BJT 730“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 731Trong khi nàng đây đang nhảy múa, các âm thanh thuộc cõi Trời, làm êm tai, làm thích ý, phát ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
BJT 732Trong khi nàng đây đang nhảy múa, các hương thơm thuộc cõi Trời, là các hương thơm tinh khiết, làm thích ý, tỏa ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
BJT 733Trong khi nàng đang xoay tròn cơ thể, tiếng ngân vang của các vật trang sức ở các bím tóc được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 734Các vòng hoa đeo tai bị gió thổi, bị lay động bởi làn gió, tiếng ngân vang của chúng được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 735Luôn cả những tràng hoa ở trên đầu của nàng là có hương thơm tinh khiết, làm thích ý; giống như cây mañjūsaka, hương thơm (của tràng hoa) thổi đi khắp các phương.
BJT 736Nàng ngửi hương thơm tinh khiết ấy, nàng nhìn thấy hình ảnh không thuộc nhân gian. Hỡi nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 737“Thưa ngài đại đức, ở thành Sāvatthī người bạn gái của tôi đã cho xây dựng ngôi trú xá lớn dành cho Hội Chúng. Tại nơi ấy, sau khi nhìn thấy tòa nhà, được tịnh tín, tôi đã tùy hỷ, và nó là yêu quý đối với tôi.
BJT 738Bởi chính sự tùy hỷ trong sạch ấy của tôi mà tôi đã đạt được Thiên cung tuyệt vời, duyên dáng. Nó di chuyển ở không trung, xung quanh mười sáu do-tuần, nhờ vào thần lực của tôi.
BJT 739Các chỗ ngụ của tôi là những ngôi nhà mái nhọn, được phân chia thành từng phần cân xứng. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng xung quanh một trăm do-tuần.
BJT 740Và ở nơi đây, tôi có các hồ sen được loài cá puthuloma lai vãng, có nước trong sạch, được yên tĩnh, được trải cát bằng vàng.
BJT 741Được che phủ bởi nhiều loại sen khác nhau, được trải rộng với những cây sen trắng, (các hồ sen) làm hài lòng, được lay động bởi làn gió, tự tỏa ra các hương thơm.
BJT 742Bên trong chỗ trú ngụ đã mọc lên nhiều loại cây khác nhau không được gieo trồng như các cây mận đỏ, các cây mít, các cây lá cọ, và các khu rừng dừa.
BJT 743(Thiên cung) được vang vang nhiều loại nhạc cụ khác nhau, được vang động bởi đoàn tiên nữ. Thậm chí người đàn ông nào nhìn thấy tôi ở trong giấc mơ, người ấy cũng được phấn chấn.
BJT 744Thiên cung như thế ấy, tuyệt vời, duyên dáng, đang tỏa sáng khắp mọi phía, được sanh lên từ các nghiệp của tôi; vậy là đủ để thực hiện các việc phước thiện.”
BJT 745“Bởi chính sự tùy hỷ trong sạch ấy của nàng mà nàng đã đạt được Thiên cung tuyệt vời, duyên dáng. Và chính cô nàng nào là người phụ nữ đã dâng cúng vật thí, xin hãy nói về cảnh giới tái sanh của cô ấy. Cô ấy đã được sanh lên ở đâu?”
BJT 746“Thưa ngài đại đức, cô ấy đã là người bạn gái của tôi, là người đã cho xây dựng trú xá lớn dành cho Hội Chúng. Đã nhận thức được Giáo Pháp, cô ấy đã dâng cúng vật thí, và đã được sanh lên ở giữa chư Thiên của cõi Trời Hóa Lạc.
BJT 747(Cô ấy) là người vợ chánh của (Thiên Vương) Sunimmita ấy; quả thành tựu về nghiệp của cô ấy là không thể nghĩ bàn. Về điều mà ngài đã hỏi: ‘Cô ấy đã được sanh lên ở đâu?’ tôi đã trả lời ngài về điều ấy không có sai khác.
BJT 748Chính vì thế, xin ngài hãy khuyến khích luôn cả những người khác rằng: ‘Được phấn chấn, các người hãy dâng cúng các vật thí đến Hội Chúng. Với tâm ý tịnh tín, các người hãy lắng nghe Giáo Pháp. Sự đạt được (trạng thái) con người, (mà các người) đã đạt được, là sự đạt được vô cùng khó khăn.
BJT 749Đạo lộ nào mà bậc có giọng nói của Phạm Thiên, có làn da tựa như vàng, đã thuyết giảng là đứng đầu các đạo lộ. Được phấn chấn, các người hãy dâng cúng các vật thí đến Hội Chúng, là nơi các sự cúng dường có quả báo lớn lao.
BJT 750Tám hạng người nào được các bậc thiện nhân ca ngợi, các vị này là bốn đôi, các vị ấy là các Thinh Văn của đấng Thiện Thệ, xứng đáng được cúng dường; các vật đã được bố thí đến các vị này là có các quả báo lớn lao.
BJT 751Bốn hạng đang thực hành (bốn Đạo) và bốn hạng đã trụ ở Quả vị (bốn Quả), Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới—Định—Tuệ.
BJT 752Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật đã được dâng cúng (của họ) đến Hội Chúng là có quả báo lớn lao.
BJT 753Bởi vì Hội Chúng ấy là bao la, đã đi đến sự vĩ đại. Hội Chúng ấy không thể đo lường, tựa như biển cả, đại dương. Chính những vị này là hạng nhất, là các đệ tử của bậc Anh Hùng trong số các nam nhân, là những đấng quang đăng tuyên thuyết Giáo Pháp.
BJT 754Những người nào dâng cúng vật thí xác định dành cho Hội Chúng, sự bố thí của những người ấy là đã khéo được dâng cúng, khéo được hiến dâng, khéo được hiến cúng. Sự cúng dường ấy, đã đi đến Hội Chúng, đã được tạo lập, có quả báo lớn lao, đã được các đấng Hiểu Biết Thế Gian khen ngợi.
BJT 755Những người nào đi lang thang ở thế gian với niềm vui đã được sanh khởi trong khi nhớ lại sự hiến cúng như thế ấy, (những người ấy) sau khi loại bỏ bợn nhơ của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị quở trách, và đi đến địa vị cõi Trời.”
Thiên Cung Trú Xá.
TỤNG PHẨM THỨ NHÌ.
“Abhikkantena vaṇṇena,
…pe…
osadhī viya tārakā.
Tassā te naccamānāya,
aṅgamaṅgehi sabbaso;
Dibbā saddā niccharanti,
savanīyā manoramā.
Tassā te naccamānāya,
aṅgamaṅgehi sabbaso;
Dibbā gandhā pavāyanti,
sucigandhā manoramā.
Vivattamānā kāyena,
yā veṇīsu piḷandhanā;
Tesaṁ suyyati nigghoso,
tūriye pañcaṅgike yathā.
Vaṭaṁsakā vātadhutā,
vātena sampakampitā;
Tesaṁ suyyati nigghoso,
tūriye pañcaṅgike yathā.
Yāpi te sirasmiṁ mālā,
sucigandhā manoramā;
Vāti gandho disā sabbā,
rukkho mañjūsako yathā.
Ghāyase taṁ sucigandhaṁ,
rūpaṁ passasi amānusaṁ;
Devate pucchitācikkha,
kissa kammassidaṁ phalan”ti.
“Sāvatthiyaṁ mayhaṁ sakhī bhadante,
Saṅghassa kāresi mahāvihāraṁ;
Tatthappasannā ahamānumodiṁ,
Disvā agārañca piyañca metaṁ.
Tāyeva me suddhanumodanāya,
Laddhaṁ vimānabbhutadassaneyyaṁ;
Samantato soḷasayojanāni,
Vehāyasaṁ gacchati iddhiyā mama.
Kūṭāgārā nivesā me,
vibhattā bhāgaso mitā;
Daddallamānā ābhanti,
samantā satayojanaṁ.
