BJT 1172“Giống như mặt trăng, chúa tể các vì sao, có hình con thỏ, vào ngày rằm, được vây quanh bởi các vì tinh tú, di chuyển vòng quanh.
BJT 1173Tương tự như thế, Thiên cung này thuộc cõi Trời và ở thành phố của chư Thiên sáng chói vượt trội nhờ vào vẻ đẹp, tựa như mặt trời đang mọc lên.
BJT 1174Ngọc bích, vàng, ngọc pha-lê, và ngọc ru-bi, với các viên ngọc mắt mèo, ngọc trai, và các viên ngọc ma-ni màu đỏ.
BJT 1175Mặt nền đa dạng, làm thích ý, được trải lót bằng ngọc bích, có các ngôi nhà mái nhọn xinh đẹp, đáng yêu; tòa lâu đài của ngươi đã khéo được hóa hiện.
BJT 1176Và các hồ sen của ngươi là đáng yêu, được loài cá puthuloma lai vãng, có nước trong sạch, được yên tĩnh, được trải cát bằng vàng.
BJT 1177Được che phủ bởi nhiều loại sen khác nhau, được trải rộng với những cây sen trắng, (các hồ sen) làm hài lòng, được lay động bởi làn gió, tỏa ra hương thơm.
BJT 1178Ở cả hai bên cái hồ ấy của ngươi, có những cụm rừng đã khéo được hóa hiện ra, có đủ cả hai loại với các loại cây bông hoa và các loại cây sinh trái.
BJT 1179Ở chiếc ghế dài có chân bằng vàng, mềm mại, được trải lót lớp vải, các tiên nữ đứng hầu (ngươi) đã ngồi xuống, tựa như vị Thiên Vương.
BJT 1180(Các tiên nữ) được che phủ với tất cả đồ trang sức, được điểm trang với các tràng hoa khác loại, tiêu khiển cho ngươi, người có đại thần lực; ngươi vui thú tựa như vị (Thiên Vương) Vasavatti.
BJT 1181Với các cái trống, các tù và vỏ sò và các trống nhỏ, với các cây đàn vīṇā, và với các xập xõa, được đầy đủ thú vui, ngươi vui thú ở vũ điệu lời ca, ở khúc nhạc hay.
BJT 1182Các sắc thuộc cõi Trời với nhiều hình thức là thuộc về ngươi, các thinh thuộc cõi Trời, rồi các vị, các hương, và các xúc thích ý được dành riêng cho ngươi.
BJT 1183Này vị Thiên tử, ở Thiên cung quý cao ấy, ngươi có ánh sáng vĩ đại, sáng chói vượt trội nhờ vào màu da, tựa như mặt trời đang mọc lên.
BJT 1184Quả báo này của ngươi là do sự bố thí, hay là do giới hạnh, hoặc của hành động chắp tay? Được hỏi, xin ngươi hãy giải thích điều ấy cho ta.”
BJT 1185Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1187-1188Vào lúc nửa đêm, vị ấy đã ra đi vì sự Giác Ngộ. Vị ấy, với hai bàn tay mềm mại, có màng lưới, và các móng tay màu đồng, đã vỗ vào đùi của tôi và đã nói rằng: ‘Này bạn, hãy đưa (ta) đi. Đạt được quả vị Giác Ngộ tối thượng, ta sẽ giúp cho thế gian vượt qua.’
BJT 1189Niềm vui bao la đã có cho tôi trong khi tôi đang lắng nghe câu nói ấy. Với tâm phấn khởi, với thiện ý, khi ấy tôi đã mong cầu.
BJT 1190Và sau khi biết được người con trai dòng Sakya, có danh tiếng lớn lao, đã cỡi lên tôi, với tâm phấn khởi, được hoan hỷ, tôi đã đưa bậc tối thượng nhân đi.
BJT 1191Sau khi đi đến lãnh thổ của những người khác, khi mặt trời đã mọc lên, sau khi bỏ lại tôi và Channa, vị ấy đã bỏ đi, không đoái hoài.
