BJT 1160Sau khi nhìn thấy vị Thiên nhân có đồ trang sức ở bàn tay đã được trau chuốt, có danh tiếng, ở tòa lâu đài cao ráo, có sự tồn tại lâu dài, cũng giống như mặt trăng ở Thiên cung thuộc cõi Trời, vị tỳ khưu đã hỏi rằng:
BJT 1161“Ngươi đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, có bông tai khéo, có tóc râu đã được sửa soạn, có đồ trang sức ở bàn tay đã được trau chuốt, có danh tiếng, giống như mặt trăng ở Thiên cung thuộc cõi Trời.
BJT 1162Còn có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào. Có tám nhóm, mỗi nhóm tám cô tiên nữ, sống ở cõi Ba Mươi (Ba), cao sang, đã được học tập, có dáng vóc nghiêm trang, nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển.
BJT 1163Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1164Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1165“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã gom lại các con bò cái của những người khác rồi canh giữ. Và sau đó, có vị Sa-môn đã đi đến gần tôi. Và các con bò đã đi đến để ăn những cây đậu.
BJT 1166‘Hôm nay, có hai phận sự, và cả hai đều cần phải làm.’ Thưa ngài, khi ấy tôi đã suy nghĩ y như thế. Kế đó, sau khi đã đạt được ý nghĩ đúng đắn, tôi đã đặt mảnh giẻ (gói miếng bánh, nói rằng): ‘Thưa ngài, tôi xin dâng.’
BJT 1167Tôi đây đã vội vã đi xuống ruộng đậu trước khi con bò này làm hư hại tài sản này của ai đó. Và kế đó, có con rắn màu đen có nọc độc dữ tợn đã cắn ở bàn chân của tôi trong khi tôi đang vội vã.
BJT 1168Tôi đây bị đau đớn, bị hành hạ bởi khổ đau. Và vị tỳ khưu sau khi tự thân mở ra mảnh giẻ (gói miếng bánh) ấy, đã nuốt vào miếng bánh kem, vì lòng thương tưởng đối với tôi. Từ nơi ấy, tôi đã chết, đã từ trần, và trở thành Thiên nhân.
BJT 1169Chính hành động thiện ấy đã được tôi tạo ra, và tôi thọ hưởng nghiệp an lạc tự chính mình. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.
BJT 1170Ở thế gian luôn cả chư Thiên và luôn cả Ma Vương, không có vị hiền trí nào khác là người có lòng thương tưởng hơn ngài. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.
BJT 1171Ở thế gian này hay là ở đời kế tiếp đi nữa, không có vị hiền trí nào khác là người có lòng thương tưởng hơn ngài. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.”
Thiên Cung của Người Chăn Bò.
“Disvāna devaṁ paṭipucchi bhikkhu,
Ucce vimānamhi ciraṭṭhitike;
Āmuttahatthābharaṇaṁ yasassiṁ,
Dibbe vimānamhi yathāpi candimā.
Alaṅkato malyadharo suvattho,
Sukuṇḍalī kappitakesamassu;
Āmuttahatthābharaṇo yasassī,
Dibbe vimānamhi yathāpi candimā.
Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṁ,
Aṭṭhaṭṭhakā sikkhitā sādhurūpā;
Dibbā ca kaññā tidasacarā uḷārā,
Naccanti gāyanti pamodayanti.
Deviddhipattosi mahānubhāvo,
Manussabhūto kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūto,
Saṅgamma rakkhissaṁ paresaṁ dhenuyo;
Tato ca āgā samaṇo mamantike,
Gāvo ca māse agamaṁsu khādituṁ.
Dvayajja kiccaṁ ubhayañca kāriyaṁ,
Iccevahaṁ bhante tadā vicintayiṁ;
Tato ca saññaṁ paṭiladdha yoniso,
Dadāmi bhanteti khipiṁ anantakaṁ.
So māsakhettaṁ turito avāsariṁ,
Purā ayaṁ bhañjati yassidaṁ dhanaṁ;
Tato ca kaṇho urago mahāviso,
Aḍaṁsi pāde turitassa me sato.
