Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1201-1300
SA1278 Kinh 1278. cù-ca-lê
SA1201 Kinh 1201. liên hoa sắc SA1202 Kinh 1202. thi-la SA1203 Kinh 1203. tỳ-la SA1204 Kinh 1204. tỳ-xà-da SA1205 Kinh 1205. giá-la SA1206 Kinh 1206. ưu-ba-giá-la SA1207 Kinh 1207. thi-lợi-sa-giá-la SA1208 Kinh 1208. ao yết-già SA1209 Kinh 1209. kiều-trần-như SA1210 Kinh 1210. xá-lợi-phất SA1211 Kinh 1211. na-già sơn SA1212 Kinh 1212. tự tứ SA1213 Kinh 1213. bất lạc SA1214 Kinh 1214. tham dục SA1215 Kinh 1215. xuất ly SA1216 Kinh 1216. kiêu mạn SA1217 Kinh 1217. bản dục cuồng hoặc SA1218 Kinh 1218. bốn pháp cú SA1219 Kinh 1219. sườn núi na-già SA1220 Kinh 1220. nhổ tên SA1221 Kinh 1221. ni-câu-luật tưởng SA1222 Kinh 1222. tổ chim SA1223 Kinh 1223. người nghèo SA1224 Kinh 1224. đại tế tự (1) SA1225 Kinh 1225. đại tế tự (2) SA1226 Kinh 1226. tam-bồ-đề SA1227 Kinh 1227. mẹ SA1228 Kinh 1228. thân yêu SA1229 Kinh 1229. tự hộ SA1230 Kinh 1230. tài lợi SA1231 Kinh 1231. tham lợi SA1232 Kinh 1232. bỏn sẻn SA1233 Kinh 1233. mệnh chung SA1234 Kinh 1234. tế tự SA1235 Kinh 1235. hệ phược SA1236 Kinh 1236. chiến đấu (1) SA1237 Kinh 1237. chiến đấu (2) SA1238 Kinh 1238. không buông lung (1) SA1239 Kinh 1239. không buông lung (2) SA1240 Kinh 1240. ba pháp SA1241 Kinh 1241. gia nhân SA1242 Kinh 1242. sống cung kính SA1243 Kinh 1243. tàm quý SA1244 Kinh 1244. thiêu đốt SA1245 Kinh 1245. ác hành SA1246 Kinh 1246. luyện kim SA1247 Kinh 1247. ba tướng SA1248 Kinh 1248. chăn bò (1) SA1249 Kinh 1249. chăn bò (2) SA1250 Kinh 1250. na-đề-ca (1) SA1251 Kinh 1251. na-đề-ca (2) SA1252 Kinh 1252. mộc chẩm SA1253 Kinh 1253. bách phủ SA1254 Kinh 1254. gia đình SA1255 Kinh 1255. dao găm SA1256 Kinh 1256. móng tay SA1257 Kinh 1257. cung thủ SA1258 Kinh 1258. a-năng-ha SA1259 Kinh 1259. hòn sắt SA1260 Kinh 1260. miêu ly SA1261 Kinh 1261. chày gỗ SA1262 Kinh 1262. dã hồ (1) SA1263 Kinh 1263. phân tiểu SA1264 Kinh 1264. dã hồ (2) SA1265 KINH 1265 SA1266 Kinh 1266. xiển-đà SA1267 Kinh 1267. sử lưu SA1268 Kinh 1268. giải thoát SA1269 Kinh 1269. chiên-đàn SA1270 Kinh 1270. câu-ca-ni (1) SA1271 Kinh 1271. câu-ca-ni (2) SA1272 Kinh 1272. câu-ca-ni (3) SA1273 Kinh 1273. câu-ca-ni (4) SA1274 Kinh 1274. câu-ca-ni (5) SA1275 Kinh 1275. xúc SA1276 Kinh 1276. an lạc SA1277 Kinh 1277. hiềm trách SA1278 Kinh 1278. cù-ca-lê SA1279 KINH 1279 SA1280 KINH 1280 SA1281 KINH 1281 SA1282 KINH 1282 SA1283 KINH 1283 SA1284 KINH 1284 SA1285 KINH 1285 SA1286 KINH 1286 SA1287 KINH 1287 SA1288 KINH 1288 SA1289 KINH 1289 SA1290 KINH 1290 SA1291 KINH 1291 SA1292 KINH 1292 SA1293 KINH 1293 SA1294 Kinh 1294. sở cầu SA1295 Kinh 1295. xe SA1296 Kinh 1296. sanh con SA1297 Kinh 1297. số SA1298 Kinh 1298. vật gì SA1299 Kinh 1299. giới gì SA1300 Kinh 1300. mạng
SA1278

Kinh 1278. cù-ca-lê

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ, có Tỳ-kheo Cù-ca-lê là bè đảng Đề-bà-đạt-đa, đến chỗ Phật, đảnh lễ sát chân Phật, ngồi lui qua một bên. Bấy giờ, Thế Tôn bảo Tỳ-kheo Cù-ca-lê:

“Này Cù-ca-lê, vì sao đối với phạm hạnh thanh tịnh của Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên, ngươi khởi tâm không thanh tịnh, để sẽ phải chịu khổ não lâu dài, không lợi ích.”

Tỳ-kheo Cù-ca-lê bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, nay con tin lời Thế Tôn, những điều đó là đúng. Nhưng tâm Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên có ác dục.”

Nói như vậy lần thứ hai, lần thứ ba. Tỳ-kheo Cù-ca-lê thuộc bè đảng Đề-bà-đạt-đa ở chỗ Thế Tôn, trong khi nói lại lần thứ ba, chống đối, không nhận chịu, liền từ chỗ ngồi đứng dậy bỏ đi. Sau khi đứng dậy bỏ đi, khắp người ông nổi đầy mụt nhọt giống như trái lật, dần dần to lên như trái đào. Khi ấy Tỳ-kheo Cù-ca-lê đau đớn thống khổ, miệng kêu lên: ‘Nóng quá! Nóng quá!’ Máu mủ chảy ra, thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục lớn Bát-đàm-ma.

Bấy giờ, có ba vị Thiên tử dung mạo tuyệt vời, vào lúc cuối đêm, đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Phật, ngồi lui qua một bên. Lúc ấy, một Thiên tử bạch Phật:

“Tỳ-kheo Cù-ca-lê thuộc bè đảng Đề-bà-đạt-đa nay mạng chung.”

Thiên tử thứ hai thưa:

“Chư tôn nên biết, Tỳ-kheo Cù-ca-lê mạng chung rơi vào địa ngục.”

Thiên tử thứ ba liền nói kệ:

Con người sanh ở đời,
Búa sanh từ trong miệng,
Trở lại chém thân mình,
Đó do lời nói ác.

Đáng chê lại khen ngợi;
Đáng khen ngợi lại chê.
Tội này sanh nơi miệng,
Chết rơi vào đường ác.

Cờ bạc mất hết của,
Phải quấy là lỗi lớn;
Hủy Phật cùng Thanh văn,
Thì đó là tội lớn.

Ba vị Thiên tử kia nói kệ này rồi liền biến mất. Qua sáng sớm hôm sau, bấy giờ Thế Tôn đi vào trong Tăng, trải chỗ ngồi, ngồi trước đại chúng, bảo các Tỳ-kheo:

“Cuối đêm qua, có ba vị Thiên tử đến chỗ Ta, đảnh lễ sát chân Ta, ngồi lui qua một bên. Thiên tử thứ nhất thưa Ta rằng:

“Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Cù-ca-lê thuộc bè đảng Đề-bà-đạt-đa nay mạng chung.

“Thiên tử thứ hai nói với chư Thiên khác rằng:

“Tỳ-kheo Cù-ca-lê mạng chung, rơi vào địa ngục.”

“Thiên tử thứ ba liền nói kệ:

“Con người sanh ở đời,
Búa sanh từ trong miệng,
Trở lại chém thân mình,
Đó do lời nói ác.

Đáng chê lại khen ngợi,
Đáng khen ngợi lại chê.
Tội này sanh nơi miệng,
Chết rơi vào đường ác.

“Sau khi nói kệ này rồi liền biến mất.

“Này các Tỳ-kheo, các ông có muốn nghe kỳ hạn thọ mạng của chúng sanh sanh vào địa ngục A-phù-đà không?”

Các Tỳ-kheo bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, nay chính đúng lúc, cúi xin Thế Tôn vì đại chúng nói về kỳ hạn thọ mạng của chúng sanh trong địa ngục A-phù-đà. Các Tỳ-kheo nghe xong sẽ lãnh thọ phụng hành.”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Hãy lắng nghe và suy nghĩ kỹ, Ta sẽ vì các ông mà giảng nói. Thí như tại nước Câu-tát-la bốn thăng là một a-la, bốn a-la là một độc-lung-na, mười sáu độc-lung-na là một xà-ma-na, mười sáu xà-ma-na là một ma-ni, hai mươi ma-ni là một khư-lê, hai mươi khư-lê là một kho hạt cải đầy trong đó. Giả sử, nếu có người, cứ một trăm năm lấy một hạt cải, như vậy cho đến khi hết sạch kho hạt cải đầy kia, thọ mạng của chúng sanh trong địa ngục A-phù-đà vẫn chưa hết. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa ngục A-phù-đà như vậy bằng một thọ mạng của chúng sanh trong địa ngục Ni-la-phù-đà. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa ngục Ni-la-phù-đà bằng thọ mạng của chúng sanh trong địa ngục A-tra-tra. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa ngục A-tra-tra bằng thọ mạng của chúng sanh trong một địa ngục A-ba-ba. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa ngục A-ba-ba bằng thọ mạng của chúng sanh trong một địa ngục A-hưu-hưu. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa ngục A-hưu-hưu bằng thọ mạng của chúng sanh trong một địa ngục Ưu-bát-la. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa ngục Ưu-bát-la bằng thọ mạng của chúng sanh trong một địa ngục Bát-đàm-ma. Thọ mạng của chúng sanh trong hai mươi địa ngục Bát-đàm-ma bằng thọ mạng của chúng sang trong một địa ngục Ma-ha Bát-đàm-ma.

“Này Tỳ-kheo, Tỳ-kheo Cù-ca-lê mạng chung rơi vào địa ngục Ma-ha Bát-đàm-ma, vì Tỳ-kheo này đối với Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên sanh ác tâm phỉ báng. Cho nên, các Tỳ-kheo, nên học như vầy: Ở nơi chỗ tim đèn, mồi lửa đang cháy kia còn không muốn hủy hoại, huống là hủy hoại chúng sanh có thức.”

Phật bảo các Tỳ-kheo: “Hãy học như vậy.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA1279...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc