Người sống đời phóng dật,
Ái tăng như dây leo.
Nhảy đời này đời khác,
Như vượn tham quả rừng.
Ai sống trong đời này,
Bị ái dục buộc ràng
Sầu khổ sẽ tăng trưởng,
Như cỏ bi gặp mưa.
Ai sống trong đời này
Ái dục được hàng phục
Sầu rơi khỏi người ấy
Như giọt nước lá sen.
Ðây điều lành Ta dạy,
Các người tụ họp đây,
Hãy nhổ tận gốc ái
Như nhổ gốc cỏ bi.
Chớ để ma phá hoại,
Như dòng nước cỏ lau.
Chuyện con heo nái tơ
Như cây bị chặt đốn,
Gốc chưa hại vẫn bền
Ái tùy miên chưa nhổ,
Khổ này vẫn sanh hoài.
Ba mươi sáu dòng ái,
Trôi người đến khả ái.
Các tư tưởng tham ái.
Cuốn trôi người tà kiến.
Dòng ái dục chảy khắp,
Như giây leo mọc tràn,
Thấy giây leo vừa sanh,
Với tuệ, hãy đoạn gốc.
Người đời nhớ ái dục,
Ưa thích các hỷ lạc.
Tuy mong cầu an lạc,
Chúng vẫn phải sanh già.
Người bị ái buộc ràng,
Vùng vẫy và hoảng sợ, Như thỏ bị sa lưới.
Chúng sanh ái trói buộc,
Chịu khổ đau dài dài.
Người bị ái buộc ràng,
Vùng vẫy và hoảng sợ, Như thỏ bị sa lưới.
Do vậy vị tỷ kheo, Mong cầu mình ly tham
Nên nhiếp phục ái dục.
Chuyện vị Tỳ-kheo hoàn tục
Lìa rừng lại hướng rừng
Thoát rừng chạy theo rừng.
Nên xem người như vậy,
Ðược thoát khỏi buộc ràng. Lại chạy theo ràng buộc.
Chuyện khám đường
Sắt, cây, gai trói buộc
Người trí xem chưa bền.
Tham châu báu, trang sức
Tham vọng vợ và con.
Người có trí nói rằng: Trói buộc này thật bền.
Trì kéo xuống, lún xuống, Nhưng thật sự khó thoát.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ dục lạc, không màng.
Chuyện hoàng hậu Khemā
Người đắm say ái dục Tự lao mình xuống dòng
Như nhện sa lưới dệt.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ mọi khổ, không màng.
Chuyện thiếu gia Uggasena
Bỏ quá, hiện, vị lai,
Ðến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng tại sanh già.
Chuyện bậc hiền trí Cūḷadhanuggaha
Người tà ý nhiếp phục,
Tham sắc bén nhìn tịnh,
Người ấy ái tăng trưởng,
Làm giây trói mình chặt.
Ai vui, an tịnh ý,
Quán bất tịnh, thường niệm,
Người ấy sẽ diệt ái,
Cắt đứt Ma trói buộc.
Chuyện Ma Vương
Ai tới đích không sợ,
Ly ái, không nhiễm ô
Nhổ mũi tên sanh tử,
Thân này thân cuối cùng.
Ái lìa, không chấp thủ
Cú pháp khéo biện tài
Thấu suốt từ vô ngại,
Hiểu thứ lớp trước sau.
Thân này thân cuối cùng
Vị như vậy được gọi, Bậc Ðại trí, đại nhân.
Chuyện du sĩ Upaka
Ta hàng phục tất cả, Ta rõ biết tất cả,
Không bị nhiễm pháp nào.
Ta từ bỏ tất cả Ái diệt, tự giải thoát.
Ðã tự mình thắng trí, Ta gọi ai thầy ta?
Chuyện Đế-thích
Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, thắng mọi khổ!
Chuyện trưởng giả Aputtaka
Tài sản hại người ngu.
