Dầu nói ngàn ngàn lời,
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu nghĩa,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Chuyện Trưởng lão Bāhiya mặc y vỏ cây
Dầu nói ngàn câu kệ
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn nói một câu,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Chuyện Trưởng lão ni Kuṇḍalakesī (Tóc Quăn)
Dầu nói trăm câu kệ
Nhưng không gì lợi ích
Tốt hơn một câu Pháp,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.
Chuyện thầy Bà-la-môn hỏi về pháp Vô ích
Tự thắng , tốt đẹp hơn,
Hơn chiến thắng người khác.
Người khéo điều phục mình,
Thường sống tự chế ngự.
Dầu Thiên Thần, Thát-bà,
Dầu Ma Vương, Phạm Thiên
Không ai chiến thắng nổi,
Người tự thắng như vậy.
Chuyện thầy Bà-la-môn họ hàng Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Tháng tháng bỏ ngàn vàng,
Tế tự cả trăm năm,
Chẳng bằng trong giây lát,
Cúng dường bậc tự tu.
Cúng dường vậy tốt hơn,
Hơn trăm năm tế tự.
Chuyện thầy Bà-la-môn họ hàng Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Dầu trải một trăm năm,
Thờ lửa tại rừng sâu,
Chẳng bằng trong giây lát,
Cúng dường bậc tự tu.
Cúng dường vậy tốt hơn,
Hơn trăm năm tế tự.
Chuyện thầy Bà-la-môn bạn Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Suốt năm cúng tế vật,
Ðể cầu phước ở đời.
Không bằng một phần tư
Kính lễ bậc chánh trực.
Chuyện cậu bé Dīghāyu (Trường Thọ)
Thường tôn trọng, kính lễ
Bậc kỳ lão trưởng thượng,
Bốn pháp được tăng trưởng:
Thọ, sắc, lạc, sức mạnh.
Chuyện Sa-di Saṅkicca (Đòn Xóc)
Dầu sống một trăm năm,
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định.
Chuyện Trưởng lão Khāṇukoñdañña (Kiều-trần-như Gốc Cây).
Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ, không thiền định.
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu thiền định.
Chuyện Trưởng lão Sappadāsa
Ai sống một trăm năm,
Lười nhác không tin tấn,
Tốt hơn sống một ngày
Tinh tấn tận sức mình.
Chuyện Trường lão ni Paṭācārā (Sa Đọa)
Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.
Chuyện nàng Kisāgotamī
Ai sống một trăm năm,
Không thấy câu bất tử,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được câu bất tử.
Chuyện Trưởng lão ni Bahuputtikā (Đa Tử)
Ai sống một trăm năm,
Không thấy Pháp Tối thượng,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được Pháp Tối thượng.
Hết phẩm Ngàn
Sahassamapi ce vācā,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ atthapadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Bāhiyadārucīriyattheravatthu
Sahassamapi ce gāthā,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ gāthāpadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Kuṇḍalakesitherīvatthu
Yo ca gāthā sataṁ bhāse,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ dhammapadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Yo sahassaṁ sahassena,
saṅgāme mānuse jine;
Ekañca jeyyamattānaṁ,
sa ve saṅgāmajuttamo.
Anatthapucchakabrāhmaṇavatthu
Attā have jitaṁ seyyo,
yā cāyaṁ itarā pajā;
Attadantassa posassa,
niccaṁ saññatacārino.
Neva devo na gandhabbo,
na māro saha brahmunā;
Jitaṁ apajitaṁ kayirā,
tathārūpassa jantuno.
Sāriputtattherassa mātulabrāhmaṇavatthu
Māse māse sahassena,
yo yajetha sataṁ samaṁ;
Ekañca bhāvitattānaṁ,
muhuttamapi pūjaye;
Sāyeva pūjanā seyyo,
yañce vassasataṁ hutaṁ.
Sāriputtattherassa bhāgineyyavatthu
Yo ca vassasataṁ jantu,
aggiṁ paricare vane;
Ekañca bhāvitattānaṁ,
muhuttamapi pūjaye;
Sāyeva pūjanā seyyo,
yañce vassasataṁ hutaṁ.
Sāriputtatherassa sahāyakabrāhmaṇavatthu
Yaṁ kiñci yiṭṭhaṁ va hutaṁ va loke,
Saṁvaccharaṁ yajetha puññapekkho;
Sabbampi taṁ na catubhāgameti,
Abhivādanā ujjugatesu seyyo.