Pokkharañño ca me ettha,
puthulomanisevitā;
Acchodakā vippasannā,
soṇṇavālukasanthatā.
Nānāpadumasañchannā,
puṇḍarīkasamotatā;
Surabhī sampavāyanti,
manuññā māluteritā.
Jambuyo panasā tālā,
nāḷikeravanāni ca;
Antonivesane jātā,
nānārukkhā aropimā.
Nānātūriyasaṅghuṭṭhaṁ,
accharāgaṇaghositaṁ;
Yopi maṁ supine passe,
sopi vitto siyā naro.
Etādisaṁ abbhutadassaneyyaṁ,
Vimānaṁ sabbasopabhaṁ;
Mama kammehi nibbattaṁ,
Alaṁ puññāni kātave”ti.
“Tāyeva te suddhanumodanāya,
Laddhaṁ vimānabbhutadassaneyyaṁ;
Yā ceva sā dānamadāsi nārī,
Tassā gatiṁ brūhi kuhiṁ uppannā sā”ti.
“Yā sā ahu mayhaṁ sakhī bhadante,
Saṅghassa kāresi mahāvihāraṁ;
Viññātadhammā sā adāsi dānaṁ,
Uppannā nimmānaratīsu devesu.
Pajāpatī tassa sunimmitassa,
Acintiyā kammavipākā tassā;
Yametaṁ pucchasi kuhiṁ uppannā sāti,
Taṁ te viyākāsiṁ anaññathā ahaṁ.
Tenahaññepi samādapetha,
Saṅghassa dānāni dadātha vittā;
Dhammañca suṇātha pasannamānasā,
Sudullabho laddho manussalābho.
Yaṁ maggaṁ maggādhipatī adesayi,
Brahmassaro kañcanasannibhattaco;
Saṅghassa dānāni dadātha vittā,
Mahapphalā yattha bhavanti dakkhiṇā.
Ye puggalā aṭṭha sataṁ pasatthā,
Cattāri etāni yugāni honti;
Te dakkhiṇeyyā sugatassa sāvakā,
Etesu dinnāni mahapphalāni.
Cattāro ca paṭipannā,
cattāro ca phale ṭhitā;
Esa saṅgho ujubhūto,
paññāsīlasamāhito.
Yajamānānaṁ manussānaṁ,
puññapekkhāna pāṇinaṁ;
Karotaṁ opadhikaṁ puññaṁ,
saṅghe dinnaṁ mahapphalaṁ.
Eso hi saṅgho vipulo mahaggato,
Esappameyyo udadhīva sāgaro;
Etehi seṭṭhā naravīrasāvakā,
Pabhaṅkarā dhammamudīrayanti.
Tesaṁ sudinnaṁ suhutaṁ suyiṭṭhaṁ,
Ye saṅghamuddissa dadanti dānaṁ;
Sā dakkhiṇā saṅghagatā patiṭṭhitā,
Mahapphalā lokavidūna vaṇṇitā.
Etādisaṁ yaññamanussarantā,
Ye vedajātā vicaranti loke;
Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ,
Aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Vihāravimānaṁ chaṭṭhaṁ.
Bhāṇavāraṁ dutiyaṁ.
Anuruddha Bhante:
Devata, your beauty shines in all directions like the bright star named Osadhi.
When you dance, beautiful divine sounds and fragrance come from your limbs. As you dance and as your hair blows, the bells in your hair play lovely music. Also, as wind blows on the garland-crown on your head it plays sweet music. Your garland-crown looks and smells beautiful like a manjusaka tree full of fragrant flowers.
Do you smell these scents? Have you seen your beauty? We now ask you, what kind of meritorious actions did you do to have gained these results?
Devata:
Bhante, in the human world I had a friend who lived in the city of Savatthi. She built a great monastery for the community of monks. I was extremely happy about that. I sincerely rejoiced in her gift and the merit that she gained. The sight of that monastery was pleasing to my eyes.
