Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1201-1300
SA1246 Kinh 1246. luyện kim
SA1201 Kinh 1201. liên hoa sắc SA1202 Kinh 1202. thi-la SA1203 Kinh 1203. tỳ-la SA1204 Kinh 1204. tỳ-xà-da SA1205 Kinh 1205. giá-la SA1206 Kinh 1206. ưu-ba-giá-la SA1207 Kinh 1207. thi-lợi-sa-giá-la SA1208 Kinh 1208. ao yết-già SA1209 Kinh 1209. kiều-trần-như SA1210 Kinh 1210. xá-lợi-phất SA1211 Kinh 1211. na-già sơn SA1212 Kinh 1212. tự tứ SA1213 Kinh 1213. bất lạc SA1214 Kinh 1214. tham dục SA1215 Kinh 1215. xuất ly SA1216 Kinh 1216. kiêu mạn SA1217 Kinh 1217. bản dục cuồng hoặc SA1218 Kinh 1218. bốn pháp cú SA1219 Kinh 1219. sườn núi na-già SA1220 Kinh 1220. nhổ tên SA1221 Kinh 1221. ni-câu-luật tưởng SA1222 Kinh 1222. tổ chim SA1223 Kinh 1223. người nghèo SA1224 Kinh 1224. đại tế tự (1) SA1225 Kinh 1225. đại tế tự (2) SA1226 Kinh 1226. tam-bồ-đề SA1227 Kinh 1227. mẹ SA1228 Kinh 1228. thân yêu SA1229 Kinh 1229. tự hộ SA1230 Kinh 1230. tài lợi SA1231 Kinh 1231. tham lợi SA1232 Kinh 1232. bỏn sẻn SA1233 Kinh 1233. mệnh chung SA1234 Kinh 1234. tế tự SA1235 Kinh 1235. hệ phược SA1236 Kinh 1236. chiến đấu (1) SA1237 Kinh 1237. chiến đấu (2) SA1238 Kinh 1238. không buông lung (1) SA1239 Kinh 1239. không buông lung (2) SA1240 Kinh 1240. ba pháp SA1241 Kinh 1241. gia nhân SA1242 Kinh 1242. sống cung kính SA1243 Kinh 1243. tàm quý SA1244 Kinh 1244. thiêu đốt SA1245 Kinh 1245. ác hành SA1246 Kinh 1246. luyện kim SA1247 Kinh 1247. ba tướng SA1248 Kinh 1248. chăn bò (1) SA1249 Kinh 1249. chăn bò (2) SA1250 Kinh 1250. na-đề-ca (1) SA1251 Kinh 1251. na-đề-ca (2) SA1252 Kinh 1252. mộc chẩm SA1253 Kinh 1253. bách phủ SA1254 Kinh 1254. gia đình SA1255 Kinh 1255. dao găm SA1256 Kinh 1256. móng tay SA1257 Kinh 1257. cung thủ SA1258 Kinh 1258. a-năng-ha SA1259 Kinh 1259. hòn sắt SA1260 Kinh 1260. miêu ly SA1261 Kinh 1261. chày gỗ SA1262 Kinh 1262. dã hồ (1) SA1263 Kinh 1263. phân tiểu SA1264 Kinh 1264. dã hồ (2) SA1265 KINH 1265 SA1266 Kinh 1266. xiển-đà SA1267 Kinh 1267. sử lưu SA1268 Kinh 1268. giải thoát SA1269 Kinh 1269. chiên-đàn SA1270 Kinh 1270. câu-ca-ni (1) SA1271 Kinh 1271. câu-ca-ni (2) SA1272 Kinh 1272. câu-ca-ni (3) SA1273 Kinh 1273. câu-ca-ni (4) SA1274 Kinh 1274. câu-ca-ni (5) SA1275 Kinh 1275. xúc SA1276 Kinh 1276. an lạc SA1277 Kinh 1277. hiềm trách SA1278 Kinh 1278. cù-ca-lê SA1279 KINH 1279 SA1280 KINH 1280 SA1281 KINH 1281 SA1282 KINH 1282 SA1283 KINH 1283 SA1284 KINH 1284 SA1285 KINH 1285 SA1286 KINH 1286 SA1287 KINH 1287 SA1288 KINH 1288 SA1289 KINH 1289 SA1290 KINH 1290 SA1291 KINH 1291 SA1292 KINH 1292 SA1293 KINH 1293 SA1294 Kinh 1294. sở cầu SA1295 Kinh 1295. xe SA1296 Kinh 1296. sanh con SA1297 Kinh 1297. số SA1298 Kinh 1298. vật gì SA1299 Kinh 1299. giới gì SA1300 Kinh 1300. mạng
SA1246

Kinh 1246. luyện kim

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật trú tại thành Vương xá, tại trú xứ của người thợ vàng. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Như người đúc vàng, gom đất cát lại bỏ vào máng. Sau đó dùng nước dội lên. Những thứ nặng thô, tạp uế và các thứ đá vụn, đất rắn, theo nước trôi đi. Nhưng những hạt cát thô vẫn còn kết dính. Lại dùng nước dội vào; những hạt cát thô ấy theo nước trôi đi. Sau đó mới có vàng nguyên, nhưng vẫn bị những thứ cát mịn bị đất đen kết dính. Lại dùng nước dội lên, những hạt cát mịn, đất đen theo nước trôi đi. Sau đó còn lại vàng ròng thuần tịnh không tạp. Nhưng vẫn còn cáu bợn rất nhỏ, tợ vàng. Tiếp đó, người thợ vàng đem nó bỏ vào lò, thụt ống bệ để tăng lửa cho nó tan thành dung dịch, loại bỏ hết cáu bợn. Nhưng vàng nguyên vẫn chưa nhẹ, chưa mềm, chưa phát ánh sáng; gấp lại, kéo ra, còn bị gãy. Người luyện vàng hay người đệ tử luyện vàng lại phải bỏ vào lò, thụt bệ cho lửa tăng, lật qua, lật lại để hun đúc, sau cùng, vàng nguyên mới nhẹ mềm, trở thành bóng loáng, gấp, kéo, không bị gãy, tùy theo ý muốn, làm các loại đồ trang sức như xoa, bông tai, vòng, xuyến.

“Tỳ-kheo tiến hướng tịnh tâm cũng như vậy. Những phiền não thô đang quấn chặt, nghiệp ác bất thiện, các tà kiến ác, dần dần được đoạn trừ khiến cho tiêu diệt; như vàng nguyên kia phải loại bỏ đi những đá vụn, đất rắn.

“Lại nữa, Tỳ-kheo tiến hướng tịnh tâm tiếp đến từ bỏ những cáu bợn thô như dục giác, nhuế giác, hại giác; như vàng nguyên được loại bỏ cát sạn thô.

“Lại nữa, Tỳ-kheo tiến hướng tịnh tâm tiếp tục loại bỏ những cáu bợn vi tế như giác tưởng về thân tộc, giác tưởng vì nhân chúng, giác tưởng về sanh thiên, bằng tư duy mà loại trừ; như vàng nguyên kia được loại bỏ đi bụi bặm, cát mịn, đất đen.

“Lại nữa, Tỳ-kheo tiến hướng tịnh tâm, khi có giác tưởng về thiện pháp, bằng tư duy mà trừ diệt, cho tâm thanh tịnh; giống như vàng nguyên được loại bỏ đi những cáu bợn có màu như vàng ròng, để trở thành thuần tịnh.

“Lại nữa, Tỳ-kheo đối với các tam-muội được duy trì bởi hữu hành, cũng giống như ao nước có bờ giữ chung quanh. Còn được duy trì bởi pháp, thì không được tịch tĩnh, thắng diệu, không được sự an lạc của chỉ tức, diệt tận các hữu lậu; như thầy trò thợ vàng đãi lọc vàng nguyên, loại bỏ những cáu bẩn, nhưng chưa nhẹ, chưa mềm, chưa trở thành bóng loáng, uốn lại kéo ra bị gãy, không thể làm đồ trang sức theo ý muốn được.

“Lại nữa, Tỳ-kheo khi đã đắc các tam-muội, không cần được duy trì bởi hữu hành, được tịch tĩnh thắng diệu, được con đường dẫn đến an lạc của chỉ tức, nhất tâm nhất ý, diệt tận các hữu lậu; như thầy trò thợ vàng luyện lọc vàng nguyên cho đến khi nó nhẹ, mềm, bóng loáng, tùy ý uốn vào kéo ra.

“Lại nữa, Tỳ-kheo lìa các giác quán, cho đến đắc đệ Nhị, đệ Tam, đệ Tứ thiền; chánh thọ như vậy thuần nhất thanh tịnh, lìa các phiền não, nhu nhuyến, chân thật, bất động. Nếu muốn tác chứng các nhập xứ kia tất có thể được tác chứng; như thợ vàng, luyện lọc vàng nguyên đến mức nhẹ, mềm, bóng loáng, không gãy, muốn làm đồ gì tùy theo ý muốn. Cũng vậy, Tỳ-kheo chứng nhập tam-muội,… cho đến đối các nhập xứ, đều có thể tác chứng được.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA1247...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc