BJT 1209“Ngươi đã được trang điểm, có bông tai đã được đánh bóng, có mang tràng hoa, có bôi xức trầm hương màu vàng, sau khi giơ hai cánh tay lên rồi than khóc ở giữa khu rừng, ngươi bị khổ đau điều gì?”
BJT 1210“Khung xe làm bằng vàng, rực rỡ, được phát sanh lên cho tôi. Tôi không tìm ra cặp bánh xe cho nó. Vì nỗi khổ đau ấy, tôi sẽ từ bỏ mạng sống.”
BJT 1211“Nó làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng hồng ngọc, hay làm bằng bạc? Này người thanh niên hiền thiện, ngươi hãy nói với ta. Ta sẽ giúp cho ngươi đạt được cặp bánh xe.”
BJT 1212Người thanh niên ấy đã nói với ông ấy rằng: “Ở đây, mặt trăng và mặt trời được nhìn thấy; cỗ xe của tôi, làm bằng vàng, được chói sáng với cặp bánh xe ấy.”
BJT 1213“Này người thanh niên, ngươi quả thật cũng khờ dại, ngươi mong mỏi vật không thể mong mỏi. Ta nghĩ rằng ngươi sẽ chết bởi vì ngươi sẽ không đạt được mặt trăng và mặt trời.”
BJT 1214“Việc đi và đến (của mặt trăng và mặt trời) còn được nhìn thấy. Ở đây, màu sắc và bản chất của cả hai là theo trình tự. Trái lại, người chết, đã qua đời, không được nhìn thấy. Vậy ở đây, trong hai người đang khóc lóc, người nào khờ dại hơn?”
BJT 1215“Này người thanh niên, quả nhiên ngươi nói đúng sự thật. Trong hai người đang khóc lóc, chính ta là khờ dại hơn. Ta đang mong mỏi người chết, đã qua đời, ví như đứa bé trai đang khóc đòi mặt trăng.
BJT 1216Quả thật, trong khi tôi đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
BJT 1217Khi tôi bị sầu muộn chế ngự, người nào đã xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của tôi, người ấy quả thật đã rút ra mũi tên sầu muộn đã cắm vào trái tim của tôi.
BJT 1218Chính tôi đây, có mũi tên đã được rút ra, có trạng thái mát lạnh, đã được an tịnh. Này người thanh niên, sau khi lắng nghe ngươi tôi không sầu muộn, không khóc lóc.
BJT 1219Phải chăng ngươi là Thiên nhân, là nhạc sĩ Thiên đình, hay là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây? Ngươi là ai, hay là con trai của ai, làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết ngươi?”
BJT 1220“Đứa con trai nào mà ông đã tự mình thiêu đốt ở nơi hỏa táng, rồi than vãn và khóc lóc, người ấy chính là tôi; sau khi làm việc thiện, tôi đã đạt đến sự cộng trú ở cõi Ba Mươi (Ba).”
BJT 1221“Chúng tôi đã không nhìn thấy vật thí ít hay nhiều của ngươi trong khi ngươi bố thí ở nhà mình, hay việc làm vào ngày trai giới tương tự như thế ấy; do nghiệp nào mà ngươi đã đi đến thế giới của chư Thiên?”
BJT 1222“Tôi là người có bệnh, bị khổ sở, là người bệnh, có dáng vóc bệnh hoạn ở trong căn nhà của mình. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc đã xa lìa ô nhiễm, vị đã vượt qua hoài nghi, đấng Thiện Thệ, có trí tuệ tuyệt vời.
BJT 1223Chính tôi đây, với ý vui mừng, với tâm tịnh tín, đã thực hiện việc chắp tay đến đức Như Lai. Sau khi làm việc thiện ấy, tôi đã đạt đến sự cộng trú ở cõi Ba Mươi (Ba).”
BJT 1224“Thật là kỳ diệu, phi thường! Quả thành tựu này của việc chắp tay là như thế. Tôi cũng vậy, với ý vui mừng, với tâm tịnh tín, tôi đi đến nương nhờ đức Phật ngay ngày hôm nay.”
BJT 1225“Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín ông hãy đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, ông hãy thọ trì năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.
BJT 1226Ông hãy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hãy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hãy vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 1227“Thưa vị Dạ-xoa, ngài là người mong mỏi sự tốt đẹp cho tôi. Thưa vị Thiên nhân, ngài là người mong mỏi sự lợi ích cho tôi. Tôi thực hành lời nói của ngài; ngài là thầy dạy học của tôi.
BJT 1228Tôi đi đến nương nhờ đức Phật, luôn cả Giáo Pháp vô thượng, và tôi đi đến nương nhờ Hội Chúng thuộc về vị Trời của nhân loại.
BJT 1229Tôi lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và tôi không nói lời dối trá, và tôi vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
Thiên Cung của Maṭṭakuṇḍalī.
