BJT 784“Khu vườn xoài thuộc cõi Trời của nàng là đáng yêu; nơi đây có tòa lâu đài rộng lớn, được vang vang nhiều loại nhạc cụ khác nhau, được vang động bởi đoàn tiên nữ.
BJT 785Và nơi đây, có ngọn đèn vĩ đại bằng vàng cháy sáng thường xuyên, được bao bọc xung quanh bởi những loại cây cối có sự kết trái là các tấm vải.
BJT 786Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 787Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 788Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 789“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, trong kiếp sống trước đây ở thế giới loài người, đã cho xây dựng ngôi trú xá, dành cho Hội Chúng, được bao quanh bởi những cây xoài.
BJT 790Khi ngôi trú xá đã được hoàn thành, đã được chấm dứt, trong khi cho thực hiện ở lễ hội, tôi đã tạo ra các trái cây được làm bằng các tấm vải rồi đã phủ kín các cây xoài (với các trái cây giả tạo ấy).
BJT 791Tại nơi ấy, tôi đã cho thắp sáng cây đèn và đã dâng thức ăn đến tập thể tối thượng. Được tịnh tín, tôi đã tự tay chuyển giao ngôi trú xá ấy đến Hội Chúng.
BJT 792Do việc ấy, tôi có được khu vườn xoài đáng yêu; nơi đây có tòa lâu đài rộng lớn, được vang vang nhiều loại nhạc cụ khác nhau, được vang động bởi đoàn tiên nữ.
BJT 793Và nơi đây, có ngọn đèn vĩ đại bằng vàng cháy sáng thường xuyên, được bao bọc xung quanh bởi những cây cối có những trái cây là các tấm vải.
BJT 794Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 795Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Vườn Xoài.
“Dibbaṁ te ambavanaṁ rammaṁ,
Pāsādettha mahallako;
Nānātūriyasaṅghuṭṭho,
Accharāgaṇaghosito.
Padīpo cettha jalati,
niccaṁ sovaṇṇayo mahā;
Dussaphalehi rukkhehi,
samantā parivārito.
Kena tetādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Purimāya jātiyā manussaloke;
Vihāraṁ saṅghassa kāresiṁ,
Ambehi parivāritaṁ.
Pariyosite vihāre,
kārente niṭṭhite mahe;
Ambehi chādayitvāna,
katvā dussamaye phale.
Padīpaṁ tattha jāletvā,
bhojayitvā gaṇuttamaṁ;
Niyyādesiṁ taṁ saṅghassa,
pasannā sehi pāṇibhi.
Tena me ambavanaṁ rammaṁ,
pāsādettha mahallako;
Nānātūriyasaṅghuṭṭho,
accharāgaṇaghosito.
Padīpo cettha jalati,
niccaṁ sovaṇṇayo mahā;
Dussaphalehi rukkhehi,
samantā parivārito.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Ambavimānaṁ aṭṭhamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 784“Khu vườn xoài thuộc cõi Trời của nàng là đáng yêu; nơi đây có tòa lâu đài rộng lớn, được vang vang nhiều loại nhạc cụ khác nhau, được vang động bởi đoàn tiên nữ.
BJT 785Và nơi đây, có ngọn đèn vĩ đại bằng vàng cháy sáng thường xuyên, được bao bọc xung quanh bởi những loại cây cối có sự kết trái là các tấm vải.
BJT 786Do điều gì nàng có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho nàng ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho nàng?
BJT 787Hỡi nàng tiên có đại oai lực, ta hỏi nàng: ‘Khi là con người, nàng đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà nàng có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của nàng chiếu sáng khắp các phương?’”
BJT 788Nàng tiên ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, nàng đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 789“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, trong kiếp sống trước đây ở thế giới loài người, đã cho xây dựng ngôi trú xá, dành cho Hội Chúng, được bao quanh bởi những cây xoài.
BJT 790Khi ngôi trú xá đã được hoàn thành, đã được chấm dứt, trong khi cho thực hiện ở lễ hội, tôi đã tạo ra các trái cây được làm bằng các tấm vải rồi đã phủ kín các cây xoài (với các trái cây giả tạo ấy).
BJT 791Tại nơi ấy, tôi đã cho thắp sáng cây đèn và đã dâng thức ăn đến tập thể tối thượng. Được tịnh tín, tôi đã tự tay chuyển giao ngôi trú xá ấy đến Hội Chúng.
BJT 792Do việc ấy, tôi có được khu vườn xoài đáng yêu; nơi đây có tòa lâu đài rộng lớn, được vang vang nhiều loại nhạc cụ khác nhau, được vang động bởi đoàn tiên nữ.
BJT 793Và nơi đây, có ngọn đèn vĩ đại bằng vàng cháy sáng thường xuyên, được bao bọc xung quanh bởi những cây cối có những trái cây là các tấm vải.
BJT 794Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 795Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung Vườn Xoài.
“Dibbaṁ te ambavanaṁ rammaṁ,
Pāsādettha mahallako;
Nānātūriyasaṅghuṭṭho,
Accharāgaṇaghosito.
Padīpo cettha jalati,
niccaṁ sovaṇṇayo mahā;
Dussaphalehi rukkhehi,
samantā parivārito.
Kena tetādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
Sā devatā attamanā,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūtā,
Purimāya jātiyā manussaloke;
Vihāraṁ saṅghassa kāresiṁ,
Ambehi parivāritaṁ.
Pariyosite vihāre,
kārente niṭṭhite mahe;
Ambehi chādayitvāna,
katvā dussamaye phale.
Padīpaṁ tattha jāletvā,
bhojayitvā gaṇuttamaṁ;
Niyyādesiṁ taṁ saṅghassa,
pasannā sehi pāṇibhi.
Tena me ambavanaṁ rammaṁ,
pāsādettha mahallako;
Nānātūriyasaṅghuṭṭho,
accharāgaṇaghosito.
Padīpo cettha jalati,
niccaṁ sovaṇṇayo mahā;
Dussaphalehi rukkhehi,
samantā parivārito.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Ambavimānaṁ aṭṭhamaṁ.