvāna,
piyadassī mahāmuni;
Parisāya dhammaṁ desesi,
tappento dhammavuṭṭhiyā.
Tiṁsakappāni devesu,
devarajjamakārayiṁ;
Saṭṭhi ca sattakkhattuñca,
cakkavattī ahosahaṁ.
Devalokā idhāgantvā,
labhāmi vipulaṁ sukhaṁ;
Idhāpi sālacchadanaṁ,
maṇḍapassa idaṁ phalaṁ.
Ayaṁ pacchimako mayhaṁ,
carimo vattate bhavo;
Idhāpi sālacchadanaṁ,
hessati sabbakālikaṁ.
Mahāmuniṁ tosayitvā,
gotamaṁ sakyapuṅgavaṁ;
Pattomhi acalaṁ ṭhānaṁ,
hitvā jayaparājayaṁ.
Aṭṭhārase kappasate,
yaṁ buddhamabhipūjayiṁ;
Duggatiṁ nābhijānāmi,
buddhapūjāyidaṁ phalaṁ.
Kilesā jhāpitā mayhaṁ,
…pe…
viharāmi anāsavo.
Svāgataṁ vata me āsi,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ.
Paṭisambhidā catasso,
…pe…
kataṁ buddhassa sāsanaṁ”.
Itthaṁ sudaṁ āyasmā sālamaṇḍapiyo thero imā gāthāyo abhāsitthāti.
Sālamaṇḍapiyattherassāpadānaṁ dasamaṁ.
Paṁsukūlavaggo ekūnapaññāsamo.
Tassuddānaṁ
Paṁsukūlaṁ buddhasaññī,
bhisado ñāṇakittako;
Candanī dhātupūjī ca,
pulinuppādakopi ca.
Taraṇo dhammaruciko,
sālamaṇḍapiyo tathā;
Satāni dve honti gāthā,
ūnavīsatimeva ca.
Walt 5219 Plunged into a sal tree forest,
I had a well-made hermitage,
which was covered with sal flowers;
I live in the woods at that time. Verse 1
Walt 5220 The Blessed One, Piyadassi,
Self-Become One, the Chief Person,
Seclusion-Lover, Sambuddha,
came into the sal-forest then. Verse 2
Walt 5221 Departing from the hermitage,
I went into the forest then.
Searching for roots and fruit to eat,
I’m roaming in the forest then. Verse 3
Walt 5222 There I saw him, the Sambuddha,
Piyadassi, Greatly Famed One,
well-seated, attaining the goal,
shining light in the great forest. Verse 4
Walt 5223 Having placed four sticks of wood there,
building a well-made pavilion
above the Buddha at that time,
I covered it with sal flowers. Verse 5
Walt 5224For seven days I held up that
sal-flower-covered pavilion.
Bringing pleasure to my heart there,
I worshipped him, the Best Buddha. Verse 6
Walt 5225 At that time the Blessed One then
rose up from his meditation.
Looking but a plough’s length ahead,
the Ultimate Person sat down. Verse 7
Walt 5226 Named Varuṇa, the follower
of Piyadassi, the Teacher,
with one hundred thousand masters,
then approached the Guide, the Buddha. Verse 8
Walt 5227 Piyadassi, the Blessed One,
the World’s Best One, the Bull of Men,
seated in the monks’ Assembly,
the Victor then displayed a smile. Verse 9
Walt 5228 Anuruddha, the attendant,
of Piyadassi, the Teacher,
placed his robe on one shoulder,
then asked this of him, the Great Sage: Verse 10
Walt 5229 “What is the cause, O Blessed One,
of the smiling of the Teacher?
When what reason was being known
did you display that, O Teacher?” Verse 11
Walt 5230 “This young man who held for me a
floral canopy for a week:
having remembered his karma,
I displayed that smile at that time. Verse 12
Walt 5231 “I do not see sufficient space
for that good karma to ripen.
In the world of gods or men
there is not found sufficient space. Verse 13
Walt 5232 When this good-karma possessor
is living in the world of gods,
as far as his whole retinue,
there will be a sal canopy. Verse 14
Walt 5233 As befits this one’s good karma,
being there he’ll be delighted
by dances which are all divine,
and by songs and speeches as well. Verse 15
Walt 5234 As far as his whole retinue,
there will be many fine perfumes,
and a rain made of sal flowers
will be raining all the time there. Verse 16
Walt 5235 When this man has fallen from there,
he will go to the human state.
Here too a floral canopy
will be carried all of the time. Verse 17
Walt 5236 And here too dance as well as song,
well-accompanied by cymbals,
will attend on him constantly:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 18
Walt 5237 Also, when the sun is rising,
a downpour of sal will rain forth.
Connected with his good karma,
that rain will rain all of the time. Verse 19
Walt 5238 After eighteen hundred aeons,
arising in Okkāka’s clan,
the one whose name is Gotama
will be the Teacher in the world. Verse 20
Walt 5239Worthy heir to that one’s Dhamma,
Dhamma’s legitimate offspring,
knowing well all the defilements,
he’ll reach nirvana, undefiled. Verse 21
Walt 5240 There will be a sal canopy
for this one who grasps the Teaching,
and that sal canopy will be there
for him being burnt on a pyre." Verse 22
Walt 5241 Detailing the result for me,
Piyadassi Buddha, Great Sage,
preached Dharma to my retinue,
refreshing them with Dharma-rain. Verse 23
Walt 5242 For thirty aeons among the
gods, I exercised divine rule,
and sixty plus four times I was
a king who turns the wheel of law. Verse 24
Walt 5243 Coming here from the world of gods,
I’m receiving huge happiness.
Here too there’s a sal canopy:
that’s the fruit of a canopy. Verse 25
Walt 5244 This is the final time for me;
my last rebirth is proceeding.
Even here a sal canopy
exists for me all of the time. Verse 26
Having pleased him, the Sage So Great,
Gotama, Bull of the Śākyas,
I’ve attained the unshaking state,
beyond all conquest and defeat. Verse 27
Walt 5245 In the eighteen hundred aeons
since I worshipped the Buddha then,
I’ve come to know no bad rebirth:
that’s the fruit of Buddha-pūjā. Verse 28
Walt 5246 My defilements are now burnt up;
all new existence is destroyed.
Like elephants with broken chains,
I am living without constraint. Verse 29
Walt 5247 Being in Best Buddha’s presence
was a very good thing for me.
The three knowledges are attained;
I have done what the Buddha taught! Verse 30
Walt 5248 The four analytical modes,
and these eight deliverances,
six special knowledges mastered,
I have done what the Buddha taught! Verse 31
Thus indeed Venerable Sālamaṇḍapiya Thera spoke these verses.
The legend of Sālamaṇḍapiya Thera is finished.
The Summary:
Naḷamālī, Maṇidada,
Ukkāsatika, Vījanī,
Kummāsa and Kusaṭṭha too,
also Giripunnāgiya,
Vallikāra, Pānadhida
and then Pulīnacaṅkama:
five and ninety are the verses
that are counted by those who know.
The Paṁsukūla Chapter, the Forty-Ninth