“Alaṅkato maṭṭhakuṇḍalī,
Māladhārī haricandanussado;
Bāhā paggayha kandasi,
Vanamajjhe kiṁ dukkhito tuvan”ti.
“Sovaṇṇamayo pabhassaro,
Uppanno rathapañjaro mama;
Tassa cakkayugaṁ na vindāmi,
Tena dukkhena jahāmi jīvitan”ti.
“Sovaṇṇamayaṁ maṇimayaṁ,
Lohitakamayaṁ atha rūpiyamayaṁ;
Ācikkha me bhaddamāṇava,
Cakkayugaṁ paṭipādayāmi te”ti.
So māṇavo tassa pāvadi,
“Candasūriyā ubhayettha dissare;
Sovaṇṇamayo ratho mama,
Tena cakkayugena sobhatī”ti.
“Bālo kho tvaṁ asi māṇava,
Yo tvaṁ patthayase apatthiyaṁ;
Maññāmi tuvaṁ marissasi,
Na hi tvaṁ lacchasi candasūriye”ti.
“Gamanāgamanampi dissati,
Vaṇṇadhātu ubhayattha vīthiyā;
Peto kālakato na dissati,
Ko nidha kandataṁ bālyataro”ti.
“Saccaṁ kho vadesi māṇava,
Ahameva kandataṁ bālyataro;
Candaṁ viya dārako rudaṁ,
Petaṁ kālakatābhipatthayinti.
Ādittaṁ vata maṁ santaṁ,
ghatasittaṁva pāvakaṁ;
Vārinā viya osiñcaṁ,
sabbaṁ nibbāpaye daraṁ.
Abbahī vata me sallaṁ,
sokaṁ hadayanissitaṁ;
Yo me sokaparetassa,
puttasokaṁ apānudi.
Svāhaṁ abbūḷhasallosmi,
sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi,
tava sutvāna māṇavā”ti.
“Devatā nusi gandhabbo,
adu sakko purindado;
Ko vā tvaṁ kassa vā putto,
kathaṁ jānemu taṁ mayan”ti.
“Yañca kandasi yañca rodasi,
Puttaṁ āḷāhane sayaṁ dahitvā;
Svāhaṁ kusalaṁ karitvā kammaṁ,
Tidasānaṁ sahabyataṁ gato”ti.
“Appaṁ vā bahuṁ vā nāddasāma,
Dānaṁ dadantassa sake agāre;
Uposathakammaṁ vā tādisaṁ,
Kena kammena gatosi devalokan”ti.
“Ābādhikohaṁ dukkhito gilāno,
Āturarūpomhi sake nivesane;
Buddhaṁ vigatarajaṁ vitiṇṇakaṅkhaṁ,
Addakkhiṁ sugataṁ anomapaññaṁ.
Svāhaṁ muditamano pasannacitto,
Añjaliṁ akariṁ tathāgatassa;
Tāhaṁ kusalaṁ karitvāna kammaṁ,
Tidasānaṁ sahabyataṁ gato”ti.
“Acchariyaṁ vata abbhutaṁ vata,
Añjalikammassa ayamīdiso vipāko;
Ahampi muditamano pasannacitto,
Ajjeva buddhaṁ saraṇaṁ vajāmī”ti.
“Ajjeva buddhaṁ saraṇaṁ vajāhi,
Dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāya padāni pañca,
Akhaṇḍaphullāni samādiyassu.
Pāṇātipātā viramassu khippaṁ,
Loke adinnaṁ parivajjayassu;
Amajjapo mā ca musā bhaṇāhi,
Sakena dārena ca hohi tuṭṭho”ti.
“Atthakāmosi me yakkha,
hitakāmosi devate;
Karomi tuyhaṁ vacanaṁ,
tvaṁsi ācariyo mamāti.
Upemi saraṇaṁ buddhaṁ,
dhammañcāpi anuttaraṁ;
Saṅghañca naradevassa,
gacchāmi saraṇaṁ ahaṁ.
Pāṇātipātā viramāmi khippaṁ,
Loke adinnaṁ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi,
Sakena dārena ca homi tuṭṭho”ti.
Maṭṭhakuṇḍalīvimānaṁ navamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 1209“Ngươi đã được trang điểm, có bông tai đã được đánh bóng, có mang tràng hoa, có bôi xức trầm hương màu vàng, sau khi giơ hai cánh tay lên rồi than khóc ở giữa khu rừng, ngươi bị khổ đau điều gì?”
BJT 1210“Khung xe làm bằng vàng, rực rỡ, được phát sanh lên cho tôi. Tôi không tìm ra cặp bánh xe cho nó. Vì nỗi khổ đau ấy, tôi sẽ từ bỏ mạng sống.”
BJT 1211“Nó làm bằng vàng, làm bằng ngọc ma-ni, làm bằng hồng ngọc, hay làm bằng bạc? Này người thanh niên hiền thiện, ngươi hãy nói với ta. Ta sẽ giúp cho ngươi đạt được cặp bánh xe.”
BJT 1212Người thanh niên ấy đã nói với ông ấy rằng: “Ở đây, mặt trăng và mặt trời được nhìn thấy; cỗ xe của tôi, làm bằng vàng, được chói sáng với cặp bánh xe ấy.”
BJT 1213“Này người thanh niên, ngươi quả thật cũng khờ dại, ngươi mong mỏi vật không thể mong mỏi. Ta nghĩ rằng ngươi sẽ chết bởi vì ngươi sẽ không đạt được mặt trăng và mặt trời.”
BJT 1214“Việc đi và đến (của mặt trăng và mặt trời) còn được nhìn thấy. Ở đây, màu sắc và bản chất của cả hai là theo trình tự. Trái lại, người chết, đã qua đời, không được nhìn thấy. Vậy ở đây, trong hai người đang khóc lóc, người nào khờ dại hơn?”
BJT 1215“Này người thanh niên, quả nhiên ngươi nói đúng sự thật. Trong hai người đang khóc lóc, chính ta là khờ dại hơn. Ta đang mong mỏi người chết, đã qua đời, ví như đứa bé trai đang khóc đòi mặt trăng.
BJT 1216Quả thật, trong khi tôi đang bị thiêu đốt tựa như ngọn lửa được rưới bơ lỏng, người ấy có thể dập tắt tất cả nỗi buồn bực như là đang rưới nước xuống.
BJT 1217Khi tôi bị sầu muộn chế ngự, người nào đã xua đi nỗi sầu muộn về người con trai của tôi, người ấy quả thật đã rút ra mũi tên sầu muộn đã cắm vào trái tim của tôi.
BJT 1218Chính tôi đây, có mũi tên đã được rút ra, có trạng thái mát lạnh, đã được an tịnh. Này người thanh niên, sau khi lắng nghe ngươi tôi không sầu muộn, không khóc lóc.
BJT 1219Phải chăng ngươi là Thiên nhân, là nhạc sĩ Thiên đình, hay là (Chúa Trời) Sakka, người đã bố thí trước đây? Ngươi là ai, hay là con trai của ai, làm thế nào chúng tôi có thể nhận biết ngươi?”
BJT 1220“Đứa con trai nào mà ông đã tự mình thiêu đốt ở nơi hỏa táng, rồi than vãn và khóc lóc, người ấy chính là tôi; sau khi làm việc thiện, tôi đã đạt đến sự cộng trú ở cõi Ba Mươi (Ba).”
BJT 1221“Chúng tôi đã không nhìn thấy vật thí ít hay nhiều của ngươi trong khi ngươi bố thí ở nhà mình, hay việc làm vào ngày trai giới tương tự như thế ấy; do nghiệp nào mà ngươi đã đi đến thế giới của chư Thiên?”
BJT 1222“Tôi là người có bệnh, bị khổ sở, là người bệnh, có dáng vóc bệnh hoạn ở trong căn nhà của mình. Tôi đã nhìn thấy đức Phật, bậc đã xa lìa ô nhiễm, vị đã vượt qua hoài nghi, đấng Thiện Thệ, có trí tuệ tuyệt vời.
BJT 1223Chính tôi đây, với ý vui mừng, với tâm tịnh tín, đã thực hiện việc chắp tay đến đức Như Lai. Sau khi làm việc thiện ấy, tôi đã đạt đến sự cộng trú ở cõi Ba Mươi (Ba).”
BJT 1224“Thật là kỳ diệu, phi thường! Quả thành tựu này của việc chắp tay là như thế. Tôi cũng vậy, với ý vui mừng, với tâm tịnh tín, tôi đi đến nương nhờ đức Phật ngay ngày hôm nay.”
BJT 1225“Ngay ngày hôm nay, với tâm tịnh tín ông hãy đi đến nương nhờ đức Phật, Giáo Pháp, và Hội Chúng. Tương tự y như thế, ông hãy thọ trì năm điều học không bị bể vỡ hay sứt mẻ.
BJT 1226Ông hãy lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, hãy xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, chớ có việc uống chất say và nói lời dối trá, và hãy vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
BJT 1227“Thưa vị Dạ-xoa, ngài là người mong mỏi sự tốt đẹp cho tôi. Thưa vị Thiên nhân, ngài là người mong mỏi sự lợi ích cho tôi. Tôi thực hành lời nói của ngài; ngài là thầy dạy học của tôi.
BJT 1228Tôi đi đến nương nhờ đức Phật, luôn cả Giáo Pháp vô thượng, và tôi đi đến nương nhờ Hội Chúng thuộc về vị Trời của nhân loại.
