BJT 1102“Ngươi đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, có bông tai khéo, có tóc râu đã được sửa soạn, có đồ trang sức ở bàn tay đã được trau chuốt, có danh tiếng, giống như mặt trăng ở Thiên cung thuộc cõi Trời.
BJT 1103Còn có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào. Có tám nhóm, mỗi nhóm tám cô tiên nữ, sống ở cõi Ba Mươi (Ba), cao sang, đã được học tập, có dáng vóc nghiêm trang, nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển.
BJT 1104Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1105Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1106“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, sau khi nhìn thấy các vị Sa-môn có dáng vóc nghiêm trang, có kiến thức và hạnh kiểm đã được thành tựu, có danh tiếng, nghe nhiều, đã đạt đến việc có giới hạnh, có tâm tịnh tín, tôi đã trân trọng dâng cúng vật thí dồi dào về cơm ăn và nước uống.
BJT 1107Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1108Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Người Có Bông Tai thứ nhì.
“Alaṅkato malyadharo suvattho,
Sukuṇḍalī kappitakesamassu;
Āmuttahatthābharaṇo yasassī,
Dibbe vimānamhi yathāpi candimā.
Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṁ,
Aṭṭhaṭṭhakā sikkhitā sādhurūpā;
Dibbā ca kaññā tidasacarā uḷārā,
Naccanti gāyanti pamodayanti.
Deviddhipattosi mahānubhāvo,
Manussabhūto kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūto,
Disvāna samaṇe sādhurūpe;
Sampannavijjācaraṇe yasassī,
Bahussute sīlavante pasanne;
Annañca pānañca pasannacitto,
Sakkacca dānaṁ vipulaṁ adāsiṁ.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Dutiyakuṇḍalīvimānaṁ navamaṁ.
English translation not yet available.
BJT 1102“Ngươi đã được trang điểm, có mang vòng hoa, có y phục xinh đẹp, có bông tai khéo, có tóc râu đã được sửa soạn, có đồ trang sức ở bàn tay đã được trau chuốt, có danh tiếng, giống như mặt trăng ở Thiên cung thuộc cõi Trời.
BJT 1103Còn có các cây đàn vīṇā thuộc cõi Trời phát ra âm thanh ngọt ngào. Có tám nhóm, mỗi nhóm tám cô tiên nữ, sống ở cõi Ba Mươi (Ba), cao sang, đã được học tập, có dáng vóc nghiêm trang, nhảy múa, ca hát, làm trò tiêu khiển.
BJT 1104Ngươi đã đạt được thần thông của chư Thiên, có đại oai lực. Khi là con người, ngươi đã làm việc phước thiện gì? Do điều gì mà ngươi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của ngươi chiếu sáng khắp các phương?”
BJT 1105Vị Thiên tử ấy hoan hỷ khi được ngài Moggallāna hỏi đến. Ðược hỏi câu hỏi, vị ấy đã giải thích quả báo này là của nghiệp nào:
BJT 1106“Tôi, khi là con người ở cõi nhân loại, sau khi nhìn thấy các vị Sa-môn có dáng vóc nghiêm trang, có kiến thức và hạnh kiểm đã được thành tựu, có danh tiếng, nghe nhiều, đã đạt đến việc có giới hạnh, có tâm tịnh tín, tôi đã trân trọng dâng cúng vật thí dồi dào về cơm ăn và nước uống.
BJT 1107Do điều ấy, tôi có được màu da như thế ấy. Do điều ấy mà (sự việc) được thành tựu cho tôi ở nơi đây. Và (do điều ấy) các sự hưởng thụ thích ý sanh lên cho tôi.
BJT 1108Thưa vị tỳ khưu có đại oai lực, tôi trình bày cho ngài về việc phước thiện tôi đã làm khi là con người. Do điều ấy mà tôi có oai lực được rực sáng như vầy, và màu da của tôi chiếu sáng khắp các phương.”
Thiên Cung của Người Có Bông Tai thứ nhì.
“Alaṅkato malyadharo suvattho,
Sukuṇḍalī kappitakesamassu;
Āmuttahatthābharaṇo yasassī,
Dibbe vimānamhi yathāpi candimā.
Dibbā ca vīṇā pavadanti vagguṁ,
Aṭṭhaṭṭhakā sikkhitā sādhurūpā;
Dibbā ca kaññā tidasacarā uḷārā,
Naccanti gāyanti pamodayanti.
Deviddhipattosi mahānubhāvo,
Manussabhūto kimakāsi puññaṁ;
Kenāsi evaṁ jalitānubhāvo,
Vaṇṇo ca te sabbadisā pabhāsatī”ti.
So devaputto attamano,
…pe…
yassa kammassidaṁ phalaṁ.
“Ahaṁ manussesu manussabhūto,
Disvāna samaṇe sādhurūpe;
Sampannavijjācaraṇe yasassī,
Bahussute sīlavante pasanne;
Annañca pānañca pasannacitto,
Sakkacca dānaṁ vipulaṁ adāsiṁ.
Tena metādiso vaṇṇo,
…pe…
Vaṇṇo ca me sabbadisā pabhāsatī”ti.
Dutiyakuṇḍalīvimānaṁ navamaṁ.