Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1201-1300
SA1232 Kinh 1232. bỏn sẻn
SA1201 Kinh 1201. liên hoa sắc SA1202 Kinh 1202. thi-la SA1203 Kinh 1203. tỳ-la SA1204 Kinh 1204. tỳ-xà-da SA1205 Kinh 1205. giá-la SA1206 Kinh 1206. ưu-ba-giá-la SA1207 Kinh 1207. thi-lợi-sa-giá-la SA1208 Kinh 1208. ao yết-già SA1209 Kinh 1209. kiều-trần-như SA1210 Kinh 1210. xá-lợi-phất SA1211 Kinh 1211. na-già sơn SA1212 Kinh 1212. tự tứ SA1213 Kinh 1213. bất lạc SA1214 Kinh 1214. tham dục SA1215 Kinh 1215. xuất ly SA1216 Kinh 1216. kiêu mạn SA1217 Kinh 1217. bản dục cuồng hoặc SA1218 Kinh 1218. bốn pháp cú SA1219 Kinh 1219. sườn núi na-già SA1220 Kinh 1220. nhổ tên SA1221 Kinh 1221. ni-câu-luật tưởng SA1222 Kinh 1222. tổ chim SA1223 Kinh 1223. người nghèo SA1224 Kinh 1224. đại tế tự (1) SA1225 Kinh 1225. đại tế tự (2) SA1226 Kinh 1226. tam-bồ-đề SA1227 Kinh 1227. mẹ SA1228 Kinh 1228. thân yêu SA1229 Kinh 1229. tự hộ SA1230 Kinh 1230. tài lợi SA1231 Kinh 1231. tham lợi SA1232 Kinh 1232. bỏn sẻn SA1233 Kinh 1233. mệnh chung SA1234 Kinh 1234. tế tự SA1235 Kinh 1235. hệ phược SA1236 Kinh 1236. chiến đấu (1) SA1237 Kinh 1237. chiến đấu (2) SA1238 Kinh 1238. không buông lung (1) SA1239 Kinh 1239. không buông lung (2) SA1240 Kinh 1240. ba pháp SA1241 Kinh 1241. gia nhân SA1242 Kinh 1242. sống cung kính SA1243 Kinh 1243. tàm quý SA1244 Kinh 1244. thiêu đốt SA1245 Kinh 1245. ác hành SA1246 Kinh 1246. luyện kim SA1247 Kinh 1247. ba tướng SA1248 Kinh 1248. chăn bò (1) SA1249 Kinh 1249. chăn bò (2) SA1250 Kinh 1250. na-đề-ca (1) SA1251 Kinh 1251. na-đề-ca (2) SA1252 Kinh 1252. mộc chẩm SA1253 Kinh 1253. bách phủ SA1254 Kinh 1254. gia đình SA1255 Kinh 1255. dao găm SA1256 Kinh 1256. móng tay SA1257 Kinh 1257. cung thủ SA1258 Kinh 1258. a-năng-ha SA1259 Kinh 1259. hòn sắt SA1260 Kinh 1260. miêu ly SA1261 Kinh 1261. chày gỗ SA1262 Kinh 1262. dã hồ (1) SA1263 Kinh 1263. phân tiểu SA1264 Kinh 1264. dã hồ (2) SA1265 KINH 1265 SA1266 Kinh 1266. xiển-đà SA1267 Kinh 1267. sử lưu SA1268 Kinh 1268. giải thoát SA1269 Kinh 1269. chiên-đàn SA1270 Kinh 1270. câu-ca-ni (1) SA1271 Kinh 1271. câu-ca-ni (2) SA1272 Kinh 1272. câu-ca-ni (3) SA1273 Kinh 1273. câu-ca-ni (4) SA1274 Kinh 1274. câu-ca-ni (5) SA1275 Kinh 1275. xúc SA1276 Kinh 1276. an lạc SA1277 Kinh 1277. hiềm trách SA1278 Kinh 1278. cù-ca-lê SA1279 KINH 1279 SA1280 KINH 1280 SA1281 KINH 1281 SA1282 KINH 1282 SA1283 KINH 1283 SA1284 KINH 1284 SA1285 KINH 1285 SA1286 KINH 1286 SA1287 KINH 1287 SA1288 KINH 1288 SA1289 KINH 1289 SA1290 KINH 1290 SA1291 KINH 1291 SA1292 KINH 1292 SA1293 KINH 1293 SA1294 Kinh 1294. sở cầu SA1295 Kinh 1295. xe SA1296 Kinh 1296. sanh con SA1297 Kinh 1297. số SA1298 Kinh 1298. vật gì SA1299 Kinh 1299. giới gì SA1300 Kinh 1300. mạng
SA1232

