Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn du hành ở Anguttarapa cùng với đại chúng Tỷ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, và đi đến một thị trấn của Anguttarapa tên là Apāna.
SC 2Bện tóc Keniya được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya, du hành ở Anguttarapa cùng với đại chúng Tỷ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, và đã đến Apāna. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây về Tôn giả Gotama được khởi lên: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện văn nghĩa đầy đủ. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”.
SC 3Rồi bện tóc Keniya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn với pháp thoại khai thị cho bện tóc Keniya đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Bện tóc Keniya sau khi được Thế Tôn với pháp thoại khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn
SC 4—Mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con ngày mai dùng cơm với chúng Tỷ-kheo.
SC 5Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với bện tóc Keniya
SC 6—Này Keniya, chúng Tỷ-kheo rất lớn, đến một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, và Ông có lòng tín thành với các Bà-la-môn.
SC 7Lần thứ hai, bện tóc Keniya bạch Thế Tôn
SC 8—Thưa Tôn giả Gotama, dầu chúng Tỷ-kheo rất lớn, đến một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, và dầu con có lòng tín thành với các Bà-la-môn, mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con, ngày mai dùng cơm với chúng Tỷ-kheo!
SC 9Lần thứ hai, Thế Tôn nói với bện tóc Keniya
SC 10—Này Keniya, chúng Tỷ-kheo rất lớn, đến một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, và Ông có lòng tín thành với các Bà-la-môn.
SC 11Lần thứ ba, bện tóc Keniya bạch Thế Tôn
SC 12—Thưa Tôn giả Gotama, dầu chúng Tỷ-kheo rất lớn, đến một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, và dầu con có lòng tín thành với các vị Bà-la-môn, mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con, ngày mai dùng cơm với chúng Tỷ-kheo!
SC 13Thế Tôn im lặng nhận lời. Bện tóc Keniya, sau khi được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến tịnh xá của mình, sau khi đến liền bảo các thân hữu, bà con huyết thống
SC 14—Quý vị Thân hữu, bà con huyết thống hãy nghe tôi. Sa-môn Gotama đã được tôi mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo. Vậy Quý vị hãy tự thân giúp việc cho tôi.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 15Các thân hữu, bà con huyết thống của bện tóc Keniya vâng đáp bện tóc Keniya. Có người thời đào hố (làm lò nấu); có người bửa củi; có người rửa chén bát; có người sắp đặt ghè nước; có người sửa soạn ghế ngồi; còn bện tóc Keniya tự mình dựng lên một giàn hoa hình tròn (Mandalamala).
SC 16Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sela trú tại Apāna, vị này tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị này dạy chú thuật (manta) cho ba trăm thanh niên Bà-la-môn.
SC 17Lúc bấy giờ bện tóc Keniya có lòng tín thành với Bà-la-môn Sela. Rồi Bà-la-môn Sela, với ba trăm thanh niên Bà-la-môn vây quanh, tản bộ du hành đi đến tinh xá của bện tóc Keniya. Bà-la-môn Sela thấy tại tinh xá của bện tóc Keniya, có người thời đào hố (làm lò nấu); có người bửa củi; có người rửa chén bát; có người sắp đặt ghè nước; có người sửa soạn ghế ngồi; còn bện tóc Keniya tự mình dựng lên một giàn hoa hình tròn. Thấy vậy, Bà-la-môn Sela bèn nói với bện tóc Keniya
SC 18—Có phải bện tóc Keniya sẽ rước dâu hay sẽ đưa dâu, hay một đại tế đàn được chuẩn bị, hay vua Seniya Bimbisāra nước Magadha được mời ngày mai với cả binh lực?
SC 19—Thưa Tôn giả Sela, tôi không có rước dâu, cũng không đưa dâu, vua Seniya Bimbisāra nước Magadha không có được mời ngày mai với cả binh lực, nhưng tôi chuẩn bị một đại tế đàn. Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya, du hành ở Anguttarapa cùng với đại chúng Tỷ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, và đã đến Apāna. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây về Tôn giả Gotama được khởi lên: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.” Vị ấy được con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo.
SC 20—Tôn giả Keniya, có phải Ông nói đức Phật?
SC 21—Tôn giả Sela, vâng, tôi nói đức Phật.
SC 22—Tôn giả Keniya, có phải Ông nói đức Phật?
SC 23—Tôn giả Sela, vâng, tôi nói đức Phật.
SC 24Rồi Tôn giả Bà-la-môn Sela suy nghĩ: “Chỉ một âm thanh đức Phật này cũng khó tìm được trong đời. Theo Thánh điển của chúng ta được truyền lại về ba mươi hai Ðại nhân tướng, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn một trong hai con đường, không có con đường nào khác: nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với Chánh pháp, không dùng gậy, không dùng đao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời.” và ông ta nói
SC 25—Này Tôn giả Keniya, nay Tôn giả Gotama ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy trú ở đâu?
SC 26Khi nghe nói vậy, bện tóc Keniya, duỗi cánh tay mặt, nói với Bà-la-môn Sela
SC 27—Tôn giả Sela, tại ngôi rừng xanh kia.
SC 28Rồi Bà-la-môn Sela, với ba trăm thanh niên đi đến Thế Tôn. Bà-la-môn bảo những thanh niên ấy
SC 29—Quý vị hãy đến một cách im lặng, đặt chân xuống từng bước một, các bậc Thế Tôn ấy như con sư tử sống một mình, rất khó đến gần (hay ưa thích an tịnh —Durasada). Nếu ta có thảo luận với Sa-môn Gotama, chư Tôn giả chớ ngắt lời ta. Chư Tôn giả hãy chờ ta nói xong.
SC 30Rồi Bà-la-môn Sela đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sela tìm xem ba mươi hai Ðại nhân tướng trên thân Thế Tôn, Bà-la-môn Sela thấy phần lớn ba mươi hai Ðại nhân tướng trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng. Ðối với hai Ðại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.
SC 31Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Bà-la-môn Sela này thấy trên thân Ta phần lớn ba mươi hai Ðại nhân tướng, trừ hai tướng, đối với hai Ðại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài”.
SC 32Thế Tôn liền dùng thần thông khiến Bà-la-môn Sela thấy được tướng mã âm tàng của Thế Tôn, và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai; rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi le khắp cả vùng trán.
SC 33Rồi Bà-la-môn Sela suy nghĩ: “Sa-môn Gotama thành tựu ba mươi hai Ðại nhân tướng một cách đầy đủ, không phải không đầy đủ, nhưng ta chưa biết vị ấy là Phật hay không phải Phật. Tuy vậy, ta có nghe các vị Bà-la-môn niên cao, lạp lớn, các bậc Tôn sư, Ðại Tôn sư, nói như sau: “Các Thế Tôn ấy, những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, khi những lời tán thán của những bậc ấy được nói đến, các bậc ấy tự hiện hình ra”. Vậy ta hãy trước mặt Thế Tôn tán thán những bài kệ xứng đáng”. Rồi Bà-la-môn Sela, tán thán trước mặt Sa-môn Gotama những bài kệ xứng đáng như sau:
SC 34Thân trọn đủ chói sáng,
Khéo sanh và đẹp đẽ,
Thế Tôn sắc vàng chói,
Răng trơn, láng, tinh cần.
Ðối với người khéo sanh,
Những tướng tốt trang trọng,
Ðều có trên thân Ngài,
Tất cả Ðại nhân tướng.
Mắt sáng, mặt tròn đầy,
Cân đối, thẳng, hoàn mỹ,
Giữa chúng Sa-môn Tăng,
Ngài chói như mặt trời.
Ðẹp mắt vị Tỷ-kheo,
Da sáng như vàng chói,
Với hạnh Sa-môn, Ngài
Cần gì sắc tối thượng.
Ngài xứng bậc Ðại vương,
Chuyển Luân, bậc Ðiều Ngự,
Chiến thắng khắp thiên hạ,
Bậc tối thượng Diêm-phù.
Vương tộc, hào phú vương,
Là chư hầu của Ngài,
Là vua giữa các vua,
Là Giáo chủ loài Người.
Hãy trị vì quốc độ,
Tôn giả Gotama!
Thế Tôn liền trả lời:
SC 35Sela, Ta là vua,
Bậc Pháp vương vô thượng,
Ta chuyển bánh xe pháp,
Bánh xe chưa từng chuyển.
(Sela):
SC 36Ngài tự nhận Giác giả
Sela lại hỏi thêm,
“Bậc Pháp vương vô thượng,
Ta chuyển bánh xe Pháp”,
Ngài trả lời như vậy.
SC 37Tôn giả Gotama,
Ai sẽ là tướng quân?
Là Tôn giả đệ tử?
Vị đệ tử tín thành?
Xứng đáng bậc Ðạo sư?
Sau Ngài, ai sẽ chuyển,
Pháp luân Ngài đã chuyển?
(Thế Tôn):
SC 38Này Sela,
Ta chuyển bánh xe Pháp,
Bánh xe Pháp vô thượng.
Chính Sāriputta,
Chuyển bánh xe Chánh Pháp,
Thừa tự Như Lai vị.
SC 39Cần biết, Ta đã biết,
Cần tu, Ta đã tu,
Cần bỏ, Ta đã bỏ.
Do vậy Ta là Phật,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
SC 40Còn gì nghi ở Ta,
Hãy gác bỏ một bên,
Hãy giải thoát khỏi chúng,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
SC 41Thấy được bậc Chánh Giác,
Thật thiên nan vạn nan,
Bậc Chánh Giác ra đời,
Thật thiên nan vạn nan!
SC 42Ta là bậc Chánh Giác,
Bậc Y vương vô thượng,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
SC 43Là Phạm thiên khó sánh,
Nhiếp phục các ma quân.
Hàng phục mọi đối nghịch,
Ta sống tâm hoan hỷ,
Không sợ hãi một ai,
Không từ đâu run sợ.
(Sela):
SC 44Chư Tôn giả, hãy nghe!
Như bậc có mắt giảng,
Bậc Y vương, Anh hùng,
Sư tử rống rừng sâu.
SC 45Thấy Phạm thiên vô tỷ,
Nhiếp phục các ma quân,
Ai lại không tín thành,
Cho đến kẻ hạ tiện.
SC 46Ai muốn, hãy theo Ta,
Không muốn, hãy ra đi,
Ở đây, Ta xuất gia,
Bậc Trí Tuệ tối thượng!
(Các Bà-la-môn):
SC 47Nếu Tôn giả tín thành,
Giáo pháp bậc Chánh Giác,
Chúng con cũng xuất gia,
Bậc Trí Tuệ tối thượng!
(Sela):
SC 48Ba trăm Phạm chí ấy,
Chắp tay xin được phép:
Chúng con sống Phạm hạnh,
Do Thế Tôn lãnh đạo!
Thế Tôn đáp:
SC 49Nầy Sela,
Phạm hạnh được khéo giảng,
Thiết thực ngay hiện tại,
Vượt khỏi thời gian tính.
Ở đây sự xuất gia,
Không uổng công hoang phí,
Với ai không phóng dật,
Tinh tấn chuyên tu học.
SC 50Bà-la-môn Sela cùng với hội chúng được xuất gia dưới sự lãnh đạo Thế Tôn, được thọ đại giới.
SC 51Rồi Bà-la-môn Keniya, sau đêm ấy, tại tinh xá của mình, sau khi cho sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm xong, liền báo thời giờ lên Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, đã đến giờ! Cơm đã sửa soạn xong”. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến tinh xá của bện tóc Keniya, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi bện tóc Keniya sau khi tự tay mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu và làm cho thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi bện tóc Keniya, sau khi Thế Tôn ăn xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với bện tóc Keniya lời tùy hỷ công đức với những bài kệ sau đây:
SC 52Tế đàn là tối thượng,
Trong các lễ tế lửa,
Savitti là tối thượng,
Giữa bài thơ Veda.
SC 53Vua là bậc tối thượng,
Giữa thế giới loài Người,
Ðại dương là tối thượng,
Giữa các loại sông ngòi.
SC 54Mặt trăng là tối thượng,
Giữa các vì sao sáng,
Chúng Tăng thật tối thượng,
Với những ai bố thí,
Tâm mong ước nguyện cầu,
Gặt hái nhiều công đức.
SC 55Thế Tôn sau khi dùng bài kệ này nói những lời tùy hỷ công đức với bện tóc Keniya, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 56Rồi Tôn giả Sela với hội chúng sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, Tôn giả chứng được mục đích tối cao mà các Thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng Phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự chứng đạt và an trú. Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa. Vị này biết như vậy và Tôn giả Sela với hội chúng trở thành các vị A-la-hán.
SC 57Rồi Tôn giả Sela với hội chúng đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn và đọc lên Thế Tôn bài kệ sau đây:
SC 58Kính bạch bậc Pháp Nhãn,
Cách đây trước tám ngày,
Chúng con đã đến Ngài,
Xin phát nguyện quy y.
SC 59Thế Tôn trong bảy đêm,
Ðã nhiếp phục chúng con,
Ðã chế ngự chúng con,
Trong giáo lý của Ngài.
SC 60Ngài là bậc Giác Giả,
Ngài là bậc Ðạo Sư,
Ngài là bậc Mâu-ni,
Ðã chiến thắng quần ma.
SC 61Sau khi Ngài đoạn trừ,
Vượt qua biển sanh tử,
Ngài giúp quần sanh này,
Cùng vượt qua bể khổ.
SC 62Sanh y Ngài vượt qua,
Lậu hoặc Ngài nghiền nát,
Ngài là Sư tử chúa,
Không chấp, không sợ hãi.
SC 63Ba trăm Tỷ-kheo này,
Ðồng chắp tay đứng thẳng,
Ôi anh hùng chiến thắng,
Hãy duỗi chân bước tới.
Hãy để các Ðại nhân
Ðảnh lễ bậc Ðạo Sư.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā aṅguttarāpesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi yena āpaṇaṁ nāma aṅguttarāpānaṁ nigamo tadavasari.
Assosi kho keṇiyo jaṭilo:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito aṅguttarāpesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi āpaṇaṁ anuppatto.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho keṇiyo jaṭilo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho keṇiyaṁ jaṭilaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho keṇiyo jaṭilo bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavantaṁ etadavoca:
“adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā keṇiyaṁ jaṭilaṁ etadavoca:
“mahā kho, keṇiya, bhikkhusaṅgho aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni; tvañca brāhmaṇesu abhippasanno”ti.
Dutiyampi kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi, bho gotama, mahā bhikkhusaṅgho aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni, ahañca brāhmaṇesu abhippasanno;
adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā keṇiyaṁ jaṭilaṁ etadavoca:
“mahā kho, keṇiya, bhikkhusaṅgho aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni; tvañca brāhmaṇesu abhippasanno”ti.
Tatiyampi kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi, bho gotama, mahā bhikkhusaṅgho aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni, ahañca brāhmaṇesu abhippasanno,
adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho keṇiyo jaṭilo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā yena sako assamo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mittāmacce ñātisālohite āmantesi:
“suṇantu me bhavanto mittāmaccā ñātisālohitā,
samaṇo me gotamo nimantito svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghena,
yena me kāyaveyyāvaṭikaṁ kareyyāthā”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho keṇiyassa jaṭilassa mittāmaccā ñātisālohitā keṇiyassa jaṭilassa paṭissutvā appekacce uddhanāni khaṇanti, appekacce kaṭṭhāni phālenti, appekacce bhājanāni dhovanti, appekacce udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpenti, appekacce āsanāni paññāpenti.
Keṇiyo pana jaṭilo sāmaṁyeva maṇḍalamāḷaṁ paṭiyādeti.
Tena kho pana samayena selo brāhmaṇo āpaṇe paṭivasati, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo, tīṇi ca māṇavakasatāni mante vāceti.
Tena kho pana samayena keṇiyo jaṭilo sele brāhmaṇe abhippasanno hoti.
Atha kho selo brāhmaṇo tīhi māṇavakasatehi parivuto jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno yena keṇiyassa jaṭilassa assamo tenupasaṅkami.
Addasā kho selo brāhmaṇo keṇiyassa jaṭilassa assame appekacce uddhanāni khaṇante …pe… appekacce āsanāni paññapente, keṇiyaṁ pana jaṭilaṁ sāmaṁyeva maṇḍalamāḷaṁ paṭiyādentaṁ.
Disvāna keṇiyaṁ jaṭilaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho bhoto keṇiyassa āvāho vā bhavissati, vivāho vā bhavissati, mahāyañño vā paccupaṭṭhito, rājā vā māgadho seniyo bimbisāro nimantito svātanāya saddhiṁ balakāyenā”ti?