Āyuvaḍḍhanakumāravatthu
Abhivādanasīlissa,
niccaṁ vuḍḍhāpacāyino;
Cattāro dhammā vaḍḍhanti,
āyu vaṇṇo sukhaṁ balaṁ.
Saṅkiccasāmaṇeravatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
dussīlo asamāhito;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
sīlavantassa jhāyino.
Khāṇukoṇḍaññattheravatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
duppañño asamāhito;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
paññavantassa jhāyino.
Sabbadāsattheravatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
kusīto hīnavīriyo;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
vīriyamārabhato daḷhaṁ.
Paṭācārātherīvatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ udayabbayaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato udayabbayaṁ.
Kisāgotamīvatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ amataṁ padaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato amataṁ padaṁ.
Bahuputtikattherīvatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ dhammamuttamaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato dhammamuttamaṁ.
Sahassavaggo aṭṭhamo.
SC 100Better than a thousand vacuous statements
Is one meaningful word,
Which, having been heard, brings peace.
SC 101Better than a thousand vacuous verses
Is one line of verse,
Which, having been heard, brings peace.
SC 102Better than a recitation of one hundred meaningless
verses
is one Dhamma word,
Which, having been heard, brings peace.
SC 103Greater in battle than one who conquers thousands
upon thousands
Is the one who conquers himself.
SC 104It is better to conquer oneself than others.
For the self-tamed one, ever-vigilant in self-control,
SC 105Neither a god nor a divine musician,
Nor Māra and Brahmā together,
Could turn such a victory into defeat.
SC 106Better than offering a thousand sacrifices,
Month after month for a hundred years,
Is one moment’s homage
To one who has developed himself.
SC 107Better than one hundred years dwelling in the forest
And tending the sacred fire,
Is one moment’s homage
To one who has developed himself.
SC 108Whatever offering or sacrifice in the world
A merit-seeker might offer for a year,
All this is not one-fourth the merit gained
From showing respect to the upright.
SC 109For one who is respectful,
Who constantly reveres the elders,
Four things grow: life, beauty, happiness, and
strength.
SC 110Better than living one hundred years,
Immoral and ungrounded,
Is living one day,
Virtuous and absorbed in meditation.
SC 111Better than living one hundred years,
Foolish and ungrounded,
Is living one day,
Wise and absorbed in meditation.
SC 112Better than living one hundred years,
Indolent and slothful,
Is living one day
With steadfast vigor.
SC 113Better than living one hundred years
Without seeing arising and dissipation,
Is living one day,
Seeing arising and dissipation.
SC 114Better than living one hundred years
Without seeing the deathless way,
Is living one day,
Seeing the deathless way.
SC 115Better than living one hundred years
Without seeing the supreme Dhamma,
Is living one day,
Seeing the supreme Dhamma.
Dầu nói ngàn ngàn lời,
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn một câu nghĩa,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Chuyện Trưởng lão Bāhiya mặc y vỏ cây
Dầu nói ngàn câu kệ
Nhưng không gì lợi ích,
Tốt hơn nói một câu,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Chuyện Trưởng lão ni Kuṇḍalakesī (Tóc Quăn)
Dầu nói trăm câu kệ
Nhưng không gì lợi ích
Tốt hơn một câu Pháp,
Nghe xong, được tịnh lạc.
Dầu tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân địch,
Tự thắng mình tốt hơn,
Thật chiến thắng tối thượng.
Chuyện thầy Bà-la-môn hỏi về pháp Vô ích
Tự thắng , tốt đẹp hơn,
Hơn chiến thắng người khác.
Người khéo điều phục mình,
Thường sống tự chế ngự.
Dầu Thiên Thần, Thát-bà,
Dầu Ma Vương, Phạm Thiên
Không ai chiến thắng nổi,
Người tự thắng như vậy.
Chuyện thầy Bà-la-môn họ hàng Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Tháng tháng bỏ ngàn vàng,
Tế tự cả trăm năm,
Chẳng bằng trong giây lát,
Cúng dường bậc tự tu.
Cúng dường vậy tốt hơn,
Hơn trăm năm tế tự.
Chuyện thầy Bà-la-môn họ hàng Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Dầu trải một trăm năm,
Thờ lửa tại rừng sâu,
Chẳng bằng trong giây lát,
Cúng dường bậc tự tu.
Cúng dường vậy tốt hơn,
Hơn trăm năm tế tự.
Chuyện thầy Bà-la-môn bạn Trưởng lão Sāriputta (Xá-lợi-phất)
Suốt năm cúng tế vật,
Ðể cầu phước ở đời.