Kinh 1232. bỏn sẻn

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, nước Xá-vệ này có gia chủ Ma-ha-nam, giàu có nhiều của cải, kho chứa vàng ròng có đến trăm nghìn ức, huống là những của khác. Bạch Thế Tôn, gia chủ Ma-ha-nam giàu có như vậy, nhưng đồ ăn chỉ dùng những thứ như: Ăn gạo tấm thô sơ, canh đậu, gừng cũ nát; còn mặc thì áo vải thô, mang giày da đơn; đi thì xe cũ kỹ, đội nón lá cây. Chưa từng nghe ông ta cúng dường, bố thí cho Sa-môn, Bà-la-môn, hay thấy ông cung cấp giúp đỡ cho những người nghèo khổ, những người lỡ đường thiếu thốn, những người ăn xin. Khi ăn thì đóng cửa, không để cho các Sa-môn, Bà-la-môn nào hay những người bần cùng, những người lỡ đường, những người ăn xin, trông thấy.”

Phật bảo vua Ba-tư-nặc:

“Đại vương, gia chủ này không phải là Chánh sĩ, được tài lợi thắng diệu mà không tự thọ dụng, không biết phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp cho vợ con, bà con quyến thuộc, đoái nghĩ đến tôi tớ, giúp đỡ cho người quen biết, không biết tùy thời cúng dường Sa-môn, Bà-la-môn, để gieo trồng vào ruộng phước thù thắng, để hướng đến chỗ cao quý, hưởng thụ an lạc lâu dài, đời sau sanh về cõi trời. Được những tài vật thù thắng mà không biết cách dùng rộng rãi để thâu lợi lớn.

“Đại vương, thí như nước được tích chứa trong ao hồ ở giữa đồng hoang, mà không có người dùng đến để uống ăn, tắm rửa, nước trong đầm bị nung khô tiêu hết. Cũng vậy, kẻ sĩ bất thiện được tài vật thắng diệu,… cho đến không chịu dùng rộng rãi để thâu lợi lớn, cũng giống như hồ nước kia vậy.

“Đại vương, có thiện nam tử được tài lợi thắng diệu, sung sướng mà thọ dùng, phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp vợ con bà con quyến thuộc, nghĩ đến tôi tớ, giúp đỡ người quen biết, thường xuyên cũng cúng dường cho Sa-môn, Bà-la-môn, gieo trồng vào ruộng phước thù thắng, để hướng đến chỗ cao quý, đời sau sanh về cõi trời; được tiền của thù thắng, biết cách thọ dụng rộng rãi để thu lợi lớn gấp bội. Đại vương, giống như bên cạnh thành ấp, làng xóm có ao nước trong sạch mát mẻ, cây cối che mát, khiến mọi người yêu thích, nhiều người chịu dùng, cho đến loài cầm thú. Cũng vậy, thiện nam tử kia được tài lợi thắng diệu, tự cúng dường tùy thích, phụng dưỡng cha mẹ,… cho đến gieo trồng ruộng phước thù thắng, thu lợi rộng lớn.”

Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:

Hồ nước nơi hoang mạc,
Dù trong mát sạch sẽ,
Mà không người thọ dụng,
Thì nơi đó khô hết.

Cũng vậy của thắng diệu,
Mà ở nơi người ác,
Không thể tự thọ dụng,
Cũng không thương giúp ai.

Luống tự gom góp khổ,
Chứa rồi tự tiêu tán.

Người trí được của nhiều,
Tự mình vui thọ dụng;
Thí khắp làm công đức,
Giúp đỡ cho thân thuộc;
Tùy chỗ cần cung cấp,
Như trâu chúa lãnh đàn.

Bố thí cùng thọ dụng,
Không mất cơ hội cần.
Nương lý mà mạng chung,
Sanh Thiên hưởng phước lạc.

Phật nói kinh này xong, vua Ba-tư-nặc nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ làm lễ ra về.

⏳ Đang tải SA1233...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc