BJT 1147“Thiên cung này cao, có cây trụ bằng ngọc ma-ni, ở xung quanh mười hai do-tuần, có bảy trăm ngôi nhà mái nhọn cao sang với các cây cột làm bằng ngọc bích, được trải lót bằng vàng, xinh đẹp.
BJT 1148Ở nơi ấy, ngươi trú ngụ, ngươi uống, và ngươi ăn. Có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào, có các vị nếm thuộc cõi Trời, ở đây có năm loại dục lạc, và có các phụ nữ trang phục bằng vàng nhảy múa.
BJT 1149Do điều gì ngươi có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho ngươi ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho ngươi?
BJT 1150Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1151Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1152“Vào tháng cuối cùng của mùa nóng, khi mặt trời đang đốt nóng, người đàn ông, kẻ làm thuê cho những người khác, đã tưới nước vườn xoài.
BJT 1153Khi ấy, vị tỳ khưu nổi tiếng ‘Sāriputta’ đã đi đến nơi ấy, với dáng vẻ mệt nhọc ở cơ thể nhưng không chút mệt nhọc ở tâm ý.
BJT 1154Và sau khi nhìn thấy vị ấy đang tiến đến, người tưới xoài đã nói rằng: ‘Thưa ngài, tốt lành thay (nếu) tôi có thể tắm cho ngài, việc ấy là sự đem lại hạnh phúc cho tôi.’
BJT 1155Vì lòng thương tưởng đến tôi đây, vị ấy đã đặt y và bình bát xuống, rồi đã ngồi xuống ở gốc cây, nơi bóng râm, (mặc) một y.
BJT 1156Và với tâm tịnh tín, người đàn ông, với nước sạch, đã tắm cho vị ấy, (mặc) một y, ở gốc cây, nơi bóng râm.
BJT 1157‘Cây xoài đã được tưới nước và vị Sa-môn đã được tắm; còn phước báu đã được tôi tạo ra không phải là ít.’ (Suy nghĩ) như thế, người ấy làm lan tỏa toàn bộ cơ thể của bản thân với niềm hỷ lạc.
BJT 1158Trong kiếp sống ấy, tôi đã tạo chính nghiệp ấy chỉ có bấy nhiêu. Sau khi lìa bỏ xác thân nhân loại, tôi được sanh lên (khu vườn) Nandana.
BJT 1159Ở khu vườn Nandana đáng yêu, được những bầy chim khác nhau gắn bó, được tôn vinh bởi các tiên nữ, tôi thích thú với những điệu múa lời ca.”
Thiên Cung Cây Xoài.
“Uccamidaṁ maṇithūṇaṁ vimānaṁ,
Samantato dvādasa yojanāni;
Kūṭāgārā sattasatā uḷārā,
Veḷuriyathambhā rucakatthatā subhā.
Tatthacchasi pivasi khādasi ca,
Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṁ;
Dibbā rasā kāmaguṇettha pañca,
Nāriyo ca naccanti suvaṇṇachannā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Gimhānaṁ pacchime māse,
patapante divaṅkare;
Paresaṁ bhatako poso,
ambārāmamasiñcati.
Atha tenāgamā bhikkhu,
sāriputtoti vissuto;
Kilantarūpo kāyena,
akilantova cetasā.
Tañca disvāna āyantaṁ,
Avocaṁ ambasiñcako;
Sādhu taṁ bhante nhāpeyyaṁ,
Yaṁ mamassa sukhāvahaṁ.
Tassa me anukampāya,
nikkhipi pattacīvaraṁ;
Nisīdi rukkhamūlasmiṁ,
chāyāya ekacīvaro.
Tañca acchena vārinā,
pasannamānaso naro;
Nhāpayī rukkhamūlasmiṁ,
chāyāya ekacīvaraṁ.
Ambo ca sitto samaṇo ca nhāpito,
Mayā ca puññaṁ pasutaṁ anappakaṁ;
Iti so pītiyā kāyaṁ,
Sabbaṁ pharati attano.
Tadeva ettakaṁ kammaṁ,
akāsiṁ tāya jātiyā;
Pahāya mānusaṁ dehaṁ,
upapannomhi nandanaṁ.
Nandane ca vane ramme,
nānādijagaṇāyute;
Ramāmi naccagītehi,
accharāhi purakkhato”ti.
Ambavimānaṁ pañcamaṁ.
Moggallana Bhante:
Dear Deva, your mansion is very high in the sky and spreads over a hundred and twenty kilometers. Pillars of beryl and other gemstones, and seven hundred pinnacled buildings are in your estate. It is extremely beautiful. Inside the mansion, you drink and eat and enjoy the sweetness of heavenly food. The sweet music of guitars plays. You have many sensual pleasures. Devas are dancing and they are wearing golden jewelry.
What are the meritorious deeds that you have done to gain this happiness and your position as a leader?
Tell me Deva, what kind of meritorious action did you do when you were in the human world to have gained this beauty that shines in all directions, and to have earned all these wonderful things?
Narrator:
That deva, delighted at being questioned by Arahant Moggallana, gladly explained what he had done that resulted in such great happiness.
Deva:
When I was in the human world, in the last month of the summer, the sun was very hot. There I was the guard of a mango grove and my duty was to watch over the mangoes and water them. One day, the famous Arahant Sariputta Bhante was passing by the mango grove. He appeared to be very tired, although his mind was never tired.
While I was watering the mango trees, I saw Sariputta Bhante approaching the grove. I said, “If I could bathe Bhante, it would lead to my happiness.”
Out of pity for me, Sariputta Bhante set aside his outer robes and bowl and sat down in the shade at the foot of a tree wearing his lower robe. I was so delighted. I bathed the Bhante with clean water while he sat there wearing his lower robe. I watered the mango tree and bathed the Bhante at the same time. The merit I collected was not small. My whole body was filled with joy.
That is the only meritorious action I did in the human world. When I passed away, I was reborn in this Nandana Park. I enjoy living in this park, surrounded by various birds and singing and dancing goddesses.
BJT 1147“Thiên cung này cao, có cây trụ bằng ngọc ma-ni, ở xung quanh mười hai do-tuần, có bảy trăm ngôi nhà mái nhọn cao sang với các cây cột làm bằng ngọc bích, được trải lót bằng vàng, xinh đẹp.
BJT 1148Ở nơi ấy, ngươi trú ngụ, ngươi uống, và ngươi ăn. Có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào, có các vị nếm thuộc cõi Trời, ở đây có năm loại dục lạc, và có các phụ nữ trang phục bằng vàng nhảy múa.
BJT 1149Do điều gì ngươi có được màu da như thế ấy? Do điều gì mà (sự việc) được thành tựu cho ngươi ở nơi đây? Và (do điều gì mà) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho ngươi?
BJT 1150Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1151Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1152“Vào tháng cuối cùng của mùa nóng, khi mặt trời đang đốt nóng, người đàn ông, kẻ làm thuê cho những người khác, đã tưới nước vườn xoài.
BJT 1153Khi ấy, vị tỳ khưu nổi tiếng ‘Sāriputta’ đã đi đến nơi ấy, với dáng vẻ mệt nhọc ở cơ thể nhưng không chút mệt nhọc ở tâm ý.
BJT 1154Và sau khi nhìn thấy vị ấy đang tiến đến, người tưới xoài đã nói rằng: ‘Thưa ngài, tốt lành thay (nếu) tôi có thể tắm cho ngài, việc ấy là sự đem lại hạnh phúc cho tôi.’
BJT 1155Vì lòng thương tưởng đến tôi đây, vị ấy đã đặt y và bình bát xuống, rồi đã ngồi xuống ở gốc cây, nơi bóng râm, (mặc) một y.
BJT 1156Và với tâm tịnh tín, người đàn ông, với nước sạch, đã tắm cho vị ấy, (mặc) một y, ở gốc cây, nơi bóng râm.
BJT 1157‘Cây xoài đã được tưới nước và vị Sa-môn đã được tắm; còn phước báu đã được tôi tạo ra không phải là ít.’ (Suy nghĩ) như thế, người ấy làm lan tỏa toàn bộ cơ thể của bản thân với niềm hỷ lạc.
BJT 1158Trong kiếp sống ấy, tôi đã tạo chính nghiệp ấy chỉ có bấy nhiêu. Sau khi lìa bỏ xác thân nhân loại, tôi được sanh lên (khu vườn) Nandana.
BJT 1159Ở khu vườn Nandana đáng yêu, được những bầy chim khác nhau gắn bó, được tôn vinh bởi các tiên nữ, tôi thích thú với những điệu múa lời ca.”
Thiên Cung Cây Xoài.
“Uccamidaṁ maṇithūṇaṁ vimānaṁ,
Samantato dvādasa yojanāni;
Kūṭāgārā sattasatā uḷārā,
Veḷuriyathambhā rucakatthatā subhā.
Tatthacchasi pivasi khādasi ca,
Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṁ;
Dibbā rasā kāmaguṇettha pañca,
Nāriyo ca naccanti suvaṇṇachannā.
Kena tetādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Gimhānaṁ pacchime māse,
patapante divaṅkare;
Paresaṁ bhatako poso,
ambārāmamasiñcati.
Atha tenāgamā bhikkhu,
sāriputtoti vissuto;
Kilantarūpo kāyena,
akilantova cetasā.
Tañca disvāna āyantaṁ,
Avocaṁ ambasiñcako;
Sādhu taṁ bhante nhāpeyyaṁ,
Yaṁ mamassa sukhāvahaṁ.
Tassa me anukampāya,
nikkhipi pattacīvaraṁ;
Nisīdi rukkhamūlasmiṁ,
chāyāya ekacīvaro.
Tañca acchena vārinā,
pasannamānaso naro;
Nhāpayī rukkhamūlasmiṁ,
chāyāya ekacīvaraṁ.
Ambo ca sitto samaṇo ca nhāpito,
Mayā ca puññaṁ pasutaṁ anappakaṁ;
Iti so pītiyā kāyaṁ,
Sabbaṁ pharati attano.
Tadeva ettakaṁ kammaṁ,
akāsiṁ tāya jātiyā;
Pahāya mānusaṁ dehaṁ,
upapannomhi nandanaṁ.
Nandane ca vane ramme,
nānādijagaṇāyute;
Ramāmi naccagītehi,
accharāhi purakkhato”ti.
Ambavimānaṁ pañcamaṁ.