Không người tìm bờ kia
Kẻ ngu vì tham giàu,
Hại mình và hại người.
Chuyện thiên tử Aṅkura
Cỏ làm hại ruộng vườn,
Tham làm hại người đời.
Bố thí người ly tham,
Do vậy được quả lớn.
Cỏ làm hại ruộng vườn,
Sân làm hại người đời.
Bố thí người ly sân,
Do vậy được quả lớn.
Cỏ làm hại ruộng vườn,
Si làm hại người đời,
Bố thí người ly si,
Do vậy được quả lớn.
Cỏ làm hại ruộng vườn,
Dục làm hại người đời.
Bố thí người ly dục,
Do vậy được quả lớn.
Hết phẩm Tham Ái
Manujassa pamattacārino,
Taṇhā vaḍḍhati māluvā viya;
So plavatī hurā huraṁ,
Phalamicchaṁva vanasmi vānaro.
Yaṁ esā sahate jammī,
taṇhā loke visattikā;
Sokā tassa pavaḍḍhanti,
abhivaṭṭhaṁva bīraṇaṁ.
Yo cetaṁ sahate jammiṁ,
taṇhaṁ loke duraccayaṁ;
Sokā tamhā papatanti,
udabinduva pokkharā.
Taṁ vo vadāmi bhaddaṁ vo,
yāvantettha samāgatā;
Taṇhāya mūlaṁ khaṇatha,
usīratthova bīraṇaṁ;
Mā vo naḷaṁva sotova,
māro bhañji punappunaṁ.
Sūkarapotikāvatthu
Yathāpi mūle anupaddave daḷhe,
Chinnopi rukkho punareva rūhati;
Evampi taṇhānusaye anūhate,
Nibbattatī dukkhamidaṁ punappunaṁ.
Yassa chattiṁsati sotā,
manāpasavanā bhusā;
Mahāvahanti duddiṭṭhiṁ,
saṅkappā rāganissitā.
Savanti sabbadhi sotā,
latā uppajja tiṭṭhati;
Tañca disvā lataṁ jātaṁ,
mūlaṁ paññāya chindatha.
Saritāni sinehitāni ca,
Somanassāni bhavanti jantuno;
Te sātasitā sukhesino,
Te ve jātijarūpagā narā.
Tasiṇāya purakkhatā pajā,
Parisappanti sasova bandhito;
Saṁyojanasaṅgasattakā,
Dukkhamupenti punappunaṁ cirāya.
Tasiṇāya purakkhatā pajā,
Parisappanti sasova bandhito;
Tasmā tasiṇaṁ vinodaye,
Ākaṅkhanta virāgamattano.
Vibbhantabhikkhuvatthu
Yo nibbanatho vanādhimutto,
Vanamutto vanameva dhāvati;
Taṁ puggalametha passatha,
Mutto bandhanameva dhāvati.
Bandhanāgāravatthu
Na taṁ daḷhaṁ bandhanamāhu dhīrā,
Yadāyasaṁ dārujapabbajañca;
Sārattarattā maṇikuṇḍalesu,
Puttesu dāresu ca yā apekkhā.
Etaṁ daḷhaṁ bandhanamāhu dhīrā,
Ohārinaṁ sithilaṁ duppamuñcaṁ;
Etampi chetvāna paribbajanti,
Anapekkhino kāmasukhaṁ pahāya.
Khemātherīvatthu
Ye rāgarattānupatanti sotaṁ,
Sayaṅkataṁ makkaṭakova jālaṁ;
Etampi chetvāna vajanti dhīrā,
Anapekkhino sabbadukkhaṁ pahāya.
Uggasenavatthu
Muñca pure muñca pacchato,
Majjhe muñca bhavassa pāragū;
Sabbattha vimuttamānaso,
Na punaṁ jātijaraṁ upehisi.
Cūḷadhanuggahapaṇḍitavatthu
Vitakkamathitassa jantuno,
Tibbarāgassa subhānupassino;
Bhiyyo taṇhā pavaḍḍhati,
Esa kho daḷhaṁ karoti bandhanaṁ.
Vitakkūpasame ca yo rato,
Asubhaṁ bhāvayate sadā sato;
Esa kho byanti kāhiti,
Esa checchati mārabandhanaṁ.
Māravatthu
Niṭṭhaṅgato asantāsī,
vītataṇho anaṅgaṇo;
Acchindi bhavasallāni,
antimoyaṁ samussayo.
Vītataṇho anādāno,
Niruttipadakovido;
Akkharānaṁ sannipātaṁ,
Jaññā pubbāparāni ca;
Sa ve “antimasārīro,
Mahāpañño mahāpuriso”ti vuccati.
Upakājīvakavatthu
Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi,
Sabbesu dhammesu anūpalitto;
Sabbañjaho taṇhakkhaye vimutto,
Sayaṁ abhiññāya kamuddiseyyaṁ.
Sakkapañhavatthu
Sabbadānaṁ dhammadānaṁ jināti,
Sabbarasaṁ dhammaraso jināti;
Sabbaratiṁ dhammarati jināti,
Taṇhakkhayo sabbadukkhaṁ jināti.
Aputtakaseṭṭhivatthu
Hananti bhogā dummedhaṁ,
no ca pāragavesino;
Bhogataṇhāya dummedho,
hanti aññeva attanaṁ.
Aṅkuravatthu
Tiṇadosāni khettāni,
rāgadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītarāgesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Tiṇadosāni khettāni,
dosadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītadosesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Tiṇadosāni khettāni,
mohadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītamohesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Tiṇadosāni khettāni,
icchādosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vigaticchesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Taṇhāvaggo catuvīsatimo.
SC 334The craving of the careless one grows like a creeper.
The craver jumps from existence to existence,
Like a monkey seeking fruit in the forest.
SC 335One who is conquered by this miserable craving,
This clinging in the world:
His sorrows grow like bīraṇa grass after rain.
SC 336But one who conquers this miserable craving,
So difficult to overcome in the world:
His sorrows fall away, like drops of water from a
lotus.
SC 337I say to you: Good fortune to all assembled here!
Uproot the root of craving,
As one would who desires the fragrant root of the
bīraṇa grass.
Let not Māra crush you, as a torrent crushes a reed,
Again and again and again.
SC 338Just as a tree cut down will grow again
When the root remains healthy and strong,
So this suffering arises again and again
When dormant craving is not destroyed.
SC 339The wrong-viewed person,
The one in whom the thirty-six streams of craving
flow mightily,
Is carried away by these currents,
These thoughts dependent on passion.
SC 340Streams flow everywhere.
The creeper, having sprung up, establishes itself.
Seeing that the creeper has emerged,
Use wisdom to cut it off at the root.
SC 341Delights, flowing along and filled with lust, arise in
people.
Surely, those intent on enjoyment, seeking pleasure,
Undergo birth and old age.
SC 342Encircled by craving,
People run around like ensnared hares.
Bound by the fetters of attachment.
They undergo long suffering again and again.
SC 343Encircled by craving,
People run around like ensnared hares.
Therefore, one who desires dispassion
Should dispel craving.
SC 344Who, for the sake of being free from the forest (of
craving), Is resolved upon the forest (of solitude), And then runs back to the forest (of craving); Come and see one freed who runs back into
bondage!
SC 345The fetter made of iron, of wood, or of babbaja grass,
Is not so strong, say the wise.
But infatuation with jewels and ornaments,
Or longing for sons and wives,
SC 346That is a strong bond, say the wise,
Loose, yet difficult to be freed from.
When the bond is cut, they go about,
Free from longing,
Having abandoned sensual pleasure.
SC 347Those excited by passion fall into the current,
As a spider caught in its self-made web.
Having cut off this passion, the wise set forth,
Free from longing,
Having abandoned all suffering.
SC 348Let go of the past, let go of the future, let go of the
present.
Gone to the other shore of existence,
With mind everywhere emancipated,
You will not again come to birth and old age.
SC 349For the one with disturbed thoughts and intense
passion,
Who is focused on pleasant things,
Craving only grows stronger.
Indeed, craving fortifies the fetter.
SC 350For the one devoted to calming thoughts, always
mindful,
Who meditates on what is foul:
That one will make an end and cut off Māra’s bond.
SC 351One who has attained perfection,
Who is pure, without craving or fear:
This one has destroyed the arrows of becoming;
His present body, the last.
SC 352One who is without craving, free of grasping,
Skilled in the scriptures, who would know their
arrangement;
Such a one is truly called great person;
Such a one possesses great wisdom;
Such a one is living his final life.
SC 353I know all; I overcome all.
Free of stain in all conditions,
Abandoning everything,
Emancipated by the dissolution of craving,
I have understood everything on my own.
To whom should I point (as teacher)?
SC 354The gift of Dhamma overwhelms all gifts.
The taste of Dhamma overwhelms all tastes.
The delight of Dhamma overwhelms all delights.
The dissolution of craving overwhelms all suffering.
SC 355Wealth wounds those lacking wisdom,
Not those seeking the other shore.
Craving wealth, those who lack wisdom
Destroy others, even as themselves.
SC 356Fields are ruined by weeds;
Humanity is ruined by passions.
But indeed what is given to those whose passions are
gone
Bears great fruit.
SC 357Fields are ruined by weeds;
Humanity is ruined by ill will.
But indeed what is given to those whose ill will is
gone
Bears great fruit.
SC 358Fields are ruined by weeds;
Humanity is ruined by delusion.
But indeed what is given to those whose delusion is
gone
Bears great fruit.
SC 359Fields are ruined by weeds;
Humanity is ruined by longing.
Truly, what is given to those whose longing is gone
Bears great fruit.
Người sống đời phóng dật,
Ái tăng như dây leo.
Nhảy đời này đời khác,
Như vượn tham quả rừng.
Ai sống trong đời này,
Bị ái dục buộc ràng
Sầu khổ sẽ tăng trưởng,
Như cỏ bi gặp mưa.
Ai sống trong đời này
Ái dục được hàng phục
Sầu rơi khỏi người ấy
Như giọt nước lá sen.
Ðây điều lành Ta dạy,
Các người tụ họp đây,
Hãy nhổ tận gốc ái
Như nhổ gốc cỏ bi.
Chớ để ma phá hoại,
Như dòng nước cỏ lau.
Chuyện con heo nái tơ
Như cây bị chặt đốn,
Gốc chưa hại vẫn bền
Ái tùy miên chưa nhổ,
Khổ này vẫn sanh hoài.
Ba mươi sáu dòng ái,
Trôi người đến khả ái.
Các tư tưởng tham ái.
Cuốn trôi người tà kiến.
Dòng ái dục chảy khắp,
Như giây leo mọc tràn,
Thấy giây leo vừa sanh,
Với tuệ, hãy đoạn gốc.
Người đời nhớ ái dục,
Ưa thích các hỷ lạc.
Tuy mong cầu an lạc,
Chúng vẫn phải sanh già.
Người bị ái buộc ràng,
Vùng vẫy và hoảng sợ, Như thỏ bị sa lưới.
Chúng sanh ái trói buộc,
Chịu khổ đau dài dài.
Người bị ái buộc ràng,
Vùng vẫy và hoảng sợ, Như thỏ bị sa lưới.
Do vậy vị tỷ kheo, Mong cầu mình ly tham
Nên nhiếp phục ái dục.
Chuyện vị Tỳ-kheo hoàn tục
Lìa rừng lại hướng rừng
Thoát rừng chạy theo rừng.
Nên xem người như vậy,
Ðược thoát khỏi buộc ràng. Lại chạy theo ràng buộc.
Chuyện khám đường
Sắt, cây, gai trói buộc
Người trí xem chưa bền.
Tham châu báu, trang sức
Tham vọng vợ và con.
Người có trí nói rằng: Trói buộc này thật bền.
Trì kéo xuống, lún xuống, Nhưng thật sự khó thoát.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ dục lạc, không màng.
Chuyện hoàng hậu Khemā
Người đắm say ái dục Tự lao mình xuống dòng
Như nhện sa lưới dệt.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ mọi khổ, không màng.
Chuyện thiếu gia Uggasena
Bỏ quá, hiện, vị lai,
Ðến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng tại sanh già.
Chuyện bậc hiền trí Cūḷadhanuggaha
Người tà ý nhiếp phục,
Tham sắc bén nhìn tịnh,
Người ấy ái tăng trưởng,
Làm giây trói mình chặt.
Ai vui, an tịnh ý,
Quán bất tịnh, thường niệm,
Người ấy sẽ diệt ái,
Cắt đứt Ma trói buộc.
Chuyện Ma Vương
Ai tới đích không sợ,
Ly ái, không nhiễm ô
Nhổ mũi tên sanh tử,
Thân này thân cuối cùng.
Ái lìa, không chấp thủ
Cú pháp khéo biện tài
Thấu suốt từ vô ngại,
Hiểu thứ lớp trước sau.
Thân này thân cuối cùng
Vị như vậy được gọi, Bậc Ðại trí, đại nhân.
Chuyện du sĩ Upaka
Ta hàng phục tất cả, Ta rõ biết tất cả,
Không bị nhiễm pháp nào.
Ta từ bỏ tất cả Ái diệt, tự giải thoát.
Ðã tự mình thắng trí, Ta gọi ai thầy ta?
Chuyện Đế-thích
Pháp thí, thắng mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi vị!
Pháp hỷ, thắng mọi hỷ!
Ái diệt, thắng mọi khổ!
Chuyện trưởng giả Aputtaka
Tài sản hại người ngu.
Không người tìm bờ kia
Kẻ ngu vì tham giàu,
Hại mình và hại người.
Chuyện thiên tử Aṅkura
Cỏ làm hại ruộng vườn,
Tham làm hại người đời.
Bố thí người ly tham,
Do vậy được quả lớn.
Cỏ làm hại ruộng vườn,
Sân làm hại người đời.
Bố thí người ly sân,
Do vậy được quả lớn.
Cỏ làm hại ruộng vườn,
Si làm hại người đời,
Bố thí người ly si,
Do vậy được quả lớn.
Cỏ làm hại ruộng vườn,
Dục làm hại người đời.
Bố thí người ly dục,
Do vậy được quả lớn.
Hết phẩm Tham Ái
Manujassa pamattacārino,
Taṇhā vaḍḍhati māluvā viya;
So plavatī hurā huraṁ,
Phalamicchaṁva vanasmi vānaro.
Yaṁ esā sahate jammī,
taṇhā loke visattikā;
Sokā tassa pavaḍḍhanti,
abhivaṭṭhaṁva bīraṇaṁ.
Yo cetaṁ sahate jammiṁ,
taṇhaṁ loke duraccayaṁ;
Sokā tamhā papatanti,
udabinduva pokkharā.
Taṁ vo vadāmi bhaddaṁ vo,
yāvantettha samāgatā;
Taṇhāya mūlaṁ khaṇatha,
usīratthova bīraṇaṁ;
Mā vo naḷaṁva sotova,
māro bhañji punappunaṁ.
Sūkarapotikāvatthu
Yathāpi mūle anupaddave daḷhe,
Chinnopi rukkho punareva rūhati;
Evampi taṇhānusaye anūhate,
Nibbattatī dukkhamidaṁ punappunaṁ.
Yassa chattiṁsati sotā,
manāpasavanā bhusā;
Mahāvahanti duddiṭṭhiṁ,
saṅkappā rāganissitā.
Savanti sabbadhi sotā,
latā uppajja tiṭṭhati;
Tañca disvā lataṁ jātaṁ,
mūlaṁ paññāya chindatha.
Saritāni sinehitāni ca,
Somanassāni bhavanti jantuno;
Te sātasitā sukhesino,
Te ve jātijarūpagā narā.
Tasiṇāya purakkhatā pajā,
Parisappanti sasova bandhito;
Saṁyojanasaṅgasattakā,
Dukkhamupenti punappunaṁ cirāya.
Tasiṇāya purakkhatā pajā,
Parisappanti sasova bandhito;
Tasmā tasiṇaṁ vinodaye,
Ākaṅkhanta virāgamattano.
Vibbhantabhikkhuvatthu
Yo nibbanatho vanādhimutto,
Vanamutto vanameva dhāvati;
Taṁ puggalametha passatha,
Mutto bandhanameva dhāvati.
Bandhanāgāravatthu
Na taṁ daḷhaṁ bandhanamāhu dhīrā,
Yadāyasaṁ dārujapabbajañca;
Sārattarattā maṇikuṇḍalesu,
Puttesu dāresu ca yā apekkhā.
Etaṁ daḷhaṁ bandhanamāhu dhīrā,
Ohārinaṁ sithilaṁ duppamuñcaṁ;
Etampi chetvāna paribbajanti,
Anapekkhino kāmasukhaṁ pahāya.
Khemātherīvatthu
Ye rāgarattānupatanti sotaṁ,
Sayaṅkataṁ makkaṭakova jālaṁ;
Etampi chetvāna vajanti dhīrā,
Anapekkhino sabbadukkhaṁ pahāya.
Uggasenavatthu
Muñca pure muñca pacchato,
Majjhe muñca bhavassa pāragū;
Sabbattha vimuttamānaso,
Na punaṁ jātijaraṁ upehisi.
Cūḷadhanuggahapaṇḍitavatthu
Vitakkamathitassa jantuno,
Tibbarāgassa subhānupassino;
Bhiyyo taṇhā pavaḍḍhati,
Esa kho daḷhaṁ karoti bandhanaṁ.
Vitakkūpasame ca yo rato,
Asubhaṁ bhāvayate sadā sato;
Esa kho byanti kāhiti,
Esa checchati mārabandhanaṁ.
Māravatthu
Niṭṭhaṅgato asantāsī,
vītataṇho anaṅgaṇo;
Acchindi bhavasallāni,
antimoyaṁ samussayo.
Vītataṇho anādāno,
Niruttipadakovido;
Akkharānaṁ sannipātaṁ,
Jaññā pubbāparāni ca;
Sa ve “antimasārīro,
Mahāpañño mahāpuriso”ti vuccati.
Upakājīvakavatthu
Sabbābhibhū sabbavidūhamasmi,
Sabbesu dhammesu anūpalitto;
Sabbañjaho taṇhakkhaye vimutto,
Sayaṁ abhiññāya kamuddiseyyaṁ.
Sakkapañhavatthu
Sabbadānaṁ dhammadānaṁ jināti,
Sabbarasaṁ dhammaraso jināti;
Sabbaratiṁ dhammarati jināti,
Taṇhakkhayo sabbadukkhaṁ jināti.
Aputtakaseṭṭhivatthu
Hananti bhogā dummedhaṁ,
no ca pāragavesino;
Bhogataṇhāya dummedho,
hanti aññeva attanaṁ.
Aṅkuravatthu
Tiṇadosāni khettāni,
rāgadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītarāgesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Tiṇadosāni khettāni,
dosadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītadosesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Tiṇadosāni khettāni,
mohadosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vītamohesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Tiṇadosāni khettāni,
icchādosā ayaṁ pajā;
Tasmā hi vigaticchesu,
dinnaṁ hoti mahapphalaṁ.
Taṇhāvaggo catuvīsatimo.