Svāhaṁ aṭṭomhi dukkhena pīḷito,
Bhikkhu ca taṁ sāmaṁ muñcitvānantakaṁ;
Ahāsi kummāsaṁ mamānukampayā,
Tato cuto kālakatomhi devatā.
Tadeva kammaṁ kusalaṁ kataṁ mayā,
Sukhañca kammaṁ anubhomi attanā;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṁ,
Kataññutāya abhivādayāmi taṁ.
Sadevake loke samārake ca,
Añño muni natthi tayānukampako;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṁ,
Kataññutāya abhivādayāmi taṁ.
Imasmiṁ loke parasmiṁ vā pana,
Añño munī natthi tayānukampako;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṁ,
Kataññutāya abhivādayāmi tan”ti.
Gopālavimānaṁ chaṭṭhaṁ.
Narrator:
Moggallana Bhante upon seeing a deva, asked him a question.
Moggallana Bhante:
Dear Deva, you are living in a long-lasting mansion and your hands are decorated with various ornaments. You are mighty and shine like the moon in your mansion.
You are extremely beautiful. You are dressed beautifully in divine clothes. You are wearing divine flower-garlands and your hands are decorated with divine ornaments. Most importantly, beautiful ornaments decorate your hair and beard. You are famous and shine like the moon in your mansion.
The sweet music of divine guitars plays throughout the complex. Well-trained devatas delight in dancing and singing.
Powerful Deva, you have become a leader among devas. The pure radiance of your body and limbs is stainless and shines in all directions.
Tell me Deva, what kind of meritorious action did you do when you were in the human world to have gained this beauty that shines in all directions, and to have earned all these wonderful things?
Narrator:
That deva, delighted at being questioned by Arahant Moggallana, gladly explained what he had done that resulted in such great happiness.
Deva:
In my previous life, I lived in the human world. My job was to gather other people’s cows into one place and guard them. One day, a monk approached me on his almsround. At the same time, the cows ran towards a field of beans.
Bhante, suddenly I had to do two things and both had to be done at once. I was wise and realized what I had to do. I dropped my wrapped parcel of rice cake on the ground saying, “Bhante, I offer this to you.”
Then I chased after the cows before they damaged the bean field. While I was running, a deadly poisonous snake bit my foot. I was in great pain as I lay there on the ground.
Out of compassion for me, that monk unwrapped the parcel of rice cake and ate it. I died of the snake bite at that moment and was reborn as a deva.
That was the only meritorious action I did. Bhante, it was you who was very compassionate to me. That is why today I experience the happy results of my action. I know the importance of gratitude, and so, I worship you.
There is no other sage more compassionate than you in this world with its gods and Mara. You are extremely compassionate. I know the importance of gratitude, and so, I worship you.
There is no other sage more compassionate than you in this world or any other worlds. You are extremely compassionate. I know the importance of gratitude, and so, I worship you.
BJT 1160Sau khi nhìn thấy vị Thiên nhân có đồ trang sức ở bàn tay đã được trau chuốt, có danh tiếng, ở tòa lâu đài cao ráo, có sự tồn tại lâu dài, cũng giống như mặt trăng ở Thiên cung thuộc cõi Trời, vị tỳ khưu đã hỏi rằng:
BJT 1161“Ngươi đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, có bông tai khéo, có tóc râu đã được sửa soạn, có đồ trang sức ở bàn tay đã được trau chuốt, có danh tiếng, giống như mặt trăng ở Thiên cung thuộc cõi Trời.
BJT 1162Còn có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào. Có tám nhóm, mỗi nhóm tám cô tiên nữ, sống ở cõi Ba Mươi (Ba), cao sang, đã được học tập, có dáng vóc nghiêm trang, nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển.
BJT 1163Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1164Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1165“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, đã gom lại các con bò cái của những người khác rồi canh giữ. Và sau đó, có vị Sa-môn đã đi đến gần tôi. Và các con bò đã đi đến để ăn những cây đậu.
BJT 1166‘Hôm nay, có hai phận sự, và cả hai đều cần phải làm.’ Thưa ngài, khi ấy tôi đã suy nghĩ y như thế. Kế đó, sau khi đã đạt được ý nghĩ đúng đắn, tôi đã đặt mảnh giẻ (gói miếng bánh, nói rằng): ‘Thưa ngài, tôi xin dâng.’
BJT 1167Tôi đây đã vội vã đi xuống ruộng đậu trước khi con bò này làm hư hại tài sản này của ai đó. Và kế đó, có con rắn màu đen có nọc độc dữ tợn đã cắn ở bàn chân của tôi trong khi tôi đang vội vã.
BJT 1168Tôi đây bị đau đớn, bị hành hạ bởi khổ đau. Và vị tỳ khưu sau khi tự thân mở ra mảnh giẻ (gói miếng bánh) ấy, đã nuốt vào miếng bánh kem, vì lòng thương tưởng đối với tôi. Từ nơi ấy, tôi đã chết, đã từ trần, và trở thành Thiên nhân.
BJT 1169Chính hành động thiện ấy đã được tôi tạo ra, và tôi thọ hưởng nghiệp an lạc tự chính mình. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.
BJT 1170Ở thế gian luôn cả chư Thiên và luôn cả Ma Vương, không có vị hiền trí nào khác là người có lòng thương tưởng hơn ngài. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.
BJT 1171Ở thế gian này hay là ở đời kế tiếp đi nữa, không có vị hiền trí nào khác là người có lòng thương tưởng hơn ngài. Thưa ngài, bởi vì tôi đã được ngài thương tưởng thật nhiều, tôi xin đảnh lễ (ngài) với lòng tri ân.”
Thiên Cung của Người Chăn Bò.
“Disvāna devaṁ paṭipucchi bhikkhu,
Ucce vimānamhi ciraṭṭhitike;
Āmuttahatthābharaṇaṁ yasassiṁ,
Dibbe vimānamhi yathāpi candimā.
Alaṅkato malyadharo suvattho,
Sukuṇḍalī kappitakesamassu;
Āmuttahatthābharaṇo yasassī,
Dibbe vimānamhi yathāpi candimā.
Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṁ,
Aṭṭhaṭṭhakā sikkhitā sādhurūpā;
Dibbā ca kaññā tidasacarā uḷārā,
Naccanti gāyanti pamodayanti.
Deviddhipattosi mahānubhāvo,
Manussabhūto kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūto,
Saṅgamma rakkhissaṁ paresaṁ dhenuyo;
Tato ca āgā samaṇo mamantike,
Gāvo ca māse agamaṁsu khādituṁ.
Dvayajja kiccaṁ ubhayañca kāriyaṁ,
Iccevahaṁ bhante tadā vicintayiṁ;
Tato ca saññaṁ paṭiladdha yoniso,
Dadāmi bhanteti khipiṁ anantakaṁ.
So māsakhettaṁ turito avāsariṁ,
Purā ayaṁ bhañjati yassidaṁ dhanaṁ;
Tato ca kaṇho urago mahāviso,
Aḍaṁsi pāde turitassa me sato.
Svāhaṁ aṭṭomhi dukkhena pīḷito,
Bhikkhu ca taṁ sāmaṁ muñcitvānantakaṁ;
Ahāsi kummāsaṁ mamānukampayā,
Tato cuto kālakatomhi devatā.
Tadeva kammaṁ kusalaṁ kataṁ mayā,
Sukhañca kammaṁ anubhomi attanā;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṁ,
Kataññutāya abhivādayāmi taṁ.
Sadevake loke samārake ca,
Añño muni natthi tayānukampako;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṁ,
Kataññutāya abhivādayāmi taṁ.
Imasmiṁ loke parasmiṁ vā pana,
Añño munī natthi tayānukampako;
Tayā hi bhante anukampito bhusaṁ,
Kataññutāya abhivādayāmi tan”ti.
Gopālavimānaṁ chaṭṭhaṁ.