Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1201-1300
SA1244 Kinh 1244. thiêu đốt
SA1201 Kinh 1201. liên hoa sắc SA1202 Kinh 1202. thi-la SA1203 Kinh 1203. tỳ-la SA1204 Kinh 1204. tỳ-xà-da SA1205 Kinh 1205. giá-la SA1206 Kinh 1206. ưu-ba-giá-la SA1207 Kinh 1207. thi-lợi-sa-giá-la SA1208 Kinh 1208. ao yết-già SA1209 Kinh 1209. kiều-trần-như SA1210 Kinh 1210. xá-lợi-phất SA1211 Kinh 1211. na-già sơn SA1212 Kinh 1212. tự tứ SA1213 Kinh 1213. bất lạc SA1214 Kinh 1214. tham dục SA1215 Kinh 1215. xuất ly SA1216 Kinh 1216. kiêu mạn SA1217 Kinh 1217. bản dục cuồng hoặc SA1218 Kinh 1218. bốn pháp cú SA1219 Kinh 1219. sườn núi na-già SA1220 Kinh 1220. nhổ tên SA1221 Kinh 1221. ni-câu-luật tưởng SA1222 Kinh 1222. tổ chim SA1223 Kinh 1223. người nghèo SA1224 Kinh 1224. đại tế tự (1) SA1225 Kinh 1225. đại tế tự (2) SA1226 Kinh 1226. tam-bồ-đề SA1227 Kinh 1227. mẹ SA1228 Kinh 1228. thân yêu SA1229 Kinh 1229. tự hộ SA1230 Kinh 1230. tài lợi SA1231 Kinh 1231. tham lợi SA1232 Kinh 1232. bỏn sẻn SA1233 Kinh 1233. mệnh chung SA1234 Kinh 1234. tế tự SA1235 Kinh 1235. hệ phược SA1236 Kinh 1236. chiến đấu (1) SA1237 Kinh 1237. chiến đấu (2) SA1238 Kinh 1238. không buông lung (1) SA1239 Kinh 1239. không buông lung (2) SA1240 Kinh 1240. ba pháp SA1241 Kinh 1241. gia nhân SA1242 Kinh 1242. sống cung kính SA1243 Kinh 1243. tàm quý SA1244 Kinh 1244. thiêu đốt SA1245 Kinh 1245. ác hành SA1246 Kinh 1246. luyện kim SA1247 Kinh 1247. ba tướng SA1248 Kinh 1248. chăn bò (1) SA1249 Kinh 1249. chăn bò (2) SA1250 Kinh 1250. na-đề-ca (1) SA1251 Kinh 1251. na-đề-ca (2) SA1252 Kinh 1252. mộc chẩm SA1253 Kinh 1253. bách phủ SA1254 Kinh 1254. gia đình SA1255 Kinh 1255. dao găm SA1256 Kinh 1256. móng tay SA1257 Kinh 1257. cung thủ SA1258 Kinh 1258. a-năng-ha SA1259 Kinh 1259. hòn sắt SA1260 Kinh 1260. miêu ly SA1261 Kinh 1261. chày gỗ SA1262 Kinh 1262. dã hồ (1) SA1263 Kinh 1263. phân tiểu SA1264 Kinh 1264. dã hồ (2) SA1265 KINH 1265 SA1266 Kinh 1266. xiển-đà SA1267 Kinh 1267. sử lưu SA1268 Kinh 1268. giải thoát SA1269 Kinh 1269. chiên-đàn SA1270 Kinh 1270. câu-ca-ni (1) SA1271 Kinh 1271. câu-ca-ni (2) SA1272 Kinh 1272. câu-ca-ni (3) SA1273 Kinh 1273. câu-ca-ni (4) SA1274 Kinh 1274. câu-ca-ni (5) SA1275 Kinh 1275. xúc SA1276 Kinh 1276. an lạc SA1277 Kinh 1277. hiềm trách SA1278 Kinh 1278. cù-ca-lê SA1279 KINH 1279 SA1280 KINH 1280 SA1281 KINH 1281 SA1282 KINH 1282 SA1283 KINH 1283 SA1284 KINH 1284 SA1285 KINH 1285 SA1286 KINH 1286 SA1287 KINH 1287 SA1288 KINH 1288 SA1289 KINH 1289 SA1290 KINH 1290 SA1291 KINH 1291 SA1292 KINH 1292 SA1293 KINH 1293 SA1294 Kinh 1294. sở cầu SA1295 Kinh 1295. xe SA1296 Kinh 1296. sanh con SA1297 Kinh 1297. số SA1298 Kinh 1298. vật gì SA1299 Kinh 1299. giới gì SA1300 Kinh 1300. mạng
SA1244

Kinh 1244. thiêu đốt

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Có pháp đốt cháy và pháp không đốt cháy. Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà giảng nói. Thế nào là pháp đốt cháy? Nếu người nam hay người nữ nào, hành pháp ác bất thiện, phạm giới; thân thành tựu ác hạnh; khẩu, ý thành tựu ác hạnh; người ấy về sau, khi khốn khổ bởi tật bệnh, nằm liệt trên giường, chịu nhiều đau đớn. Lúc bấy giờ, tất cả những việc làm ác trước kia người ấy đều nhớ lại hết. Cũng như bóng núi lớn che ánh mặt trời Tây; cũng vậy, chúng sanh trước kia đã tạo ra mọi điều ác, những pháp ác bất thiện do thân, khẩu, ý nghiệp, đến lúc lâm chung, tất cả đều hiện ra, tâm sanh hối hận: ‘Than ôi! Than ôi! Vì trước kia không tu thiện, chỉ làm ác, nên sẽ đọa vào đường dữ, chịu nhiều khổ đau.’ Sau khi nhớ lại rồi, tâm bị đốt cháy, tâm sanh hối hận. Khi sanh tâm hối hận nên không được chết với tâm thiện; đời sau tâm bất thiện cũng tiếp nối sanh. Đó gọi là pháp đốt cháy.

“Thế nào gọi là pháp không đốt cháy? Nếu người nam hay người nữ nào thọ trì tịnh giới, tu pháp chân thật, thân thành tựu nghiệp thiện; khẩu, ý thành tựu nghiệp thiện; khi lâm chung tuy thân gặp phải khổ nạn, nằm liệt trên giường bệnh, thân thể chịu nhiều đau đớn, nhưng tâm người ấy nhớ lại pháp thiện trước kia đã tu; thân, khẩu và ý đã thành tựu thiện hạnh. Lúc bấy giờ, duyên vào những pháp thiện, người ấy nghĩ rằng: ‘Thân, khẩu, ý ta đã tạo ra thiện hạnh như vậy, không làm các điều ác, sẽ sanh về đường thiện, không đọa vào đường ác, tâm không có gì hối hận.’ Do tâm không biến hối, nên mạng chung với thiện tâm, qua đời sau thiện vẫn tiếp tục. Đó gọi là pháp không đốt cháy.”

Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:

Đã gieo nghiệp thiêu đốt,
Sống nương theo phi pháp;
Theo đó làm nghiệp ác,
Ắt sanh vào địa ngục.

Đẳng hoạt và Hắc thằng,
Chúng hợp, hai Khiếu hô;
Thiêu nhiên, Cực thiêu nhiên,
Đại địa ngục Vô trạch.

Tám đại địa ngục ấy,
Cực khổ khó vượt qua;
Vì bao nhiêu ác nghiệp,
Mười sáu nơi khác nhau.

Mở bốn cửa bốn bên,
Khoảng giữa lượng bằng nhau;
Bốn bên bằng vách sắt,
Bốn cánh cửa cũng sắt.

Đất sắt lửa cháy bùng,
Chúng cháy rực khắp nơi;
Ngang dọc trăm do tuần,
Hừng hực không đoạn dứt.

Điều phục phi chư hành,
Khảo trị người cang cường;
Cho đau đớn lâu dài,
Khổ này khó thể thấy.

Người thấy sanh sợ hãi,
Run sợ, lông dựng đứng.
Khi đọa địa ngục này,
Chúc đầu xuống, chân lên.

Ngăn người tu hành phạm hạnh
Tâm nhu hòa bậc Thánh;
Nơi chỗ Hiền thánh này,
Khinh tâm khởi phi nghĩa,
Và sát hại chúng sanh,
Đọa địa ngục nóng này.

Quằn quại ở trong lửa,
Giống như cá nướng lửa.
Thống khổ kêu, la hét,
Như tiếng đàn voi chiến.

Lửa lớn tự nhiên sanh,
Đó do nghiệp của chúng.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA1245...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc