BJT 171“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 172Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 173Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 174Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 175“‘Ra khỏi cửa thành Kevaṭṭa, đã là chỗ trú ngụ của tôi. Trong khi các bậc Thinh Văn, các vị đại ẩn sĩ, du hành ở nơi ấy, …
BJT 176… tôi đã bố thí cơm, bánh kem, rau tươi, cháo chua mặn, với tâm ý thanh tịnh ở những con người chính trực.
BJT 177Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 178Tôi đã hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Tôi cư ngụ ở tòa lâu đài, có sự tự kiềm chế, có sự san sẻ.
BJT 179Tôi kiêng chừa việc giết hại mạng sống, và thu thúc về việc nói dối, việc trộm cắp, việc tà hạnh, và xa lánh việc uống chất say.
BJT 180Tôi được vui thích ở năm điều học, là người thông hiểu các Chân Lý Cao Thượng, là nữ cư sĩ của đấng Hữu Nhãn Gotama có danh tiếng.
BJT 181Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 182Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.’
Thiên Cung của Lakhumā.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Kevaṭṭadvārā nikkhamma,
ahu mayhaṁ nivesanaṁ;
Tattha sañcaramānānaṁ,
sāvakānaṁ mahesinaṁ.
Odanaṁ kummāsaṁ ḍākaṁ,
loṇasovīrakañcahaṁ;
Adāsiṁ ujubhūtesu,
vippasannena cetasā.
Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,
yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca,
aṭṭhaṅgasusamāgataṁ.
Uposathaṁ upavasissaṁ,
sadā sīlesu saṁvutā;
Saññamā saṁvibhāgā ca,
vimānaṁ āvasāmahaṁ.
Pāṇātipātā viratā,
musāvādā ca saññatā;
Theyyā ca aticārā ca,
majjapānā ca ārakā.
Pañcasikkhāpade ratā,
ariyasaccāna kovidā;
Upāsikā cakkhumato,
gotamassa yasassino.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatīti.
Mama ca, bhante, vacanena bhagavato pāde sirasā vandeyyāsi—
‘lakhumā nāma, bhante, upāsikā bhagavato pāde sirasā vandatī’ti.
Anacchariyaṁ kho panetaṁ, bhante, yaṁ maṁ bhagavā aññatarasmiṁ sāmaññaphale byākareyya.
Taṁ bhagavā sakadāgāmiphale byākāsī”ti.
Lakhumāvimānaṁ dutiyaṁ.
Moggallana Bhante:
Devata, you are in this Cittalata Park surrounded by many goddesses as if you were the god Sakka. Your beauty shines in all directions like the bright star named Osadhi.
What are the meritorious deeds that led to this happiness?
Tell me Devata, what kind of meritorious actions did you do when you were in the human world to have gained this beauty that shines in all directions, and to have earned all these wonderful things?
Narrator:
That devata, delighted at being questioned by Arahant Moggallana, gladly explained what she had done that resulted in such great happiness.
Devata:
Bhante, in the human world my house was located in a fishing village. Some of the Supreme Buddha’a monks visited that area for almsround. With a happy mind, I offered rice, honey-covered cake, vegetables, and rice-gruel to those virtuous monks who were dedicated to Dhamma practice.
I was eager to observe the Eight Precepts four times a month on each of the four moon phases. I led a restrained life and was very generous.
I abstained from killing, stealing, lying, and taking intoxicants. I did not cheat on my husband. I was delighted to keep these Five Precepts every day. I was a lay follower of Gautama Supreme Buddha, the one who had the great wisdom to see the reality of the world. I was wise enough to realize the Four Noble Truths.
Because of my virtuous life and meritorious deeds, I live happily here. I have been born as a very beautiful devata and enjoy all the wonderful things that delight my heart.
Great Bhante, those were the meritorious deeds I did to have such a beautiful body that shines in all directions.
Please Bhante, pay homage on my behalf by placing your head on the Blessed One’s feet and saying, “Bhante, the lay follower named Lakhuma pays homage by placing her head on the Blessed One’s feet.” The Blessed One stated that I have attained a certain fruit of enlightenment. I too know that.
Bhante, the Supreme Buddha declared that I have attained the fruit of once returner.
BJT 171“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 172Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 173Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 174Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 175“‘Ra khỏi cửa thành Kevaṭṭa, đã là chỗ trú ngụ của tôi. Trong khi các bậc Thinh Văn, các vị đại ẩn sĩ, du hành ở nơi ấy, …
BJT 176… tôi đã bố thí cơm, bánh kem, rau tươi, cháo chua mặn, với tâm ý thanh tịnh ở những con người chính trực.
BJT 177Vào ngày mười bốn, ngày mười lăm, ngày mồng tám của mỗi nửa tháng, và những ngày phụ trội của nửa tháng là có sự thọ trì tốt đẹp về tám giới.
BJT 178Tôi đã hành trì ngày trai giới, luôn luôn thu thúc trong các giới. Tôi cư ngụ ở tòa lâu đài, có sự tự kiềm chế, có sự san sẻ.
BJT 179Tôi kiêng chừa việc giết hại mạng sống, và thu thúc về việc nói dối, việc trộm cắp, việc tà hạnh, và xa lánh việc uống chất say.
BJT 180Tôi được vui thích ở năm điều học, là người thông hiểu các Chân Lý Cao Thượng, là nữ cư sĩ của đấng Hữu Nhãn Gotama có danh tiếng.
BJT 181Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 182Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.’
Thiên Cung của Lakhumā.
“Abhikkantena vaṇṇena,
yā tvaṁ tiṭṭhasi devate;
Obhāsentī disā sabbā,
osadhī viya tārakā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
kena te idha mijjhati;
Uppajjanti ca te bhogā,
ye keci manaso piyā.
Pucchāmi taṁ devi mahānubhāve,
Manussabhūtā kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvā,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
moggallānena pucchitā;
Pañhaṁ puṭṭhā viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Kevaṭṭadvārā nikkhamma,
ahu mayhaṁ nivesanaṁ;
Tattha sañcaramānānaṁ,
sāvakānaṁ mahesinaṁ.
Odanaṁ kummāsaṁ ḍākaṁ,
loṇasovīrakañcahaṁ;
Adāsiṁ ujubhūtesu,
vippasannena cetasā.
Cātuddasiṁ pañcadasiṁ,
yā ca pakkhassa aṭṭhamī;
Pāṭihāriyapakkhañca,
aṭṭhaṅgasusamāgataṁ.
Uposathaṁ upavasissaṁ,
sadā sīlesu saṁvutā;
Saññamā saṁvibhāgā ca,
vimānaṁ āvasāmahaṁ.
Pāṇātipātā viratā,
musāvādā ca saññatā;
Theyyā ca aticārā ca,
majjapānā ca ārakā.
Pañcasikkhāpade ratā,
ariyasaccāna kovidā;
Upāsikā cakkhumato,
gotamassa yasassino.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatīti.
Mama ca, bhante, vacanena bhagavato pāde sirasā vandeyyāsi—
‘lakhumā nāma, bhante, upāsikā bhagavato pāde sirasā vandatī’ti.
Anacchariyaṁ kho panetaṁ, bhante, yaṁ maṁ bhagavā aññatarasmiṁ sāmaññaphale byākareyya.
Taṁ bhagavā sakadāgāmiphale byākāsī”ti.
Lakhumāvimānaṁ dutiyaṁ.