BJT 1229Tôi lập tức kiêng chừa việc giết hại mạng sống, tôi xa lánh vật chưa được cho (việc trộm cắp) ở trên đời, không có việc uống chất say, và tôi không nói lời dối trá, và tôi vui thích (chỉ) với người vợ của mình.”
Thiên Cung của Maṭṭakuṇḍalī.
“Alaṅkato maṭṭhakuṇḍalī,
Māladhārī haricandanussado;
Bāhā paggayha kandasi,
Vanamajjhe kiṁ dukkhito tuvan”ti.
“Sovaṇṇamayo pabhassaro,
Uppanno rathapañjaro mama;
Tassa cakkayugaṁ na vindāmi,
Tena dukkhena jahāmi jīvitan”ti.
“Sovaṇṇamayaṁ maṇimayaṁ,
Lohitakamayaṁ atha rūpiyamayaṁ;
Ācikkha me bhaddamāṇava,
Cakkayugaṁ paṭipādayāmi te”ti.
So māṇavo tassa pāvadi,
“Candasūriyā ubhayettha dissare;
Sovaṇṇamayo ratho mama,
Tena cakkayugena sobhatī”ti.
“Bālo kho tvaṁ asi māṇava,
Yo tvaṁ patthayase apatthiyaṁ;
Maññāmi tuvaṁ marissasi,
Na hi tvaṁ lacchasi candasūriye”ti.
“Gamanāgamanampi dissati,
Vaṇṇadhātu ubhayattha vīthiyā;
Peto kālakato na dissati,
Ko nidha kandataṁ bālyataro”ti.
“Saccaṁ kho vadesi māṇava,
Ahameva kandataṁ bālyataro;
Candaṁ viya dārako rudaṁ,
Petaṁ kālakatābhipatthayinti.
Ādittaṁ vata maṁ santaṁ,
ghatasittaṁva pāvakaṁ;
Vārinā viya osiñcaṁ,
sabbaṁ nibbāpaye daraṁ.
Abbahī vata me sallaṁ,
sokaṁ hadayanissitaṁ;
Yo me sokaparetassa,
puttasokaṁ apānudi.
Svāhaṁ abbūḷhasallosmi,
sītibhūtosmi nibbuto;
Na socāmi na rodāmi,
tava sutvāna māṇavā”ti.
“Devatā nusi gandhabbo,
adu sakko purindado;
Ko vā tvaṁ kassa vā putto,
kathaṁ jānemu taṁ mayan”ti.
“Yañca kandasi yañca rodasi,
Puttaṁ āḷāhane sayaṁ dahitvā;
Svāhaṁ kusalaṁ karitvā kammaṁ,
Tidasānaṁ sahabyataṁ gato”ti.
“Appaṁ vā bahuṁ vā nāddasāma,
Dānaṁ dadantassa sake agāre;
Uposathakammaṁ vā tādisaṁ,
Kena kammena gatosi devalokan”ti.
“Ābādhikohaṁ dukkhito gilāno,
Āturarūpomhi sake nivesane;
Buddhaṁ vigatarajaṁ vitiṇṇakaṅkhaṁ,
Addakkhiṁ sugataṁ anomapaññaṁ.
Svāhaṁ muditamano pasannacitto,
Añjaliṁ akariṁ tathāgatassa;
Tāhaṁ kusalaṁ karitvāna kammaṁ,
Tidasānaṁ sahabyataṁ gato”ti.
“Acchariyaṁ vata abbhutaṁ vata,
Añjalikammassa ayamīdiso vipāko;
Ahampi muditamano pasannacitto,
Ajjeva buddhaṁ saraṇaṁ vajāmī”ti.
“Ajjeva buddhaṁ saraṇaṁ vajāhi,
Dhammañca saṅghañca pasannacitto;
Tatheva sikkhāya padāni pañca,
Akhaṇḍaphullāni samādiyassu.
Pāṇātipātā viramassu khippaṁ,
Loke adinnaṁ parivajjayassu;
Amajjapo mā ca musā bhaṇāhi,
Sakena dārena ca hohi tuṭṭho”ti.
“Atthakāmosi me yakkha,
hitakāmosi devate;
Karomi tuyhaṁ vacanaṁ,
tvaṁsi ācariyo mamāti.
Upemi saraṇaṁ buddhaṁ,
dhammañcāpi anuttaraṁ;
Saṅghañca naradevassa,
gacchāmi saraṇaṁ ahaṁ.
Pāṇātipātā viramāmi khippaṁ,
Loke adinnaṁ parivajjayāmi;
Amajjapo no ca musā bhaṇāmi,
Sakena dārena ca homi tuṭṭho”ti.
Maṭṭhakuṇḍalīvimānaṁ navamaṁ.