Ngươi nay giống lá héo,
Diêm sứ đang chờ ngươi,
Ngươi đứng trước cửa chết,
Ðường trường thiếu tư lương.
Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh cần gấp, sáng suốt.
Trừ cấu uế, thanh tịnh,
Ðến Thánh địa chư Thiên.
Ðời ngươi nay sắp tàn,
Tiến gần đến Diêm Vương.
Giữa đường không nơi nghỉ,
Ðường trường thiếu tư lương.
Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh cần gấp, sáng suốt.
Trừ cấu uế, thanh tịnh,
Chẳng trở lại sanh già.
Chuyện người Bà-la-môn tuần tự
Bậc trí theo tuần tự.
Từng sát na trừ dần
Như thợ vàng lọc bụi
Trừ cấu uế nơi mình.
Chuyện Trưởng lão Tissa
Như sét từ sắt sinh,
Sắt sanh lại ăn sắt,
Cũng vậy, quá lợi dưỡng
Tự nghiệp dẫn cõi ác.
Chuyện Trưởng lão Lāḷudāyī
Không tụng làm nhớp kinh,
Không đứng dậy, bẩn nhà,
Biếng nhác làm nhơ sắc,
Phóng dật uế người canh.
Chuyện người chồng có vợ ngoại tình
Tà hạnh nhơ đàn bà,
Xan tham nhớp kẻ thí,
Ác pháp là vết nhơ,
Ðời này và đời sau.
Trong hàng cầu uế ấy,
Vô minh, nhơ tối thượng,
Ðoạn nhơ ấy, tỳ-kheo,
Thành bậc không uế nhiễm.
Chuyện Tỳ-kheo Cūḷasāri theo tà mạng
Dễ thay, sống không hổ
Sống lỗ mãng như quạ,
Sống công kích huyênh hoang,
Sống liều lĩnh, nhiễm ô.
Khó thay, sống xấu hổ,
Thường thường cầu thanh tịnh.
Sống vô tư, khiêm tốn,
Trong sạch và sáng suốt.
Chuyện 5 thiện nam tử
Ai ở đời sát sinh,
Nói láo không chân thật,
Ở đời lấy không cho,
Qua lại với vợ người.
Uống rượu men, rượu nấu,
Người sống đam mê vậy,
Chính ngay tại đời này,
Tự đào bới gốc mình.
Vậy người, hãy nên biết,
Không chế ngự là ác,
Chớ để tham phi pháp,
Làm người đau khổ dài.
Chuyện Tỳ-kheo Tissa trẻ hay chê sự cúng dường
Do tín tâm, hỷ tâm
Loài người mới bố thí.
Ở đây ai bất mãn
Người khác được ăn uống,
Người ấy ngày hoặc đêm,
Không đạt được tâm tịnh?
Ai cắt được, phá được,
Tận gốc nhổ tâm ấy.
Người ấy ngày hoặc đêm,
Tất đến được tâm định.
Chuyện 5 thiện nam tử
Lửa nào bằng lửa tham!
Chấp nào bằng sân hận!
Lưới nào bằng lưới si!
Sông nào bằng sông ái!
Chuyện Trưởng Giả Meṇḍaka (Miên Dương)
Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo.
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian dấu bài.
Chuyện Trưởng lão Ujjhānasaññī (Ưa Bắt Lỗi)
Ai thấy lỗi của người,
Thường sanh lòng chỉ trích,
Người ấy lậu hoặc tăng,
Rất xa lậu hoặc diệt.
Chuyện du sĩ Subhadda
Hư không, không dấu chân,
Ngoài đây, không sa môn,
Chúng sanh thích hý luận,
Như Lai, hý luận trừ.
Hư không, không dấu chân,
Ngoài đây, không sa môn.
Các hành không thường trú,
Chư Phật không dao động.
Hết phẩm Cấu Uế
Paṇḍupalāsova dānisi,
Yamapurisāpi ca te upaṭṭhitā;
Uyyogamukhe ca tiṭṭhasi,
Pātheyyampi ca te na vijjati.
So karohi dīpamattano,
Khippaṁ vāyama paṇḍito bhava;
Niddhantamalo anaṅgaṇo,
Dibbaṁ ariyabhūmiṁ upehisi.
Upanītavayo ca dānisi,
Sampayātosi yamassa santikaṁ;
Vāso te natthi antarā,
Pātheyyampi ca te na vijjati.
So karohi dīpamattano,
Khippaṁ vāyama paṇḍito bhava;
Niddhantamalo anaṅgaṇo,
Na punaṁ jātijaraṁ upehisi.
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Anupubbena medhāvī,
thokaṁ thokaṁ khaṇe khaṇe;
Kammāro rajatasseva,
niddhame malamattano.
Tissattheravatthu
Ayasāva malaṁ samuṭṭhitaṁ,
Tatuṭṭhāya tameva khādati;
Evaṁ atidhonacārinaṁ,
Sāni kammāni nayanti duggatiṁ.
Lāḷudāyīvatthu
Asajjhāyamalā mantā,
anuṭṭhānamalā gharā;
Malaṁ vaṇṇassa kosajjaṁ,
pamādo rakkhato malaṁ.
Aññatarakulaputtavatthu
Malitthiyā duccaritaṁ,
maccheraṁ dadato malaṁ;
Malā ve pāpakā dhammā,
asmiṁ loke paramhi ca.
Tato malā malataraṁ,
avijjā paramaṁ malaṁ;
Etaṁ malaṁ pahantvāna,
nimmalā hotha bhikkhavo.
Cūḷasāribhikkhuvatthu
Sujīvaṁ ahirikena,
kākasūrena dhaṁsinā;
Pakkhandinā pagabbhena,
saṅkiliṭṭhena jīvitaṁ.
Hirīmatā ca dujjīvaṁ,
niccaṁ sucigavesinā;
Alīnenāppagabbhena,
suddhājīvena passatā.
Pañcaupāsakavatthu
Yo pāṇamatipāteti,
musāvādañca bhāsati;
Loke adinnamādiyati,
paradārañca gacchati.
Surāmerayapānañca,
yo naro anuyuñjati;
Idheva meso lokasmiṁ,
mūlaṁ khaṇati attano.
Evaṁ bho purisa jānāhi,
pāpadhammā asaññatā;
Mā taṁ lobho adhammo ca,
ciraṁ dukkhāya randhayuṁ.
Tissadaharavatthu
Dadāti ve yathāsaddhaṁ,
yathāpasādanaṁ jano;
Tattha yo ca maṅku bhavati,
paresaṁ pānabhojane;
Na so divā vā rattiṁ vā,
samādhimadhigacchati.
Yassa cetaṁ samucchinnaṁ,
mūlaghaccaṁ samūhataṁ;
Sa ve divā vā rattiṁ vā,
samādhimadhigacchati.
Pañcaupāsakavatthu
Natthi rāgasamo aggi,
natthi dosasamo gaho;
Natthi mohasamaṁ jālaṁ,
natthi taṇhāsamā nadī.
Meṇḍakaseṭṭhivatthu
Sudassaṁ vajjamaññesaṁ,
attano pana duddasaṁ;
Paresaṁ hi so vajjāni,
opunāti yathā bhusaṁ;
Attano pana chādeti,
kaliṁva kitavā saṭho.
Ujjhānasaññittheravatthu
Paravajjānupassissa,
niccaṁ ujjhānasaññino;
Āsavā tassa vaḍḍhanti,
ārā so āsavakkhayā.
Subhaddaparibbājakavatthu
Ākāseva padaṁ natthi,
samaṇo natthi bāhire;
Papañcābhiratā pajā,
nippapañcā tathāgatā.
Ākāseva padaṁ natthi,
samaṇo natthi bāhire;
Saṅkhārā sassatā natthi,
natthi buddhānamiñjitaṁ.
Malavaggo aṭṭhārasamo.
SC 235You are now like a yellowed leaf.
Even Yama’s men have come for you.
You stand at the mouth of death,
With no provisions for the journey.
SC 236Make an island for yourself.
Strive quickly. Be wise.
Clear, with impurities removed,
You will enter the divine realm of the noble ones.
SC 237And now, with life almost finished,
You have entered into Yama’s presence.
There is no place to rest in between;
There are no provisions for the journey.
SC 238Make an island for yourself.
Strive quickly. Be wise.
Clear, with impurities removed,
You will not come to birth and old age again.
SC 239Like a metal-smith who,
Little-by-little, moment-by-moment,
Cleanses dross from silver,
So too the wise one cleanses his impurities
gradually.
SC 240Just as rust eats the iron from which it has arisen,
So the monk who lives excessively
Is led by his own deeds into a woeful rebirth.
SC 241Sacred texts are profaned by non-recitation;
Houses are broken down by neglect;
Beauty is compromised by sloth;
And vigilance is undermined by negligence.
SC 242Bad conduct is the impurity of a woman.
Stinginess, the impurity of a giver.
Impurities are evil things,
In this world and in the next.
SC 243More impure than these is ignorance,
This is the supreme impurity.
Having renounced this impurity,
O monks, be pure.
SC 244Easy to live is the life of the shameless,
The unconscientious, offensive, pushy, reckless, and
corrupt.
SC 245Hard to live is the life of one with conscience,
Who always strives to be pure,
Who is open, careful, perceptive, and clean-living.