Không bằng một phần tư
Kính lễ bậc chánh trực.
Chuyện cậu bé Dīghāyu (Trường Thọ)
Thường tôn trọng, kính lễ
Bậc kỳ lão trưởng thượng,
Bốn pháp được tăng trưởng:
Thọ, sắc, lạc, sức mạnh.
Chuyện Sa-di Saṅkicca (Đòn Xóc)
Dầu sống một trăm năm,
Ác giới, không thiền định,
Tốt hơn sống một ngày,
Trì giới, tu thiền định.
Chuyện Trưởng lão Khāṇukoñdañña (Kiều-trần-như Gốc Cây).
Ai sống một trăm năm,
Ác tuệ, không thiền định.
Tốt hơn sống một ngày,
Có tuệ, tu thiền định.
Chuyện Trưởng lão Sappadāsa
Ai sống một trăm năm,
Lười nhác không tin tấn,
Tốt hơn sống một ngày
Tinh tấn tận sức mình.
Chuyện Trường lão ni Paṭācārā (Sa Đọa)
Ai sống một trăm năm,
Không thấy pháp sinh diệt,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được pháp sinh diệt.
Chuyện nàng Kisāgotamī
Ai sống một trăm năm,
Không thấy câu bất tử,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được câu bất tử.
Chuyện Trưởng lão ni Bahuputtikā (Đa Tử)
Ai sống một trăm năm,
Không thấy Pháp Tối thượng,
Tốt hơn sống một ngày,
Thấy được Pháp Tối thượng.
Hết phẩm Ngàn
Sahassamapi ce vācā,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ atthapadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Bāhiyadārucīriyattheravatthu
Sahassamapi ce gāthā,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ gāthāpadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Kuṇḍalakesitherīvatthu
Yo ca gāthā sataṁ bhāse,
anatthapadasaṁhitā;
Ekaṁ dhammapadaṁ seyyo,
yaṁ sutvā upasammati.
Yo sahassaṁ sahassena,
saṅgāme mānuse jine;
Ekañca jeyyamattānaṁ,
sa ve saṅgāmajuttamo.
Anatthapucchakabrāhmaṇavatthu
Attā have jitaṁ seyyo,
yā cāyaṁ itarā pajā;
Attadantassa posassa,
niccaṁ saññatacārino.
Neva devo na gandhabbo,
na māro saha brahmunā;
Jitaṁ apajitaṁ kayirā,
tathārūpassa jantuno.
Sāriputtattherassa mātulabrāhmaṇavatthu
Māse māse sahassena,
yo yajetha sataṁ samaṁ;
Ekañca bhāvitattānaṁ,
muhuttamapi pūjaye;
Sāyeva pūjanā seyyo,
yañce vassasataṁ hutaṁ.
Sāriputtattherassa bhāgineyyavatthu
Yo ca vassasataṁ jantu,
aggiṁ paricare vane;
Ekañca bhāvitattānaṁ,
muhuttamapi pūjaye;
Sāyeva pūjanā seyyo,
yañce vassasataṁ hutaṁ.
Sāriputtatherassa sahāyakabrāhmaṇavatthu
Yaṁ kiñci yiṭṭhaṁ va hutaṁ va loke,
Saṁvaccharaṁ yajetha puññapekkho;
Sabbampi taṁ na catubhāgameti,
Abhivādanā ujjugatesu seyyo.
Āyuvaḍḍhanakumāravatthu
Abhivādanasīlissa,
niccaṁ vuḍḍhāpacāyino;
Cattāro dhammā vaḍḍhanti,
āyu vaṇṇo sukhaṁ balaṁ.
Saṅkiccasāmaṇeravatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
dussīlo asamāhito;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
sīlavantassa jhāyino.
Khāṇukoṇḍaññattheravatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
duppañño asamāhito;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
paññavantassa jhāyino.
Sabbadāsattheravatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
kusīto hīnavīriyo;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
vīriyamārabhato daḷhaṁ.
Paṭācārātherīvatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ udayabbayaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato udayabbayaṁ.
Kisāgotamīvatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ amataṁ padaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato amataṁ padaṁ.
Bahuputtikattherīvatthu
Yo ca vassasataṁ jīve,
apassaṁ dhammamuttamaṁ;
Ekāhaṁ jīvitaṁ seyyo,
passato dhammamuttamaṁ.
Sahassavaggo aṭṭhamo.