BJT 1049“Khu vườn Cittalatā, vườn hoa hạng nhất, tối thượng ở cõi Ba Mươi (Ba) chiếu sáng như thế nào, thì Thiên cung này của ngươi ngự ở không trung, đang chói sáng tương tự như thế ấy.
BJT 1050Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1051Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1052“Ở thế giới loài người, tôi và người vợ đã sống tại gia, là nguồn cung ứng (vật chất). Có tâm tịnh tín, chúng tôi đã trân trọng dâng cúng vật thí cơm ăn và nước uống dồi dào.
BJT 1053Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1054Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Người Tại Gia.
“Yathā vanaṁ cittalataṁ pabhāsati,
Uyyānaseṭṭhaṁ tidasānamuttamaṁ;
Tathūpamaṁ tuyhamidaṁ vimānaṁ,
Obhāsayaṁ tiṭṭhati antalikkhe.
Deviddhipattosi mahānubhāvo,
Manussabhūto kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
moggallānena pucchito;
Pañhaṁ puṭṭho viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahañca bhariyā ca manussaloke,
Opānabhūtā gharamāvasimha;
Annañca pānañca pasannacittā,
Sakkacca dānaṁ vipulaṁ adamha.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Paṭhamaagāriyavimānaṁ paṭhamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 1049“Khu vườn Cittalatā, vườn hoa hạng nhất, tối thượng ở cõi Ba Mươi (Ba) chiếu sáng như thế nào, thì Thiên cung này của ngươi ngự ở không trung, đang chói sáng tương tự như thế ấy.
BJT 1050Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1051Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1052“Ở thế giới loài người, tôi và người vợ đã sống tại gia, là nguồn cung ứng (vật chất). Có tâm tịnh tín, chúng tôi đã trân trọng dâng cúng vật thí cơm ăn và nước uống dồi dào.
BJT 1053Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1054Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Người Tại Gia.
“Yathā vanaṁ cittalataṁ pabhāsati,
Uyyānaseṭṭhaṁ tidasānamuttamaṁ;
Tathūpamaṁ tuyhamidaṁ vimānaṁ,
Obhāsayaṁ tiṭṭhati antalikkhe.
Deviddhipattosi mahānubhāvo,
Manussabhūto kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
moggallānena pucchito;
Pañhaṁ puṭṭho viyākāsi,
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahañca bhariyā ca manussaloke,
Opānabhūtā gharamāvasimha;
Annañca pānañca pasannacittā,
Sakkacca dānaṁ vipulaṁ adamha.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Paṭhamaagāriyavimānaṁ paṭhamaṁ.