SC 246Whoever kills a living being,
Speaks falsely,
Takes whatever in the world is not given,
Goes to another’s wife,
SC 247And gives himself to drinking liquor,
Uproots himself in this very world.
SC 248Know this friend: evil things are reckless.
Let not greed and injustice subject you to long
suffering.
SC 249People give according to their faith, according to
their trust.
The one who is disconcerted by others’ food and
drink,
Will never attain samādhi, neither by day nor by
night.
SC 250But one who has cut off, destroyed at the root,
And removed this consternation,
Will attain samādhi, day or night.
SC 251There is no fire like passion;
There is no fetter like ill will;
There is no snare like delusion;
There is no river like craving.
SC 252It is easy to see the faults of others,
But truly difficult to see one’s own.
One sifts out the faults of others like chaff,
But conceals one’s own,
As a deceitful gambler conceals a corrupt dice
throw.
SC 253The one who finds faults with others,
Always watching and critical:
His toxins only grow ever-farther from their
dissolution.
SC 254There are no tracks in the sky;
The renunciant is not outside;
People delight in impediments;
The Tathāgatas are without impediments.
SC 255There are no tracks in the sky;
The renunciant is not outside;
No conditioned things are eternal;
Unshaken are the Buddhas.
Ngươi nay giống lá héo,
Diêm sứ đang chờ ngươi,
Ngươi đứng trước cửa chết,
Ðường trường thiếu tư lương.
Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh cần gấp, sáng suốt.
Trừ cấu uế, thanh tịnh,
Ðến Thánh địa chư Thiên.
Ðời ngươi nay sắp tàn,
Tiến gần đến Diêm Vương.
Giữa đường không nơi nghỉ,
Ðường trường thiếu tư lương.
Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh cần gấp, sáng suốt.
Trừ cấu uế, thanh tịnh,
Chẳng trở lại sanh già.
Chuyện người Bà-la-môn tuần tự
Bậc trí theo tuần tự.
Từng sát na trừ dần
Như thợ vàng lọc bụi
Trừ cấu uế nơi mình.
Chuyện Trưởng lão Tissa
Như sét từ sắt sinh,
Sắt sanh lại ăn sắt,
Cũng vậy, quá lợi dưỡng
Tự nghiệp dẫn cõi ác.
Chuyện Trưởng lão Lāḷudāyī
Không tụng làm nhớp kinh,
Không đứng dậy, bẩn nhà,
Biếng nhác làm nhơ sắc,
Phóng dật uế người canh.
Chuyện người chồng có vợ ngoại tình
Tà hạnh nhơ đàn bà,
Xan tham nhớp kẻ thí,
Ác pháp là vết nhơ,
Ðời này và đời sau.
Trong hàng cầu uế ấy,
Vô minh, nhơ tối thượng,
Ðoạn nhơ ấy, tỳ-kheo,
Thành bậc không uế nhiễm.
Chuyện Tỳ-kheo Cūḷasāri theo tà mạng
Dễ thay, sống không hổ
Sống lỗ mãng như quạ,
Sống công kích huyênh hoang,
Sống liều lĩnh, nhiễm ô.
Khó thay, sống xấu hổ,
Thường thường cầu thanh tịnh.
Sống vô tư, khiêm tốn,
Trong sạch và sáng suốt.
Chuyện 5 thiện nam tử
Ai ở đời sát sinh,
Nói láo không chân thật,
Ở đời lấy không cho,
Qua lại với vợ người.
Uống rượu men, rượu nấu,
Người sống đam mê vậy,
Chính ngay tại đời này,
Tự đào bới gốc mình.
Vậy người, hãy nên biết,
Không chế ngự là ác,
Chớ để tham phi pháp,
Làm người đau khổ dài.
Chuyện Tỳ-kheo Tissa trẻ hay chê sự cúng dường
Do tín tâm, hỷ tâm
Loài người mới bố thí.
Ở đây ai bất mãn
Người khác được ăn uống,
Người ấy ngày hoặc đêm,
Không đạt được tâm tịnh?
Ai cắt được, phá được,
Tận gốc nhổ tâm ấy.
Người ấy ngày hoặc đêm,
Tất đến được tâm định.
Chuyện 5 thiện nam tử
Lửa nào bằng lửa tham!
Chấp nào bằng sân hận!
Lưới nào bằng lưới si!
Sông nào bằng sông ái!
Chuyện Trưởng Giả Meṇḍaka (Miên Dương)
Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi mình thấy mới khó.
Lỗi người ta phanh tìm,
Như sàng trấu trong gạo.
Còn lỗi mình, che đậy,
Như kẻ gian dấu bài.
Chuyện Trưởng lão Ujjhānasaññī (Ưa Bắt Lỗi)
Ai thấy lỗi của người,
Thường sanh lòng chỉ trích,
Người ấy lậu hoặc tăng,
Rất xa lậu hoặc diệt.
Chuyện du sĩ Subhadda
Hư không, không dấu chân,
Ngoài đây, không sa môn,
Chúng sanh thích hý luận,
Như Lai, hý luận trừ.
Hư không, không dấu chân,
Ngoài đây, không sa môn.
Các hành không thường trú,
Chư Phật không dao động.
Hết phẩm Cấu Uế
Paṇḍupalāsova dānisi,
Yamapurisāpi ca te upaṭṭhitā;
Uyyogamukhe ca tiṭṭhasi,
Pātheyyampi ca te na vijjati.
So karohi dīpamattano,
Khippaṁ vāyama paṇḍito bhava;
Niddhantamalo anaṅgaṇo,
Dibbaṁ ariyabhūmiṁ upehisi.
Upanītavayo ca dānisi,
Sampayātosi yamassa santikaṁ;
Vāso te natthi antarā,
Pātheyyampi ca te na vijjati.
So karohi dīpamattano,
Khippaṁ vāyama paṇḍito bhava;
Niddhantamalo anaṅgaṇo,
Na punaṁ jātijaraṁ upehisi.
Aññatarabrāhmaṇavatthu
Anupubbena medhāvī,
thokaṁ thokaṁ khaṇe khaṇe;
Kammāro rajatasseva,
niddhame malamattano.
Tissattheravatthu
Ayasāva malaṁ samuṭṭhitaṁ,
Tatuṭṭhāya tameva khādati;
Evaṁ atidhonacārinaṁ,
Sāni kammāni nayanti duggatiṁ.
Lāḷudāyīvatthu
Asajjhāyamalā mantā,
anuṭṭhānamalā gharā;
Malaṁ vaṇṇassa kosajjaṁ,
pamādo rakkhato malaṁ.
Aññatarakulaputtavatthu
Malitthiyā duccaritaṁ,
maccheraṁ dadato malaṁ;
Malā ve pāpakā dhammā,
asmiṁ loke paramhi ca.
Tato malā malataraṁ,
avijjā paramaṁ malaṁ;
Etaṁ malaṁ pahantvāna,
nimmalā hotha bhikkhavo.
Cūḷasāribhikkhuvatthu
Sujīvaṁ ahirikena,
kākasūrena dhaṁsinā;
Pakkhandinā pagabbhena,
saṅkiliṭṭhena jīvitaṁ.
Hirīmatā ca dujjīvaṁ,
niccaṁ sucigavesinā;
Alīnenāppagabbhena,
suddhājīvena passatā.
Pañcaupāsakavatthu
Yo pāṇamatipāteti,
musāvādañca bhāsati;
Loke adinnamādiyati,
paradārañca gacchati.
Surāmerayapānañca,
yo naro anuyuñjati;
Idheva meso lokasmiṁ,
mūlaṁ khaṇati attano.
Evaṁ bho purisa jānāhi,
pāpadhammā asaññatā;
Mā taṁ lobho adhammo ca,
ciraṁ dukkhāya randhayuṁ.
Tissadaharavatthu
Dadāti ve yathāsaddhaṁ,
yathāpasādanaṁ jano;
Tattha yo ca maṅku bhavati,
paresaṁ pānabhojane;
Na so divā vā rattiṁ vā,
samādhimadhigacchati.
Yassa cetaṁ samucchinnaṁ,
mūlaghaccaṁ samūhataṁ;
Sa ve divā vā rattiṁ vā,
samādhimadhigacchati.
Pañcaupāsakavatthu
Natthi rāgasamo aggi,
natthi dosasamo gaho;
Natthi mohasamaṁ jālaṁ,
natthi taṇhāsamā nadī.
Meṇḍakaseṭṭhivatthu
Sudassaṁ vajjamaññesaṁ,
attano pana duddasaṁ;
Paresaṁ hi so vajjāni,
opunāti yathā bhusaṁ;
Attano pana chādeti,
kaliṁva kitavā saṭho.
Ujjhānasaññittheravatthu
Paravajjānupassissa,
niccaṁ ujjhānasaññino;
Āsavā tassa vaḍḍhanti,
ārā so āsavakkhayā.
Subhaddaparibbājakavatthu
Ākāseva padaṁ natthi,
samaṇo natthi bāhire;
Papañcābhiratā pajā,
nippapañcā tathāgatā.
Ākāseva padaṁ natthi,
samaṇo natthi bāhire;
Saṅkhārā sassatā natthi,
natthi buddhānamiñjitaṁ.
Malavaggo aṭṭhārasamo.