“Na me, bho sela, āvāho vā bhavissati vivāho vā, nāpi rājā māgadho seniyo bimbisāro nimantito svātanāya saddhiṁ balakāyena;
api ca kho me mahāyañño paccupaṭṭhito.
Atthi samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito aṅguttarāpesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi āpaṇaṁ anuppatto.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ …pe…
buddho bhagavāti.
So me nimantito svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Buddhoti, bho keṇiya, vadesi”?
“Buddhoti, bho sela, vadāmi”.
“Buddhoti, bho keṇiya, vadesi”?
“Buddhoti, bho sela, vadāmī”ti.
Atha kho selassa brāhmaṇassa etadahosi:
“ghosopi kho eso dullabho lokasmiṁ, yadidaṁ buddhoti.
Āgatāni kho panamhākaṁ mantesu dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā.
Sace agāraṁ ajjhāvasati rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti, seyyathidaṁ—
cakkaratanaṁ, hatthiratanaṁ, assaratanaṁ, maṇiratanaṁ, itthiratanaṁ, gahapatiratanaṁ, pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Kahaṁ pana, bho keṇiya, etarahi so bhavaṁ gotamo viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti?
Evaṁ vutte, keṇiyo jaṭilo dakkhiṇaṁ bāhuṁ paggahetvā selaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“yenesā, bho sela, nīlavanarājī”ti.
Atha kho selo brāhmaṇo tīhi māṇavakasatehi saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami.
Atha kho selo brāhmaṇo te māṇavake āmantesi:
“appasaddā bhonto āgacchantu, pade padaṁ nikkhipantā.
Durāsadā hi te bhagavanto sīhāva ekacarā.
Yadā cāhaṁ, bho, samaṇena gotamena saddhiṁ manteyyaṁ, mā me bhonto antarantarā kathaṁ opātetha;
kathāpariyosānaṁ me bhavanto āgamentū”ti.
Atha kho selo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho selo brāhmaṇo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi.
Addasā kho selo brāhmaṇo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve.
Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—
kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cāti.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“passati kho me ayaṁ selo brāhmaṇo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve.
Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—
kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti.
Atha kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi, yathā addasa selo brāhmaṇo bhagavato kosohitaṁ vatthaguyhaṁ.
Atha kho bhagavā jivhaṁ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi paṭimasi, ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi, kevalampi nalāṭamaṇḍalaṁ jivhāya chādesi.
Atha kho selassa brāhmaṇassa etadahosi:
“samannāgato kho samaṇo gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi, no aparipuṇṇehi.
No ca kho naṁ jānāmi buddho vā no vā.
Sutaṁ kho pana metaṁ brāhmaṇānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘ye te bhavanti arahanto sammāsambuddhā, te sake vaṇṇe bhaññamāne attānaṁ pātukarontī’ti.
Yannūnāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthaveyyan”ti.
Atha kho selo brāhmaṇo bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Paripuṇṇakāyo suruci,
Sujāto cārudassano;
Suvaṇṇavaṇṇosi bhagavā,
Susukkadāṭhosi vīriyavā.
Narassa hi sujātassa,
ye bhavanti viyañjanā;
Sabbe te tava kāyasmiṁ,
mahāpurisalakkhaṇā.
Pasannanetto sumukho,
brahā uju patāpavā;
Majjhe samaṇasaṅghassa,
ādiccova virocasi.
Kalyāṇadassano bhikkhu,
kañcanasannibhattaco;
Kiṁ te samaṇabhāvena,
evaṁ uttamavaṇṇino.
Rājā arahasi bhavituṁ,
cakkavattī rathesabho;
Cāturanto vijitāvī,
jambusaṇḍassa issaro.
Khattiyā bhogirājāno,
anuyantā bhavantu te;
Rājābhirājā manujindo,
rajjaṁ kārehi gotama”.
“Rājāhamasmi selāti,
(bhagavā)
Dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṁ vattemi,
Cakkaṁ appaṭivattiyaṁ”.
“Sambuddho paṭijānāsi,
(iti selo brāhmaṇo)
Dhammarājā anuttaro;
‘Dhammena cakkaṁ vattemi’,
Iti bhāsasi gotama.
Ko nu senāpati bhoto,
Sāvako satthuranvayo;
Ko te tamanuvatteti,
Dhammacakkaṁ pavattitaṁ”.
“Mayā pavattitaṁ cakkaṁ,
(selāti bhagavā)
Dhammacakkaṁ anuttaraṁ;
Sāriputto anuvatteti,
Anujāto tathāgataṁ.
Abhiññeyyaṁ abhiññātaṁ,
Bhāvetabbañca bhāvitaṁ;
Pahātabbaṁ pahīnaṁ me,
Tasmā buddhosmi brāhmaṇa.
Vinayassu mayi kaṅkhaṁ,
Adhimuccassu brāhmaṇa;
Dullabhaṁ dassanaṁ hoti,
Sambuddhānaṁ abhiṇhaso.
Yesaṁ ve dullabho loke,
Pātubhāvo abhiṇhaso;
Sohaṁ brāhmaṇa sambuddho,
Sallakatto anuttaro.
Brahmabhūto atitulo,
Mārasenappamaddano;
Sabbāmitte vasīkatvā,
Modāmi akutobhayo”.
“Imaṁ bhavanto nisāmetha,
Yathā bhāsati cakkhumā;
Sallakatto mahāvīro,
Sīhova nadatī vane.
Brahmabhūtaṁ atitulaṁ,
Mārasenappamaddanaṁ;
Ko disvā nappasīdeyya,
Api kaṇhābhijātiko.
Yo maṁ icchati anvetu,
Yo vā nicchati gacchatu;
Idhāhaṁ pabbajissāmi,
Varapaññassa santike”.
“Evañce ruccati bhoto,
Sammāsambuddhasāsane;
Mayampi pabbajissāma,
Varapaññassa santike”.
Brāhmaṇā tisatā ime,
Yācanti pañjalīkatā;
“Brahmacariyaṁ carissāma,
Bhagavā tava santike”.
“Svākkhātaṁ brahmacariyaṁ,
(selāti bhagavā)
Sandiṭṭhikamakālikaṁ;
Yattha amoghā pabbajjā,
Appamattassa sikkhato”ti.
Alattha kho selo brāhmaṇo sapariso bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Atha kho keṇiyo jaṭilo tassā rattiyā accayena sake assame paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi:
“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena keṇiyassa jaṭilassa assamo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Atha kho keṇiyo jaṭilo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho keṇiyaṁ jaṭilaṁ bhagavā imāhi gāthāhi anumodi:
“Aggihuttamukhā yaññā,
Sāvittī chandaso mukhaṁ;
Rājā mukhaṁ manussānaṁ,
Nadīnaṁ sāgaro mukhaṁ.
Nakkhattānaṁ mukhaṁ cando,
Ādicco tapataṁ mukhaṁ;
Puññaṁ ākaṅkhamānānaṁ,
Saṅgho ve yajataṁ mukhan”ti.
Atha kho bhagavā keṇiyaṁ jaṭilaṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā selo sapariso eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva …pe…
aññataro kho panāyasmā selo sapariso arahataṁ ahosi.
Atha kho āyasmā selo sapariso yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Yaṁ taṁ saraṇamāgamha,
Ito aṭṭhami cakkhuma;
Sattarattena bhagavā,
Dantamha tava sāsane.
Tuvaṁ buddho tuvaṁ satthā,
Tuvaṁ mārābhibhū muni;
Tuvaṁ anusaye chetvā,
Tiṇṇo tāresimaṁ pajaṁ.
Upadhī te samatikkantā,
Āsavā te padālitā;
Sīhosi anupādāno,
Pahīnabhayabheravo.
Bhikkhavo tisatā ime,
Tiṭṭhanti pañjalīkatā;
Pāde vīra pasārehi,
Nāgā vandantu satthuno”ti.
Selasuttaṁ sattamaṁ.
SC 1Thus have I heard:
SC 2At one time the Radiant One was journeying through the lands of the Aṅguttarāpans, accompanied by a large Saṅgha of bhikkhus, twelve hundred and fifty of them and arrived at a town called Āpaṇa.
SC 3The ascetic Keṇiya of the Dreadlocked Hair heard this: “The Samaṇa Gotama, son of the Sakiyans who left home among the Sakyan people has been journeying among the Aṅguttarāpans accompanied by a large Saṅgha of bhikkhus, twelve hundred and fifty of them, and he has arrived in Āpaṇa. Now an excellent report has spread to this effect: “The Radiant One is an Arahant, fully Awakened, perfect in true knowledge and conduct, whose going is auspicious, knower of worlds, incomparable leader of people to be famed, Teacher of devas and humanity, Awakened and Radiant. He declares this world with its devas, Māras, princes and people which he has realized by direct knowledge himself. He teaches Dharma good at the beginning, the middle and the end, complete with purpose and meaning, revealing the good life, that which is completely fulfilled and wholly purified.” Now, it is good to see such Arahants.
SC 4Then Keṇiya of the Dreadlocked Hair went to see the Radiant One and exchanged greetings with him and when that courteous and amiable talk was finished he sat down to one side. The Radiant One instructed, urged, roused and encouraged him with Dharma-talk after which Keṇiya said, “Let Master Gotama together with the Saṅgha of bhikkhus consent to accept tomorrow’s meal from me.”
SC 5The Radiant One replied to him, “The Saṅgha of bhikkhus Keṇiya, is large, of twelve hundred and fifty. And you have confidence also in the brahmins.”
SC 6This request was repeated a second and a third time by Keṇiya, and only on the third occasion did the Buddha accept by remaining silent.
SC 7Then Keṇiya, knowing that the Buddha had accepted, paid respects, rose from his seat and went to his own hermitage. He addressed his friends and colleagues, family and relatives, saying “Listen, my good friends and colleagues, family and relatives! I have invited the ascetic Gotama for the meal tomorrow, together with the Saṅgha of bhikkhus. Would you assist me with the various duties?”
SC 8“Yes, sir,” agreed Keṇiya’s friends and colleagues, family and relatives. And some dug out the ovens, some chopped wood, some washed the dishes, some put out the water pot, while others prepared the seats. And in the evening, Keṇiya set up a pavilion.
SC 9Now at that time the brahmin Sela was visting Āpaṇa. He was an expert in the three Vedas, with the etymologies, the rituals, the phonology and word analysis, and fifthly the legendary histories. He was a linguist, a grammarian, a cosmologist, and an expert in the marks of a Superman. He taught the Vedic texts to three hundred young students.
SC 10Now at that time Keṇiya of the Dreadlocked Hair had confidence in the brahmin Sela. Then Sela accompanied by his three hundred students were out for a walk, and they came to the hermitage of Keṇiya. Sela saw the activity in the hermitage and said to Keṇiya, “Master Keṇiya, are your son or daughter being married, or are you preparing a great sacrifice, or have you invited Seniya Bimbisāra, king of Magadha, tomorrow together with his army?”
SC 11“No, Sela, there is no marriage, nor has the king been invited. However I am preparing a great sacrifice. There is this ascetic Gotama, who has gone forth from the Sakyan clan, and he has arrived at Āpaṇa together with a great Saṅgha of bhikkhus. Now an excellent report has spread to this effect: ‘The Radiant One is an Arahant, fully Awakened, perfect in true knowledge and conduct, whose going is auspicious, knower of worlds, incomparable leader of people to be famed, Teacher of devas and humanity, Awakened and Radiant.’ I have invited him for the meal tomorrow together with the Saṅgha of bhikkhus.”
SC 12“Keṇiya, did you say ‘Awakened’?”
SC 13“Yes, Sela, I said ‘Awakened’!”
SC 14“Keṇiya, did you say ‘Awakened’?”
SC 15“Yes, Sela, I said ‘Awakened’!”
SC 16Then it occurred to the brahmin Sela: “It is hard to even hear the word ‘Awakened’ in the world today. There has come down in our sacred scriptures the thirty-two marks of a Superman, possessing which a Superman has two destinies, no other. If he dwells at home he will be a king, a just emperor, a just king, conqueror of the four directions, who has stabilized the realm, and possesses the seven treasures. And these are his seven treasures: the Wheel treasure, the elephant treasure, the horse treasure, the jewel treasure, the woman treasure, the householder treasure, and seventh, the adviser treasure. He has more than a thousand sons who are valiant, heroic, crushers of the armies of foes. Having conquered this earth to the shores of the seas he rules justly, without weapons or violence. But if he goes forth from the home life into homelessness, then he becomes an arahant, a fully awakened Buddha, one who draws back the veil from the world.” “So where now, Master Keṇiya, is that Master Gotama living, the arahant, the fully awakened Buddha?”
SC 17When he said this, Keṇiya of the Dreadlocked hair took the brahmin Sela by the right arm and said, “There, where that line of blue forest is, master Sela.” Then Sela with his three hundred students approached the Buddha. Sela addressed his students, saying, “Come quietly, sirs! Place each step one after the other! For the Buddhas are hard to approach, like lions living alone. And when I am conversing with the ascetic Gotama, don’t interrupt our discussion, but wait until we have finished.”
SC 18And then Sela approached the Buddha, engaged in polite greetings and conversation, and sat down to one side. He scrutinized the Buddha’s body for the thirty-two marks of a Superman. He saw most of them, except for two, regarding which he had doubts: whether the private parts were sheathed, and the tongue was long.
SC 19The Buddha knew that Sela saw most of the thirty-two marks, but doubted two. So he performed an act of psychic power such that Sela could see that his private parts were sheathed. Then he put out his tongue and licked both his ears, and both his nostrils, and covered his whole forehead with his tongue.
SC 20Then it occurred to Sela: “The ascetic Gotama does indeed possess all of the thirty-two marks of a Superman. But I do not know whether he is awakened or not. I have heard it said by elder and respected brahmins, the teachers of teachers, that whoever is an arahant, a fully awakened Buddha, will reveal themselves when their own praise is spoken. Why don’t I praise the ascetic Gotama in his presence with suitable verses?” Then the brahmin Sela spoke the following.
SC 21SC Verse 554Sela
O you of perfect form and beauty rare,
proportioned well and lovely to behold,
in colour like fine gold, with shining teeth,
You are the Exalted, the Energetic One.
SC 22SC Verse 555Whose body shows forth all the minor marks
distinguishing a well-proportioned man,
while all upon your body can be seen
the signs peculiar to the Superman.
SC 23SC Verse 556You with eyes so clear, so fair your countenance,
and you so tall, so straight, majestical
amidst the order of the samaṇas
do blazon forth as does the sun on high.
SC 24SC Verse 557O you a bhikkhu good to gaze upon,
having a skin resembling finest gold,
what is this life of samaṇas to you,
having a presence so supremely fair?
SC 25SC Verse 558You deserve to be a King who turns the wheel,
riding in state a chariot of war,
lord of the earth from end to end four square,
a Conqueror of Jambudīpa chief.
SC 26SC Verse 559Nobles and wealth lords your vassals be
You Sovran Lord of lords, You King of men,
take then your power, O Gotama, and reign.
SC 27SC Verse 560Buddha
I am a king, Sela,
The unexcelled King of Dhamma;
By Dhamma I roll forth the Wheel,
The Wheel that cannot be turned back.
SC 28SC Verse 561Sela
You say you are awakened,
The unexcelled King of Dhamma;
“By Dhamma I roll forth the Wheel”,
So you say, Gotama.
SC 29SC Verse 562Who then is your general,
The student who follows the teacher;
Who keeps the Wheel of Dhamma
rolling after you?
SC 30SC Verse 563Buddha
By me is the Wheel rolled forth,
The unexcelled Wheel of Dhamma,
Sāriputta keeps the Wheel of Dhamma
rolling after me.
SC 31SC Verse 564What should be Known is Known;
What should be developed has been developed;
What should be abandoned I have abandoned:
That, brahmin, is why I am awakened.
SC 32SC Verse 565Dispell doubts in me,
Have confidence, brahmin;
This sight is hard to find,
For Buddhas arise only rarely.
SC 33SC Verse 566That which is hard to find in the world,
Manifesting only rarely;
I, brahmin, am awakened,
The unexcelled surgeon.
SC 34SC Verse 567I am supreme, I am incomparable,
Crusher of Māra’s armies;
Having subjugated all my enemies,
I rejoice, afraid of nothing.
SC 35SC Verse 568Sela
Good sirs, listen up
As the seer speaks,
The surgeon, the great hero,
Roars like a lion in the forest.
SC 36SC Verse 569He is supreme, he is incomparable,
Crusher of Māra’s armies;
Who seeing him would not be inspired,
Unless their nature was dark?
SC 37SC Verse 570What I wished for has arrived,
What I didn’t wish for has departed;
Right now I will go forth,
In the presence of the one of excellent wisdom.
SC 38SC Verse 571Pupils
If this is your pleasure, sir,
We too will go forth
In the teaching of the fully awakened Buddha,
In the presence of the one of excellent wisdom.
SC 39SC Verse 572Narrator
Then these three hundred brahmins
Asked, with palms folded:
“We would live the Holy Life
In the presence of the Buddha.”
SC 40SC Verse 573Buddha
The Holy Life is well-explained,
Apparent here and now, realizable in this very life,
Wherein the going forth is not fruitless,
For one who trains themselves diligently.
SC 41Then the brahmin Sela and his following gained the going forth and ordination in the Buddha’s presence. When the night had passed, Keṇiya of the Dreadlocked Hair, having prepared much fine food in his hermitage, had the time announced to the Buddha: “It is time, Master Gotama, the meal is ready.” In the morning, the Buddha dressed, took his bowl and robe, went to Keṇiya’s hermitage, and sat on the prepared seat together with the Saṅgha of bhikkhus.
SC 42Then Keṇiya served and satisfied the Saṅgha of bhikkhus with the Buddha at its head with fine food. Then when the Buddha had finished eating and had taken his hand from his bowl, Keṇiya sat at one side on a low seat, where the Buddha expressed his appreciation with the following verses.
SC 43SC Verse 574Buddha
The fire-oblation is the foremost of sacrifices;
The Sāvitrī is the foremost of poetic styles;
A king is the foremost of humans;
The ocean is the foremost of rivers.
SC 44SC Verse 575The moon is the foremost of heavenly bodies;
The sun the foremost of fires;
But for those wishing to do good,
An offering to the Saṅgha is foremost.
SC 45When the Buddha had expressed his appreciation to Keṇiya with these verses, he got up from his seat and left.
SC 46Then venerable Sela and his following, living in solitude, secluded, diligent and zealous by realizing for themselves with Direct Knowledge here and now entered upon and abided in that supreme goal of the Holy Life for the sake of which clansmen rightly leave home for homelessness. They Knew directly: birth is destroyed, the Holy Life has been lived, what had to be done has been done, there is no more coming to any state of being. And the venerable Sela and his following became arahants.
SC 47Then Sela and his following approached the Buddha, arranged their robes over one shoulder, extended their folded palms, and spoke the following verses:
SC 48SC Verse 576Sela
Eight days have passed, All-seeing Sage,
since for refuge we have gone.
In seven nights, O Radiant One,
in your teaching we’ve been tamed.
SC 49SC Verse 577The Buddha you are, the Teacher you are,
the Sage overcomer of Māra,
so sheared of all evil tendencies,
gone across and taken all others.
SC 50SC Verse 578All attachments have been surmounted,
all inflows are removed,
as a lion ungrasping,
abandoned fear and dread.
SC 51SC Verse 579Here stand three hundred bhikkhus,
with hands held out as lotuses:
stretch forth your feet, O Hero great,
that these now unblemished ones
may bow at their Teacher’s feet.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn du hành ở Anguttarapa cùng với đại chúng Tỷ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, và đi đến một thị trấn của Anguttarapa tên là Apāna.
SC 2Bện tóc Keniya được nghe: “Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya, du hành ở Anguttarapa cùng với đại chúng Tỷ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, và đã đến Apāna. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây về Tôn giả Gotama được khởi lên: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, các loài Trời và loài Người. Khi đã chứng ngộ, Ngài còn tuyên thuyết điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện văn nghĩa đầy đủ. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, trong sạch. Tốt đẹp thay sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!”.
SC 3Rồi bện tóc Keniya đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Thế Tôn với pháp thoại khai thị cho bện tóc Keniya đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Bện tóc Keniya sau khi được Thế Tôn với pháp thoại khai thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn
SC 4—Mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con ngày mai dùng cơm với chúng Tỷ-kheo.
SC 5Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với bện tóc Keniya
SC 6—Này Keniya, chúng Tỷ-kheo rất lớn, đến một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, và Ông có lòng tín thành với các Bà-la-môn.
SC 7Lần thứ hai, bện tóc Keniya bạch Thế Tôn
SC 8—Thưa Tôn giả Gotama, dầu chúng Tỷ-kheo rất lớn, đến một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, và dầu con có lòng tín thành với các Bà-la-môn, mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con, ngày mai dùng cơm với chúng Tỷ-kheo!
SC 9Lần thứ hai, Thế Tôn nói với bện tóc Keniya
SC 10—Này Keniya, chúng Tỷ-kheo rất lớn, đến một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, và Ông có lòng tín thành với các Bà-la-môn.
SC 11Lần thứ ba, bện tóc Keniya bạch Thế Tôn
SC 12—Thưa Tôn giả Gotama, dầu chúng Tỷ-kheo rất lớn, đến một ngàn hai trăm năm mươi Tỷ-kheo, và dầu con có lòng tín thành với các vị Bà-la-môn, mong Tôn giả Gotama nhận lời mời của con, ngày mai dùng cơm với chúng Tỷ-kheo!
SC 13Thế Tôn im lặng nhận lời. Bện tóc Keniya, sau khi được biết Thế Tôn đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến tịnh xá của mình, sau khi đến liền bảo các thân hữu, bà con huyết thống
SC 14—Quý vị Thân hữu, bà con huyết thống hãy nghe tôi. Sa-môn Gotama đã được tôi mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo. Vậy Quý vị hãy tự thân giúp việc cho tôi.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 15Các thân hữu, bà con huyết thống của bện tóc Keniya vâng đáp bện tóc Keniya. Có người thời đào hố (làm lò nấu); có người bửa củi; có người rửa chén bát; có người sắp đặt ghè nước; có người sửa soạn ghế ngồi; còn bện tóc Keniya tự mình dựng lên một giàn hoa hình tròn (Mandalamala).
SC 16Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sela trú tại Apāna, vị này tinh thông ba tập Veda, với tự vựng, lễ nghi, ngữ nguyên và thứ năm là các cổ truyện, thông hiểu từ ngữ và văn phạm, thâm hiểu Thuận thế luận và Ðại nhân tướng. Vị này dạy chú thuật (manta) cho ba trăm thanh niên Bà-la-môn.
SC 17Lúc bấy giờ bện tóc Keniya có lòng tín thành với Bà-la-môn Sela. Rồi Bà-la-môn Sela, với ba trăm thanh niên Bà-la-môn vây quanh, tản bộ du hành đi đến tinh xá của bện tóc Keniya. Bà-la-môn Sela thấy tại tinh xá của bện tóc Keniya, có người thời đào hố (làm lò nấu); có người bửa củi; có người rửa chén bát; có người sắp đặt ghè nước; có người sửa soạn ghế ngồi; còn bện tóc Keniya tự mình dựng lên một giàn hoa hình tròn. Thấy vậy, Bà-la-môn Sela bèn nói với bện tóc Keniya
SC 18—Có phải bện tóc Keniya sẽ rước dâu hay sẽ đưa dâu, hay một đại tế đàn được chuẩn bị, hay vua Seniya Bimbisāra nước Magadha được mời ngày mai với cả binh lực?
SC 19—Thưa Tôn giả Sela, tôi không có rước dâu, cũng không đưa dâu, vua Seniya Bimbisāra nước Magadha không có được mời ngày mai với cả binh lực, nhưng tôi chuẩn bị một đại tế đàn. Sa-môn Gotama là Thích tử, xuất gia từ dòng họ Sakya, du hành ở Anguttarapa cùng với đại chúng Tỷ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị, và đã đến Apāna. Tiếng đồn tốt đẹp sau đây về Tôn giả Gotama được khởi lên: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.” Vị ấy được con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo.
SC 20—Tôn giả Keniya, có phải Ông nói đức Phật?
SC 21—Tôn giả Sela, vâng, tôi nói đức Phật.
SC 22—Tôn giả Keniya, có phải Ông nói đức Phật?
SC 23—Tôn giả Sela, vâng, tôi nói đức Phật.
SC 24Rồi Tôn giả Bà-la-môn Sela suy nghĩ: “Chỉ một âm thanh đức Phật này cũng khó tìm được trong đời. Theo Thánh điển của chúng ta được truyền lại về ba mươi hai Ðại nhân tướng, những ai có ba mươi hai tướng ấy sẽ chọn một trong hai con đường, không có con đường nào khác: nếu là tại gia, sẽ thành vị Chuyển luân Thánh vương chinh phục mọi quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu này là xe báu, voi báu, ngựa báu, châu báu, ngọc nữ báu, cư sĩ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Và vị này có hơn một ngàn con trai là những vị anh hùng, oai phong lẫm liệt, chiến thắng ngoại quân. Vị này sống thống lãnh quả đất cùng tận cho đến đại dương, và trị vì với Chánh pháp, không dùng gậy, không dùng đao. Nếu vị này xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị này sẽ chứng quả A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, quét sạch mê lầm ở đời.” và ông ta nói
SC 25—Này Tôn giả Keniya, nay Tôn giả Gotama ấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy trú ở đâu?
SC 26Khi nghe nói vậy, bện tóc Keniya, duỗi cánh tay mặt, nói với Bà-la-môn Sela
SC 27—Tôn giả Sela, tại ngôi rừng xanh kia.
SC 28Rồi Bà-la-môn Sela, với ba trăm thanh niên đi đến Thế Tôn. Bà-la-môn bảo những thanh niên ấy
SC 29—Quý vị hãy đến một cách im lặng, đặt chân xuống từng bước một, các bậc Thế Tôn ấy như con sư tử sống một mình, rất khó đến gần (hay ưa thích an tịnh —Durasada). Nếu ta có thảo luận với Sa-môn Gotama, chư Tôn giả chớ ngắt lời ta. Chư Tôn giả hãy chờ ta nói xong.
SC 30Rồi Bà-la-môn Sela đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Sela tìm xem ba mươi hai Ðại nhân tướng trên thân Thế Tôn, Bà-la-môn Sela thấy phần lớn ba mươi hai Ðại nhân tướng trên thân Thế Tôn, trừ hai tướng. Ðối với hai Ðại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài.
SC 31Rồi Thế Tôn suy nghĩ: “Bà-la-môn Sela này thấy trên thân Ta phần lớn ba mươi hai Ðại nhân tướng, trừ hai tướng, đối với hai Ðại nhân tướng ấy, nghi hoặc sanh, do dự sanh, chưa được thỏa mãn, chưa được hài lòng, tức là tướng mã âm tàng và tướng lưỡi rộng dài”.
SC 32Thế Tôn liền dùng thần thông khiến Bà-la-môn Sela thấy được tướng mã âm tàng của Thế Tôn, và Thế Tôn le lưỡi, rờ đến, liếm đến hai lỗ tai; rờ đến, liếm đến hai lỗ mũi, và dùng lưỡi le khắp cả vùng trán.
SC 33Rồi Bà-la-môn Sela suy nghĩ: “Sa-môn Gotama thành tựu ba mươi hai Ðại nhân tướng một cách đầy đủ, không phải không đầy đủ, nhưng ta chưa biết vị ấy là Phật hay không phải Phật. Tuy vậy, ta có nghe các vị Bà-la-môn niên cao, lạp lớn, các bậc Tôn sư, Ðại Tôn sư, nói như sau: “Các Thế Tôn ấy, những bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, khi những lời tán thán của những bậc ấy được nói đến, các bậc ấy tự hiện hình ra”. Vậy ta hãy trước mặt Thế Tôn tán thán những bài kệ xứng đáng”. Rồi Bà-la-môn Sela, tán thán trước mặt Sa-môn Gotama những bài kệ xứng đáng như sau:
SC 34Thân trọn đủ chói sáng,
Khéo sanh và đẹp đẽ,
Thế Tôn sắc vàng chói,
Răng trơn, láng, tinh cần.
Ðối với người khéo sanh,
Những tướng tốt trang trọng,
Ðều có trên thân Ngài,
Tất cả Ðại nhân tướng.
Mắt sáng, mặt tròn đầy,
Cân đối, thẳng, hoàn mỹ,
Giữa chúng Sa-môn Tăng,
Ngài chói như mặt trời.
Ðẹp mắt vị Tỷ-kheo,
Da sáng như vàng chói,
Với hạnh Sa-môn, Ngài
Cần gì sắc tối thượng.
Ngài xứng bậc Ðại vương,
Chuyển Luân, bậc Ðiều Ngự,
Chiến thắng khắp thiên hạ,
Bậc tối thượng Diêm-phù.
Vương tộc, hào phú vương,
Là chư hầu của Ngài,
Là vua giữa các vua,
Là Giáo chủ loài Người.
Hãy trị vì quốc độ,
Tôn giả Gotama!
Thế Tôn liền trả lời:
SC 35Sela, Ta là vua,
Bậc Pháp vương vô thượng,
Ta chuyển bánh xe pháp,
Bánh xe chưa từng chuyển.
(Sela):
SC 36Ngài tự nhận Giác giả
Sela lại hỏi thêm,
“Bậc Pháp vương vô thượng,
Ta chuyển bánh xe Pháp”,
Ngài trả lời như vậy.
SC 37Tôn giả Gotama,
Ai sẽ là tướng quân?
Là Tôn giả đệ tử?
Vị đệ tử tín thành?
Xứng đáng bậc Ðạo sư?
Sau Ngài, ai sẽ chuyển,
Pháp luân Ngài đã chuyển?
(Thế Tôn):
SC 38Này Sela,
Ta chuyển bánh xe Pháp,
Bánh xe Pháp vô thượng.
Chính Sāriputta,
Chuyển bánh xe Chánh Pháp,
Thừa tự Như Lai vị.
SC 39Cần biết, Ta đã biết,
Cần tu, Ta đã tu,
Cần bỏ, Ta đã bỏ.
Do vậy Ta là Phật,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
SC 40Còn gì nghi ở Ta,
Hãy gác bỏ một bên,
Hãy giải thoát khỏi chúng,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
SC 41Thấy được bậc Chánh Giác,
Thật thiên nan vạn nan,
Bậc Chánh Giác ra đời,
Thật thiên nan vạn nan!
SC 42Ta là bậc Chánh Giác,
Bậc Y vương vô thượng,
Ôi, Tôn giả Phạm chí!
SC 43Là Phạm thiên khó sánh,
Nhiếp phục các ma quân.
Hàng phục mọi đối nghịch,
Ta sống tâm hoan hỷ,
Không sợ hãi một ai,
Không từ đâu run sợ.
(Sela):
SC 44Chư Tôn giả, hãy nghe!
Như bậc có mắt giảng,
Bậc Y vương, Anh hùng,
Sư tử rống rừng sâu.
SC 45Thấy Phạm thiên vô tỷ,
Nhiếp phục các ma quân,
Ai lại không tín thành,
Cho đến kẻ hạ tiện.
SC 46Ai muốn, hãy theo Ta,
Không muốn, hãy ra đi,
Ở đây, Ta xuất gia,
Bậc Trí Tuệ tối thượng!
(Các Bà-la-môn):
SC 47Nếu Tôn giả tín thành,
Giáo pháp bậc Chánh Giác,
Chúng con cũng xuất gia,
Bậc Trí Tuệ tối thượng!
(Sela):
SC 48Ba trăm Phạm chí ấy,
Chắp tay xin được phép:
Chúng con sống Phạm hạnh,
Do Thế Tôn lãnh đạo!
Thế Tôn đáp:
SC 49Nầy Sela,
Phạm hạnh được khéo giảng,
Thiết thực ngay hiện tại,
Vượt khỏi thời gian tính.
Ở đây sự xuất gia,
Không uổng công hoang phí,
Với ai không phóng dật,
Tinh tấn chuyên tu học.
SC 50Bà-la-môn Sela cùng với hội chúng được xuất gia dưới sự lãnh đạo Thế Tôn, được thọ đại giới.
SC 51Rồi Bà-la-môn Keniya, sau đêm ấy, tại tinh xá của mình, sau khi cho sửa soạn các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm xong, liền báo thời giờ lên Thế Tôn: “Tôn giả Gotama, đã đến giờ! Cơm đã sửa soạn xong”. Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến tinh xá của bện tóc Keniya, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi bện tóc Keniya sau khi tự tay mời chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu và làm cho thỏa mãn với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi bện tóc Keniya, sau khi Thế Tôn ăn xong, tay đã rời khỏi bát, liền lấy một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với bện tóc Keniya lời tùy hỷ công đức với những bài kệ sau đây:
SC 52Tế đàn là tối thượng,
Trong các lễ tế lửa,
Savitti là tối thượng,
Giữa bài thơ Veda.
SC 53Vua là bậc tối thượng,
Giữa thế giới loài Người,
Ðại dương là tối thượng,
Giữa các loại sông ngòi.
SC 54Mặt trăng là tối thượng,
Giữa các vì sao sáng,
Chúng Tăng thật tối thượng,
Với những ai bố thí,
Tâm mong ước nguyện cầu,
Gặt hái nhiều công đức.
SC 55Thế Tôn sau khi dùng bài kệ này nói những lời tùy hỷ công đức với bện tóc Keniya, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
SC 56Rồi Tôn giả Sela với hội chúng sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, Tôn giả chứng được mục đích tối cao mà các Thiện nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là vô thượng Phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự chứng đạt và an trú. Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa. Vị này biết như vậy và Tôn giả Sela với hội chúng trở thành các vị A-la-hán.
SC 57Rồi Tôn giả Sela với hội chúng đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đắp y vào một bên vai, chắp tay hướng đến Thế Tôn và đọc lên Thế Tôn bài kệ sau đây:
SC 58Kính bạch bậc Pháp Nhãn,
Cách đây trước tám ngày,
Chúng con đã đến Ngài,
Xin phát nguyện quy y.
SC 59Thế Tôn trong bảy đêm,
Ðã nhiếp phục chúng con,
Ðã chế ngự chúng con,
Trong giáo lý của Ngài.
SC 60Ngài là bậc Giác Giả,
Ngài là bậc Ðạo Sư,
Ngài là bậc Mâu-ni,
Ðã chiến thắng quần ma.
SC 61Sau khi Ngài đoạn trừ,
Vượt qua biển sanh tử,
Ngài giúp quần sanh này,
Cùng vượt qua bể khổ.
SC 62Sanh y Ngài vượt qua,
Lậu hoặc Ngài nghiền nát,
Ngài là Sư tử chúa,
Không chấp, không sợ hãi.
SC 63Ba trăm Tỷ-kheo này,
Ðồng chắp tay đứng thẳng,
Ôi anh hùng chiến thắng,
Hãy duỗi chân bước tới.
Hãy để các Ðại nhân
Ðảnh lễ bậc Ðạo Sư.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā aṅguttarāpesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi yena āpaṇaṁ nāma aṅguttarāpānaṁ nigamo tadavasari.
Assosi kho keṇiyo jaṭilo:
“samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito aṅguttarāpesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi āpaṇaṁ anuppatto.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ evaṁ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato:
‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti.
So imaṁ lokaṁ sadevakaṁ samārakaṁ sabrahmakaṁ sassamaṇabrāhmaṇiṁ pajaṁ sadevamanussaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti.
So dhammaṁ deseti ādikalyāṇaṁ majjhekalyāṇaṁ pariyosānakalyāṇaṁ sātthaṁ sabyañjanaṁ, kevalaparipuṇṇaṁ parisuddhaṁ brahmacariyaṁ pakāseti.
Sādhu kho pana tathārūpānaṁ arahataṁ dassanaṁ hotī”ti.
Atha kho keṇiyo jaṭilo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho keṇiyaṁ jaṭilaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho keṇiyo jaṭilo bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavantaṁ etadavoca:
“adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā keṇiyaṁ jaṭilaṁ etadavoca:
“mahā kho, keṇiya, bhikkhusaṅgho aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni; tvañca brāhmaṇesu abhippasanno”ti.
Dutiyampi kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi, bho gotama, mahā bhikkhusaṅgho aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni, ahañca brāhmaṇesu abhippasanno;
adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā keṇiyaṁ jaṭilaṁ etadavoca:
“mahā kho, keṇiya, bhikkhusaṅgho aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni; tvañca brāhmaṇesu abhippasanno”ti.
Tatiyampi kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ etadavoca:
“kiñcāpi, bho gotama, mahā bhikkhusaṅgho aḍḍhateḷasāni bhikkhusatāni, ahañca brāhmaṇesu abhippasanno,
adhivāsetu me bhavaṁ gotamo svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
Adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
Atha kho keṇiyo jaṭilo bhagavato adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā yena sako assamo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mittāmacce ñātisālohite āmantesi:
“suṇantu me bhavanto mittāmaccā ñātisālohitā,
samaṇo me gotamo nimantito svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghena,
yena me kāyaveyyāvaṭikaṁ kareyyāthā”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho keṇiyassa jaṭilassa mittāmaccā ñātisālohitā keṇiyassa jaṭilassa paṭissutvā appekacce uddhanāni khaṇanti, appekacce kaṭṭhāni phālenti, appekacce bhājanāni dhovanti, appekacce udakamaṇikaṁ patiṭṭhāpenti, appekacce āsanāni paññāpenti.
Keṇiyo pana jaṭilo sāmaṁyeva maṇḍalamāḷaṁ paṭiyādeti.
Tena kho pana samayena selo brāhmaṇo āpaṇe paṭivasati, tiṇṇaṁ vedānaṁ pāragū sanighaṇḍukeṭubhānaṁ sākkharappabhedānaṁ itihāsapañcamānaṁ padako veyyākaraṇo lokāyatamahāpurisalakkhaṇesu anavayo, tīṇi ca māṇavakasatāni mante vāceti.
Tena kho pana samayena keṇiyo jaṭilo sele brāhmaṇe abhippasanno hoti.
Atha kho selo brāhmaṇo tīhi māṇavakasatehi parivuto jaṅghāvihāraṁ anucaṅkamamāno anuvicaramāno yena keṇiyassa jaṭilassa assamo tenupasaṅkami.
Addasā kho selo brāhmaṇo keṇiyassa jaṭilassa assame appekacce uddhanāni khaṇante …pe… appekacce āsanāni paññapente, keṇiyaṁ pana jaṭilaṁ sāmaṁyeva maṇḍalamāḷaṁ paṭiyādentaṁ.
Disvāna keṇiyaṁ jaṭilaṁ etadavoca:
“kiṁ nu kho bhoto keṇiyassa āvāho vā bhavissati, vivāho vā bhavissati, mahāyañño vā paccupaṭṭhito, rājā vā māgadho seniyo bimbisāro nimantito svātanāya saddhiṁ balakāyenā”ti?
“Na me, bho sela, āvāho vā bhavissati vivāho vā, nāpi rājā māgadho seniyo bimbisāro nimantito svātanāya saddhiṁ balakāyena;
api ca kho me mahāyañño paccupaṭṭhito.
Atthi samaṇo gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito aṅguttarāpesu cārikaṁ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ aḍḍhateḷasehi bhikkhusatehi āpaṇaṁ anuppatto.
Taṁ kho pana bhavantaṁ gotamaṁ …pe…
buddho bhagavāti.
So me nimantito svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā”ti.
“Buddhoti, bho keṇiya, vadesi”?
“Buddhoti, bho sela, vadāmi”.
“Buddhoti, bho keṇiya, vadesi”?
“Buddhoti, bho sela, vadāmī”ti.
Atha kho selassa brāhmaṇassa etadahosi:
“ghosopi kho eso dullabho lokasmiṁ, yadidaṁ buddhoti.
Āgatāni kho panamhākaṁ mantesu dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni, yehi samannāgatassa mahāpurisassa dveva gatiyo bhavanti anaññā.
Sace agāraṁ ajjhāvasati rājā hoti cakkavattī dhammiko dhammarājā cāturanto vijitāvī janapadatthāvariyappatto sattaratanasamannāgato.
Tassimāni satta ratanāni bhavanti, seyyathidaṁ—
cakkaratanaṁ, hatthiratanaṁ, assaratanaṁ, maṇiratanaṁ, itthiratanaṁ, gahapatiratanaṁ, pariṇāyakaratanameva sattamaṁ.
Parosahassaṁ kho panassa puttā bhavanti sūrā vīraṅgarūpā parasenappamaddanā.
So imaṁ pathaviṁ sāgarapariyantaṁ adaṇḍena asatthena dhammena abhivijiya ajjhāvasati.
Sace kho pana agārasmā anagāriyaṁ pabbajati, arahaṁ hoti sammāsambuddho loke vivaṭṭacchado.
