Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có sáu thường hành. Đó là, nếu Tỳ-kheo mắt thấy sắc, mà an trụ với tâm xả, thấy không khổ, không lạc, chánh niệm, chánh trí. Tai đối với thanh, mũi đối với mùi, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc, ý đối với pháp, mà an trụ với tâm xả, thấy không khổ, không lạc, chánh niệm, chánh trí.
“Tỳ-kheo thành tựu sáu thường hành này, là điều thế gian khó làm được.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給孤T 0093a23獨園。
爾時,世尊告諸比丘:「有六常行。云何T 0093a24為六?若比丘眼見色,不苦、不樂,捨心住正T 0093a25念正智。耳聲、鼻香、舌味、身觸、意識法,不苦、不T 0093a26樂,捨心住正念正智,若比丘成就此六常行T 0093a27者,世間難得。」
佛說此經已,諸比丘聞佛所T 0093a28說,歡喜奉行。
T 0093a29 English translation not yet available.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Có sáu thường hành. Đó là, nếu Tỳ-kheo mắt thấy sắc, mà an trụ với tâm xả, thấy không khổ, không lạc, chánh niệm, chánh trí. Tai đối với thanh, mũi đối với mùi, lưỡi đối với vị, thân đối với xúc, ý đối với pháp, mà an trụ với tâm xả, thấy không khổ, không lạc, chánh niệm, chánh trí.
“Tỳ-kheo thành tựu sáu thường hành này, là điều thế gian khó làm được.”
Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Đức Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.