BJT 1192Bằng lưỡi, tôi đã liếm quanh hai bàn chân có móng chân màu đồng của vị ấy, và đã khóc lóc nhìn theo vị đại anh hùng đang ra đi.
BJT 1193Do việc không còn nhìn thấy người con trai dòng Sakya vinh quang ấy, tôi đã nhận lấy cơn bệnh trầm trọng; cái chết đã nhanh chóng xảy đến cho tôi.
BJT 1194Do nhờ năng lực của chính việc ấy, tôi trú ngụ tại Thiên cung này, có đủ tất cả các loại dục, và ở thành phố chư Thiên thuộc cõi Trời.
BJT 1195Và việc tôi đã có niềm vui sau khi nghe được âm thanh của từ giác ngộ; do chính thiện căn ấy, tôi sẽ chạm đến sự cạn kiệt các lậu hoặc.
BJT 1196Thưa ngài, bởi vì nếu ngài đi đến gặp đức Phật, bậc Đạo Sư, xin ngài hãy nói với Vị ấy luôn cả lời nói của tôi về việc đê đầu đảnh lễ (của tôi).
BJT 1197Tôi cũng sẽ đi để diện kiến đấng Chiến Thắng, bậc không người đối thủ; việc gặp gỡ các đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy là điều khó đạt được.”
BJT 1198Vị (Thiên tử) ấy có sự tri ân, có sự hiểu biết về việc đã được làm, đã đi đến gặp bậc Đạo Sư. Sau khi lắng nghe lời nói của đấng Hữu Nhãn, vị ấy đã làm trong sạch Pháp nhãn.
BJT 1199Sau khi đã làm trong sạch việc sa vào (tà) kiến, hoài nghi, và (sự cố chấp vào) các nghi thức, vị ấy đã đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Thiên Cung của Kanthaka.
“Puṇṇamāse yathā cando,
nakkhattaparivārito;
Samantā anupariyāti,
tārakādhipatī sasī.
Tathūpamaṁ idaṁ byamhaṁ,
dibbaṁ devapuramhi ca;
Atirocati vaṇṇena,
udayantova raṁsimā.
Veḷuriyasuvaṇṇassa,
phalikā rūpiyassa ca;
Masāragallamuttāhi,
lohitaṅgamaṇīhi ca.
Citrā manoramā bhūmi,
veḷūriyassa santhatā;
Kūṭāgārā subhā rammā,
pāsādo te sumāpito.
Rammā ca te pokkharaṇī,
puthulomanisevitā;
Acchodakā vippasannā,
sovaṇṇavālukasanthatā.
Nānāpadumasañchannā,
puṇḍarīkasamotatā;
Surabhiṁ sampavāyanti,
manuññā māluteritā.
Tassā te ubhato passe,
vanagumbā sumāpitā;
Upetā puppharukkhehi,
phalarukkhehi cūbhayaṁ.
Sovaṇṇapāde pallaṅke,
muduke gonakatthate;
Nisinnaṁ devarājaṁva,
upatiṭṭhanti accharā.
Sabbābharaṇasañchannā,
nānāmālāvibhūsitā;
Ramenti taṁ mahiddhikaṁ,
vasavattīva modasi.
Bherisaṅkhamudiṅgāhi,
vīṇāhi paṇavehi ca;
Ramasi ratisampanno,
naccagīte suvādite.
Dibbā te vividhā rūpā,
dibbā saddā atho rasā;
Gandhā ca te adhippetā,
phoṭṭhabbā ca manoramā.
Tasmiṁ vimāne pavare,
devaputta mahappabho;
Atirocasi vaṇṇena,
udayantova bhāṇumā.
Dānassa te idaṁ phalaṁ,
atho sīlassa vā pana;
Atho añjalikammassa,
taṁ me akkhāhi pucchito”.
So devaputto attamano,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ kapilavatthusmiṁ,
sākiyānaṁ puruttame;
Suddhodanassa puttassa,
kaṇḍako sahajo ahaṁ.
Yadā so aḍḍharattāyaṁ,
bodhāya mabhinikkhami;
So maṁ mudūhi pāṇīhi,
jāli tambanakhehi ca.
Satthiṁ ākoṭayitvāna,
vaha sammāti cabravi;
Ahaṁ lokaṁ tārayissaṁ,
patto sambodhimuttamaṁ.
Taṁ me giraṁ suṇantassa,
hāso me vipulo ahu;
Udaggacitto sumano,
abhisīsiṁ tadā ahaṁ.
Abhirūḷhañca maṁ ñatvā,
sakyaputtaṁ mahāyasaṁ;
Udaggacitto mudito,
vahissaṁ purisuttamaṁ.
Paresaṁ vijitaṁ gantvā,
uggatasmiṁ divākare;
Mamaṁ channañca ohāya,
anapekkho so apakkami.
Tassa tambanakhe pāde,
jivhāya parilehisaṁ;
Gacchantañca mahāvīraṁ,
rudamāno udikkhisaṁ.
Adassanenahaṁ tassa,
sakyaputtassa sirīmato;
Alatthaṁ garukābādhaṁ,
khippaṁ me maraṇaṁ ahu.
Tasseva ānubhāvena,
vimānaṁ āvasāmidaṁ;
Sabbakāmaguṇopetaṁ,
dibbaṁ devapuramhi ca.
Yañca me ahuvā hāso,
saddaṁ sutvāna bodhiyā;
Teneva kusalamūlena,
phusissaṁ āsavakkhayaṁ.
Sace hi bhante gaccheyyāsi,
satthu buddhassa santike;
Mamāpi naṁ vacanena,
sirasā vajjāsi vandanaṁ.
Ahampi daṭṭhuṁ gacchissaṁ,
jinaṁ appaṭipuggalaṁ;
Dullabhaṁ dassanaṁ hoti,
lokanāthāna tādinan”ti.
So kataññū katavedī,
satthāraṁ upasaṅkami;
Sutvā giraṁ cakkhumato,
dhammacakkhuṁ visodhayi.
Visodhetvā diṭṭhigataṁ,
vicikicchaṁ vatāni ca;
Vanditvā satthuno pāde,
tatthevantaradhāyathāti.
Kaṇḍakavimānaṁ sattamaṁ.
Moggallana Bhante:
Dear Deva, the mansion in this heaven travels in all directions, shining brightly like the full moon – the leader of stars, surrounded by the constellations. It shines as brightly as the rising sun. Beryl, gold, crystal, silver, cat’s-eyes, pearls, and rubies decorate the floor of this mansion. The pillars are extremely beautiful. This mansion is beautifully made.
There is a beautiful lotus pond with many divine fish. It is filled with clear sparkling water, and its bottom is covered in golden sand. Various types of lotuses and white lilies bloom in the pond. When the breeze blows, a sweet fragrance spreads throughout the air. There are two beautiful forests on opposite banks of the pond. Their trees are full of flowers and fruits.
The comfortable chair you are sitting on is made of gold and decorated with divine cloth. You are surrounded by many goddesses, like the god Sakka. Those mighty goddesses, decorated with beautiful ornaments and flowers, entertain you. You are as happy in your mansion as a leader of gods. It is filled with the sweet sounds of drums, conchs, kettle-drums, guitars, and tam-tams. You enjoy the music, dances, and songs. You have received various divine sights, sounds, smells, tastes, and touches. Dear Deva, you shine brighter and brighter in this mansion like the rising sun.
How did you gain all these wonderful things? Is this the result of giving or practicing virtue or paying homage to someone? Please tell me of what meritorious deed this is the result of.
Narrator:
That deva, delighted at being questioned by Arahant Moggallana, gladly explained what he had done that resulted in such great happiness.
Deva:
I lived in the proud city of Kapilavatthu which was owned by the Sakyan people. My name was Kanthaka. I was the dearest horse of Prince Siddhartha, and I was born on the same day as this prince, the son of King Suddhodana.
One day at midnight Prince Siddhartha renounced the palace-life in order to seek enlightenment. He touched my thigh with his soft flexible hands and copper-colored nails. While touching my thigh he told me, “My friend, I am going to achieve enlightenment and after I have attained it, I will help others in the world to cross over this samsara. So carry me, my friend.”
I was overjoyed to hear those words. With great delight I let the prince get onto my back. The famous mighty prince sat on my back, and thrilled, I carried him joyfully.
As the sun was rising we approached another kingdom. Leaving me and the chariot-driver Channa, Prince Siddhartha departed silently as if he had no attachment to us.
I licked Prince Siddhartha’s sacred feet, with their copper-colored toenails, as he was about to depart. We watched the Great Hero entering the thick forest with tears in our eyes.
As soon as he was out of sight, I suddenly got very ill. Right there and then, I died.
Through the power of that meritorious deed, I have received this heavenly mansion. I enjoy this heaven immensely, surrounded by all the divine pleasures.
One day, other devas were rejoicing, having heard that Prince Siddhartha had attained Supreme Enlightenment. When I heard that, I was overjoyed. Based on that joy, I will attain Nibbana one day.
Bhante, when you approach the Greatest Teacher, the Supreme Buddha, please worship the Blessed One saying, “Deva Kanthaka worships you with his words and by bowing his head.”
Soon, I too will go to see the Matchless Teacher who won the battle. It is extremely rare to see such a Supreme Buddha, who is unshaken by the ups and downs of the world. He is the true protector of the world.
Narrator:
On a later day, recollecting the help of the Great Teacher, and feeling grateful and thankful for his teachings, Deva Kanthaka went to see the Supreme Buddha. Having listened to the Buddha’s teaching, he understood it and gained the Eye of Dhamma.
Narrator:
Deva Kanthaka removed self-centered view, doubt, and wrongful practices and became a Stream Entrant. After worshiping the Supreme Teacher’s sacred feet, he disappeared right there and then.
BJT 1172“Giống như mặt trăng, chúa tể các vì sao, có hình con thỏ, vào ngày rằm, được vây quanh bởi các vì tinh tú, di chuyển vòng quanh.
BJT 1173Tương tự như thế, Thiên cung này thuộc cõi Trời và ở thành phố của chư Thiên sáng chói vượt trội nhờ vào vẻ đẹp, tựa như mặt trời đang mọc lên.
BJT 1174Ngọc bích, vàng, ngọc pha-lê, và ngọc ru-bi, với các viên ngọc mắt mèo, ngọc trai, và các viên ngọc ma-ni màu đỏ.
BJT 1175Mặt nền đa dạng, làm thích ý, được trải lót bằng ngọc bích, có các ngôi nhà mái nhọn xinh đẹp, đáng yêu; tòa lâu đài của ngươi đã khéo được hóa hiện.
BJT 1176Và các hồ sen của ngươi là đáng yêu, được loài cá puthuloma lai vãng, có nước trong sạch, được yên tĩnh, được trải cát bằng vàng.
BJT 1177Được che phủ bởi nhiều loại sen khác nhau, được trải rộng với những cây sen trắng, (các hồ sen) làm hài lòng, được lay động bởi làn gió, tỏa ra hương thơm.
BJT 1178Ở cả hai bên cái hồ ấy của ngươi, có những cụm rừng đã khéo được hóa hiện ra, có đủ cả hai loại với các loại cây bông hoa và các loại cây sinh trái.
BJT 1179Ở chiếc ghế dài có chân bằng vàng, mềm mại, được trải lót lớp vải, các tiên nữ đứng hầu (ngươi) đã ngồi xuống, tựa như vị Thiên Vương.
BJT 1180(Các tiên nữ) được che phủ với tất cả đồ trang sức, được điểm trang với các tràng hoa khác loại, tiêu khiển cho ngươi, người có đại thần lực; ngươi vui thú tựa như vị (Thiên Vương) Vasavatti.
BJT 1181Với các cái trống, các tù và vỏ sò và các trống nhỏ, với các cây đàn vīṇā, và với các xập xõa, được đầy đủ thú vui, ngươi vui thú ở vũ điệu lời ca, ở khúc nhạc hay.
BJT 1182Các sắc thuộc cõi Trời với nhiều hình thức là thuộc về ngươi, các thinh thuộc cõi Trời, rồi các vị, các hương, và các xúc thích ý được dành riêng cho ngươi.
BJT 1183Này vị Thiên tử, ở Thiên cung quý cao ấy, ngươi có ánh sáng vĩ đại, sáng chói vượt trội nhờ vào màu da, tựa như mặt trời đang mọc lên.
BJT 1184Quả báo này của ngươi là do sự bố thí, hay là do giới hạnh, hoặc của hành động chắp tay? Được hỏi, xin ngươi hãy giải thích điều ấy cho ta.”
BJT 1185Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1187-1188Vào lúc nửa đêm, vị ấy đã ra đi vì sự Giác Ngộ. Vị ấy, với hai bàn tay mềm mại, có màng lưới, và các móng tay màu đồng, đã vỗ vào đùi của tôi và đã nói rằng: ‘Này bạn, hãy đưa (ta) đi. Đạt được quả vị Giác Ngộ tối thượng, ta sẽ giúp cho thế gian vượt qua.’
BJT 1189Niềm vui bao la đã có cho tôi trong khi tôi đang lắng nghe câu nói ấy. Với tâm phấn khởi, với thiện ý, khi ấy tôi đã mong cầu.
BJT 1190Và sau khi biết được người con trai dòng Sakya, có danh tiếng lớn lao, đã cỡi lên tôi, với tâm phấn khởi, được hoan hỷ, tôi đã đưa bậc tối thượng nhân đi.
BJT 1191Sau khi đi đến lãnh thổ của những người khác, khi mặt trời đã mọc lên, sau khi bỏ lại tôi và Channa, vị ấy đã bỏ đi, không đoái hoài.
BJT 1192Bằng lưỡi, tôi đã liếm quanh hai bàn chân có móng chân màu đồng của vị ấy, và đã khóc lóc nhìn theo vị đại anh hùng đang ra đi.
BJT 1193Do việc không còn nhìn thấy người con trai dòng Sakya vinh quang ấy, tôi đã nhận lấy cơn bệnh trầm trọng; cái chết đã nhanh chóng xảy đến cho tôi.
BJT 1194Do nhờ năng lực của chính việc ấy, tôi trú ngụ tại Thiên cung này, có đủ tất cả các loại dục, và ở thành phố chư Thiên thuộc cõi Trời.
BJT 1195Và việc tôi đã có niềm vui sau khi nghe được âm thanh của từ giác ngộ; do chính thiện căn ấy, tôi sẽ chạm đến sự cạn kiệt các lậu hoặc.
BJT 1196Thưa ngài, bởi vì nếu ngài đi đến gặp đức Phật, bậc Đạo Sư, xin ngài hãy nói với Vị ấy luôn cả lời nói của tôi về việc đê đầu đảnh lễ (của tôi).
BJT 1197Tôi cũng sẽ đi để diện kiến đấng Chiến Thắng, bậc không người đối thủ; việc gặp gỡ các đấng Bảo Hộ Thế Gian như thế ấy là điều khó đạt được.”
BJT 1198Vị (Thiên tử) ấy có sự tri ân, có sự hiểu biết về việc đã được làm, đã đi đến gặp bậc Đạo Sư. Sau khi lắng nghe lời nói của đấng Hữu Nhãn, vị ấy đã làm trong sạch Pháp nhãn.
BJT 1199Sau khi đã làm trong sạch việc sa vào (tà) kiến, hoài nghi, và (sự cố chấp vào) các nghi thức, vị ấy đã đảnh lễ hai bàn chân của bậc Đạo Sư rồi đã biến mất ngay tại chỗ ấy.
Thiên Cung của Kanthaka.
“Puṇṇamāse yathā cando,
nakkhattaparivārito;
Samantā anupariyāti,
tārakādhipatī sasī.
Tathūpamaṁ idaṁ byamhaṁ,
dibbaṁ devapuramhi ca;
Atirocati vaṇṇena,
udayantova raṁsimā.
Veḷuriyasuvaṇṇassa,
phalikā rūpiyassa ca;
Masāragallamuttāhi,
lohitaṅgamaṇīhi ca.
Citrā manoramā bhūmi,
veḷūriyassa santhatā;
Kūṭāgārā subhā rammā,
pāsādo te sumāpito.
Rammā ca te pokkharaṇī,
puthulomanisevitā;
Acchodakā vippasannā,
sovaṇṇavālukasanthatā.
Nānāpadumasañchannā,
puṇḍarīkasamotatā;
Surabhiṁ sampavāyanti,
manuññā māluteritā.
Tassā te ubhato passe,
vanagumbā sumāpitā;
Upetā puppharukkhehi,
phalarukkhehi cūbhayaṁ.
Sovaṇṇapāde pallaṅke,
muduke gonakatthate;
Nisinnaṁ devarājaṁva,
upatiṭṭhanti accharā.
Sabbābharaṇasañchannā,
nānāmālāvibhūsitā;
Ramenti taṁ mahiddhikaṁ,
vasavattīva modasi.
Bherisaṅkhamudiṅgāhi,
vīṇāhi paṇavehi ca;
Ramasi ratisampanno,
naccagīte suvādite.
Dibbā te vividhā rūpā,
dibbā saddā atho rasā;
Gandhā ca te adhippetā,
phoṭṭhabbā ca manoramā.
Tasmiṁ vimāne pavare,
devaputta mahappabho;
Atirocasi vaṇṇena,
udayantova bhāṇumā.
Dānassa te idaṁ phalaṁ,
atho sīlassa vā pana;
Atho añjalikammassa,
taṁ me akkhāhi pucchito”.
So devaputto attamano,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ kapilavatthusmiṁ,
sākiyānaṁ puruttame;
Suddhodanassa puttassa,
kaṇḍako sahajo ahaṁ.
Yadā so aḍḍharattāyaṁ,
bodhāya mabhinikkhami;
So maṁ mudūhi pāṇīhi,
jāli tambanakhehi ca.
Satthiṁ ākoṭayitvāna,
vaha sammāti cabravi;
Ahaṁ lokaṁ tārayissaṁ,
patto sambodhimuttamaṁ.
Taṁ me giraṁ suṇantassa,
hāso me vipulo ahu;
Udaggacitto sumano,
abhisīsiṁ tadā ahaṁ.
Abhirūḷhañca maṁ ñatvā,
sakyaputtaṁ mahāyasaṁ;
Udaggacitto mudito,
vahissaṁ purisuttamaṁ.
Paresaṁ vijitaṁ gantvā,
uggatasmiṁ divākare;
Mamaṁ channañca ohāya,
anapekkho so apakkami.
Tassa tambanakhe pāde,
jivhāya parilehisaṁ;
Gacchantañca mahāvīraṁ,
rudamāno udikkhisaṁ.
Adassanenahaṁ tassa,
sakyaputtassa sirīmato;
Alatthaṁ garukābādhaṁ,
khippaṁ me maraṇaṁ ahu.
Tasseva ānubhāvena,
vimānaṁ āvasāmidaṁ;
Sabbakāmaguṇopetaṁ,
dibbaṁ devapuramhi ca.
Yañca me ahuvā hāso,
saddaṁ sutvāna bodhiyā;
Teneva kusalamūlena,
phusissaṁ āsavakkhayaṁ.
Sace hi bhante gaccheyyāsi,
satthu buddhassa santike;
Mamāpi naṁ vacanena,
sirasā vajjāsi vandanaṁ.
Ahampi daṭṭhuṁ gacchissaṁ,
jinaṁ appaṭipuggalaṁ;
Dullabhaṁ dassanaṁ hoti,
lokanāthāna tādinan”ti.
So kataññū katavedī,
satthāraṁ upasaṅkami;
Sutvā giraṁ cakkhumato,
dhammacakkhuṁ visodhayi.
Visodhetvā diṭṭhigataṁ,
vicikicchaṁ vatāni ca;
Vanditvā satthuno pāde,
tatthevantaradhāyathāti.
Kaṇḍakavimānaṁ sattamaṁ.