Kahaṁ pana, bho keṇiya, etarahi so bhavaṁ gotamo viharati arahaṁ sammāsambuddho”ti?
Evaṁ vutte, keṇiyo jaṭilo dakkhiṇaṁ bāhuṁ paggahetvā selaṁ brāhmaṇaṁ etadavoca:
“yenesā, bho sela, nīlavanarājī”ti.
Atha kho selo brāhmaṇo tīhi māṇavakasatehi saddhiṁ yena bhagavā tenupasaṅkami.
Atha kho selo brāhmaṇo te māṇavake āmantesi:
“appasaddā bhonto āgacchantu, pade padaṁ nikkhipantā.
Durāsadā hi te bhagavanto sīhāva ekacarā.
Yadā cāhaṁ, bho, samaṇena gotamena saddhiṁ manteyyaṁ, mā me bhonto antarantarā kathaṁ opātetha;
kathāpariyosānaṁ me bhavanto āgamentū”ti.
Atha kho selo brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho selo brāhmaṇo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni samannesi.
Addasā kho selo brāhmaṇo bhagavato kāye dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve.
Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—
kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cāti.
Atha kho bhagavato etadahosi:
“passati kho me ayaṁ selo brāhmaṇo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇāni yebhuyyena ṭhapetvā dve.
Dvīsu mahāpurisalakkhaṇesu kaṅkhati vicikicchati nādhimuccati na sampasīdati—
kosohite ca vatthaguyhe pahūtajivhatāya cā”ti.
Atha kho bhagavā tathārūpaṁ iddhābhisaṅkhāraṁ abhisaṅkhāsi, yathā addasa selo brāhmaṇo bhagavato kosohitaṁ vatthaguyhaṁ.
Atha kho bhagavā jivhaṁ ninnāmetvā ubhopi kaṇṇasotāni anumasi paṭimasi, ubhopi nāsikasotāni anumasi paṭimasi, kevalampi nalāṭamaṇḍalaṁ jivhāya chādesi.
Atha kho selassa brāhmaṇassa etadahosi:
“samannāgato kho samaṇo gotamo dvattiṁsamahāpurisalakkhaṇehi paripuṇṇehi, no aparipuṇṇehi.
No ca kho naṁ jānāmi buddho vā no vā.
Sutaṁ kho pana metaṁ brāhmaṇānaṁ vuḍḍhānaṁ mahallakānaṁ ācariyapācariyānaṁ bhāsamānānaṁ:
‘ye te bhavanti arahanto sammāsambuddhā, te sake vaṇṇe bhaññamāne attānaṁ pātukarontī’ti.
Yannūnāhaṁ samaṇaṁ gotamaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthaveyyan”ti.
Atha kho selo brāhmaṇo bhagavantaṁ sammukhā sāruppāhi gāthāhi abhitthavi:
“Paripuṇṇakāyo suruci,
Sujāto cārudassano;
Suvaṇṇavaṇṇosi bhagavā,
Susukkadāṭhosi vīriyavā.
Narassa hi sujātassa,
ye bhavanti viyañjanā;
Sabbe te tava kāyasmiṁ,
mahāpurisalakkhaṇā.
Pasannanetto sumukho,
brahā uju patāpavā;
Majjhe samaṇasaṅghassa,
ādiccova virocasi.
Kalyāṇadassano bhikkhu,
kañcanasannibhattaco;
Kiṁ te samaṇabhāvena,
evaṁ uttamavaṇṇino.
Rājā arahasi bhavituṁ,
cakkavattī rathesabho;
Cāturanto vijitāvī,
jambusaṇḍassa issaro.
Khattiyā bhogirājāno,
anuyantā bhavantu te;
Rājābhirājā manujindo,
rajjaṁ kārehi gotama”.
“Rājāhamasmi selāti,
(bhagavā)
Dhammarājā anuttaro;
Dhammena cakkaṁ vattemi,
Cakkaṁ appaṭivattiyaṁ”.
“Sambuddho paṭijānāsi,
(iti selo brāhmaṇo)
Dhammarājā anuttaro;
‘Dhammena cakkaṁ vattemi’,
Iti bhāsasi gotama.
Ko nu senāpati bhoto,
Sāvako satthuranvayo;
Ko te tamanuvatteti,
Dhammacakkaṁ pavattitaṁ”.
“Mayā pavattitaṁ cakkaṁ,
(selāti bhagavā)
Dhammacakkaṁ anuttaraṁ;
Sāriputto anuvatteti,
Anujāto tathāgataṁ.
Abhiññeyyaṁ abhiññātaṁ,
Bhāvetabbañca bhāvitaṁ;
Pahātabbaṁ pahīnaṁ me,
Tasmā buddhosmi brāhmaṇa.
Vinayassu mayi kaṅkhaṁ,
Adhimuccassu brāhmaṇa;
Dullabhaṁ dassanaṁ hoti,
Sambuddhānaṁ abhiṇhaso.
Yesaṁ ve dullabho loke,
Pātubhāvo abhiṇhaso;
Sohaṁ brāhmaṇa sambuddho,
Sallakatto anuttaro.
Brahmabhūto atitulo,
Mārasenappamaddano;
Sabbāmitte vasīkatvā,
Modāmi akutobhayo”.
“Imaṁ bhavanto nisāmetha,
Yathā bhāsati cakkhumā;
Sallakatto mahāvīro,
Sīhova nadatī vane.
Brahmabhūtaṁ atitulaṁ,
Mārasenappamaddanaṁ;
Ko disvā nappasīdeyya,
Api kaṇhābhijātiko.
Yo maṁ icchati anvetu,
Yo vā nicchati gacchatu;
Idhāhaṁ pabbajissāmi,
Varapaññassa santike”.
“Evañce ruccati bhoto,
Sammāsambuddhasāsane;
Mayampi pabbajissāma,
Varapaññassa santike”.
Brāhmaṇā tisatā ime,
Yācanti pañjalīkatā;
“Brahmacariyaṁ carissāma,
Bhagavā tava santike”.
“Svākkhātaṁ brahmacariyaṁ,
(selāti bhagavā)
Sandiṭṭhikamakālikaṁ;
Yattha amoghā pabbajjā,
Appamattassa sikkhato”ti.
Alattha kho selo brāhmaṇo sapariso bhagavato santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Atha kho keṇiyo jaṭilo tassā rattiyā accayena sake assame paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā bhagavato kālaṁ ārocāpesi:
“kālo, bho gotama, niṭṭhitaṁ bhattan”ti.
Atha kho bhagavā pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena keṇiyassa jaṭilassa assamo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Atha kho keṇiyo jaṭilo buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho keṇiyo jaṭilo bhagavantaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho keṇiyaṁ jaṭilaṁ bhagavā imāhi gāthāhi anumodi:
“Aggihuttamukhā yaññā,
Sāvittī chandaso mukhaṁ;
Rājā mukhaṁ manussānaṁ,
Nadīnaṁ sāgaro mukhaṁ.
Nakkhattānaṁ mukhaṁ cando,
Ādicco tapataṁ mukhaṁ;
Puññaṁ ākaṅkhamānānaṁ,
Saṅgho ve yajataṁ mukhan”ti.
Atha kho bhagavā keṇiyaṁ jaṭilaṁ imāhi gāthāhi anumoditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi.
Atha kho āyasmā selo sapariso eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto viharanto nacirasseva …pe…
aññataro kho panāyasmā selo sapariso arahataṁ ahosi.
Atha kho āyasmā selo sapariso yena bhagavā tenupasaṅkami, upasaṅkamitvā ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ gāthāya ajjhabhāsi:
“Yaṁ taṁ saraṇamāgamha,
Ito aṭṭhami cakkhuma;
Sattarattena bhagavā,
Dantamha tava sāsane.
Tuvaṁ buddho tuvaṁ satthā,
Tuvaṁ mārābhibhū muni;
Tuvaṁ anusaye chetvā,
Tiṇṇo tāresimaṁ pajaṁ.
Upadhī te samatikkantā,
Āsavā te padālitā;
Sīhosi anupādāno,
Pahīnabhayabheravo.
Bhikkhavo tisatā ime,
Tiṭṭhanti pañjalīkatā;
Pāde vīra pasārehi,
Nāgā vandantu satthuno”ti.
Selasuttaṁ sattamaṁ.