As a result of truly rejoicing in my friend’s meritorious deed, this wonderful divine mansion has appeared for me.
Due to the power of my meritorious deed, this divine mansion spreads for sixteen kilometers into the sky and shines brightly in all directions. In my mansion, there are huge rooms divided into sections.
There are lotus ponds filled with heavenly fish. The water in the pond is clear, filled with many kinds of lotuses that give off a sweet smell when the wind blows. The banks of the pond are covered with golden sand.
Inside my mansion grow all sorts of trees: rose-apples, jackfruits, palms and coconuts. I am surrounded by beautiful music and the sound of many goddesses. Even if someone sees me only in a dream they will be happy.
A mansion like mine, excellent, beautiful and gleaming, has been created for me because of my meritorious deeds. This is why we should do good actions.
Anuruddha Bhante:
Since you rejoiced in your friend’s excellent gift, you have received this beautiful mansion. Tell me what happened to your friend. Where was she reborn?
Devata:
That friend of mine offered that large monastery for the Noble Sangha. She understood the Four Noble Truths clearly and made offerings with that understanding. She was reborn in the Nimmanarati Heaven. She is now the chief queen of Sunimmita, king of that heaven. I can’t even imagine the sensual pleasures she is now enjoying because of her gift. You asked me where she was reborn, and I told you as it is.
After hearing about the results of this gift, tell others to happily give gifts to the Noble Sangha and listen to the Dhamma with minds of faith. To be born as a human is very rare, and now you have this chance.
The Supreme Buddha, with golden skin and a sweet voice, taught us this excellent way: happily give gifts to the Noble Sangha, where gifts give the best results.
The Noble Sangha has eight kinds of people grouped in four pairs. These disciples of the Buddha are worthy of gifts. Gifts given to them will be of great fruit: Stream-Enterer, Once-Returner, Non-Returner, Arahant, and the other four who are on the path to these states. The Noble Sangha is true to their purpose with concentration, wisdom, and morality.
Human beings give alms wanting to make merit. The merit they gain when giving to the Noble Sangha will bear fruitful results in their future lives.
The Noble Sangha is full of goodness and has become great. It is impossible to measure its greatness, just as it is impossible to measure the water in the ocean. Followers of the Great Hero, the Supreme Buddha, are the best kind of people, bringing light wherever they preach the Dhamma.
Those who give gifts such as food, shelter, medicine, and clothing to the whole Noble Sangha, have given their gifts correctly, have made their offerings correctly, and have made their sacrifice correctly. Those gifts are very beneficial and are praised by the Supreme Buddha, the Knower of the World.
People should always recollect the gifts they have given to the Noble Sangha. This will bring them happiness. They should completely remove the stain of stinginess. Then they can be born in heaven and be praised by the wise.
BJT 730“Hỡi nàng tiên, nàng đứng, với màu da nổi bật, khiến cho khắp các phương sáng rực lên, ví như ngôi sao osadhī.
BJT 731Trong khi nàng đây đang nhảy múa, các âm thanh thuộc cõi Trời, làm êm tai, làm thích ý, phát ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
BJT 732Trong khi nàng đây đang nhảy múa, các hương thơm thuộc cõi Trời, là các hương thơm tinh khiết, làm thích ý, tỏa ra từ toàn bộ các bộ phận của cơ thể.
BJT 733Trong khi nàng đang xoay tròn cơ thể, tiếng ngân vang của các vật trang sức ở các bím tóc được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 734Các vòng hoa đeo tai bị gió thổi, bị lay động bởi làn gió, tiếng ngân vang của chúng được nghe giống như từ năm loại nhạc cụ.
BJT 735Luôn cả những tràng hoa ở trên đầu của nàng là có hương thơm tinh khiết, làm thích ý; giống như cây mañjūsaka, hương thơm (của tràng hoa) thổi đi khắp các phương.
BJT 736Nàng ngửi hương thơm tinh khiết ấy, nàng nhìn thấy hình ảnh không thuộc nhân gian. Hỡi nàng tiên, đã được hỏi, mong nàng thuật lại quả báo này là của nghiệp nào?”
BJT 737“Thưa ngài đại đức, ở thành Sāvatthī người bạn gái của tôi đã cho xây dựng ngôi trú xá lớn dành cho Hội Chúng. Tại nơi ấy, sau khi nhìn thấy tòa nhà, được tịnh tín, tôi đã tùy hỷ, và nó là yêu quý đối với tôi.
BJT 738Bởi chính sự tùy hỷ trong sạch ấy của tôi mà tôi đã đạt được Thiên cung tuyệt vời, duyên dáng. Nó di chuyển ở không trung, xung quanh mười sáu do-tuần, nhờ vào thần lực của tôi.
BJT 739Các chỗ ngụ của tôi là những ngôi nhà mái nhọn, được phân chia thành từng phần cân xứng. Trong lúc tỏa sáng rực rỡ, chúng chiếu sáng xung quanh một trăm do-tuần.
BJT 740Và ở nơi đây, tôi có các hồ sen được loài cá puthuloma lai vãng, có nước trong sạch, được yên tĩnh, được trải cát bằng vàng.
BJT 741Được che phủ bởi nhiều loại sen khác nhau, được trải rộng với những cây sen trắng, (các hồ sen) làm hài lòng, được lay động bởi làn gió, tự tỏa ra các hương thơm.
BJT 742Bên trong chỗ trú ngụ đã mọc lên nhiều loại cây khác nhau không được gieo trồng như các cây mận đỏ, các cây mít, các cây lá cọ, và các khu rừng dừa.
BJT 743(Thiên cung) được vang vang nhiều loại nhạc cụ khác nhau, được vang động bởi đoàn tiên nữ. Thậm chí người đàn ông nào nhìn thấy tôi ở trong giấc mơ, người ấy cũng được phấn chấn.
BJT 744Thiên cung như thế ấy, tuyệt vời, duyên dáng, đang tỏa sáng khắp mọi phía, được sanh lên từ các nghiệp của tôi; vậy là đủ để thực hiện các việc phước thiện.”
BJT 745“Bởi chính sự tùy hỷ trong sạch ấy của nàng mà nàng đã đạt được Thiên cung tuyệt vời, duyên dáng. Và chính cô nàng nào là người phụ nữ đã dâng cúng vật thí, xin hãy nói về cảnh giới tái sanh của cô ấy. Cô ấy đã được sanh lên ở đâu?”
BJT 746“Thưa ngài đại đức, cô ấy đã là người bạn gái của tôi, là người đã cho xây dựng trú xá lớn dành cho Hội Chúng. Đã nhận thức được Giáo Pháp, cô ấy đã dâng cúng vật thí, và đã được sanh lên ở giữa chư Thiên của cõi Trời Hóa Lạc.
BJT 747(Cô ấy) là người vợ chánh của (Thiên Vương) Sunimmita ấy; quả thành tựu về nghiệp của cô ấy là không thể nghĩ bàn. Về điều mà ngài đã hỏi: ‘Cô ấy đã được sanh lên ở đâu?’ tôi đã trả lời ngài về điều ấy không có sai khác.
BJT 748Chính vì thế, xin ngài hãy khuyến khích luôn cả những người khác rằng: ‘Được phấn chấn, các người hãy dâng cúng các vật thí đến Hội Chúng. Với tâm ý tịnh tín, các người hãy lắng nghe Giáo Pháp. Sự đạt được (trạng thái) con người, (mà các người) đã đạt được, là sự đạt được vô cùng khó khăn.
BJT 749Đạo lộ nào mà bậc có giọng nói của Phạm Thiên, có làn da tựa như vàng, đã thuyết giảng là đứng đầu các đạo lộ. Được phấn chấn, các người hãy dâng cúng các vật thí đến Hội Chúng, là nơi các sự cúng dường có quả báo lớn lao.
BJT 750Tám hạng người nào được các bậc thiện nhân ca ngợi, các vị này là bốn đôi, các vị ấy là các Thinh Văn của đấng Thiện Thệ, xứng đáng được cúng dường; các vật đã được bố thí đến các vị này là có các quả báo lớn lao.
BJT 751Bốn hạng đang thực hành (bốn Đạo) và bốn hạng đã trụ ở Quả vị (bốn Quả), Hội Chúng ấy có bản thể chính trực, có Giới—Định—Tuệ.
BJT 752Đối với những con người đang hiến cúng, đối với các chúng sinh mong mỏi phước báu đang thực hiện phước thiện có liên quan đến việc tái sanh, vật đã được dâng cúng (của họ) đến Hội Chúng là có quả báo lớn lao.
BJT 753Bởi vì Hội Chúng ấy là bao la, đã đi đến sự vĩ đại. Hội Chúng ấy không thể đo lường, tựa như biển cả, đại dương. Chính những vị này là hạng nhất, là các đệ tử của bậc Anh Hùng trong số các nam nhân, là những đấng quang đăng tuyên thuyết Giáo Pháp.
BJT 754Những người nào dâng cúng vật thí xác định dành cho Hội Chúng, sự bố thí của những người ấy là đã khéo được dâng cúng, khéo được hiến dâng, khéo được hiến cúng. Sự cúng dường ấy, đã đi đến Hội Chúng, đã được tạo lập, có quả báo lớn lao, đã được các đấng Hiểu Biết Thế Gian khen ngợi.
BJT 755Những người nào đi lang thang ở thế gian với niềm vui đã được sanh khởi trong khi nhớ lại sự hiến cúng như thế ấy, (những người ấy) sau khi loại bỏ bợn nhơ của sự bỏn xẻn luôn cả gốc rễ, không bị quở trách, và đi đến địa vị cõi Trời.”
Thiên Cung Trú Xá.
TỤNG PHẨM THỨ NHÌ.
“Abhikkantena vaṇṇena,
…pe…
osadhī viya tārakā.
Tassā te naccamānāya,
aṅgamaṅgehi sabbaso;
Dibbā saddā niccharanti,
savanīyā manoramā.
Tassā te naccamānāya,
aṅgamaṅgehi sabbaso;
Dibbā gandhā pavāyanti,
sucigandhā manoramā.
Vivattamānā kāyena,
yā veṇīsu piḷandhanā;
Tesaṁ suyyati nigghoso,
tūriye pañcaṅgike yathā.
Vaṭaṁsakā vātadhutā,
vātena sampakampitā;
Tesaṁ suyyati nigghoso,
tūriye pañcaṅgike yathā.
Yāpi te sirasmiṁ mālā,
sucigandhā manoramā;
Vāti gandho disā sabbā,
rukkho mañjūsako yathā.
Ghāyase taṁ sucigandhaṁ,
rūpaṁ passasi amānusaṁ;
Devate pucchitācikkha,
kissa kammassidaṁ phalan”ti.
“Sāvatthiyaṁ mayhaṁ sakhī bhadante,
Saṅghassa kāresi mahāvihāraṁ;
Tatthappasannā ahamānumodiṁ,
Disvā agārañca piyañca metaṁ.
Tāyeva me suddhanumodanāya,
Laddhaṁ vimānabbhutadassaneyyaṁ;
Samantato soḷasayojanāni,
Vehāyasaṁ gacchati iddhiyā mama.
Kūṭāgārā nivesā me,
vibhattā bhāgaso mitā;
Daddallamānā ābhanti,
samantā satayojanaṁ.
Pokkharañño ca me ettha,
puthulomanisevitā;
Acchodakā vippasannā,
soṇṇavālukasanthatā.
Nānāpadumasañchannā,
puṇḍarīkasamotatā;
Surabhī sampavāyanti,
manuññā māluteritā.
Jambuyo panasā tālā,
nāḷikeravanāni ca;
Antonivesane jātā,
nānārukkhā aropimā.
Nānātūriyasaṅghuṭṭhaṁ,
accharāgaṇaghositaṁ;
Yopi maṁ supine passe,
sopi vitto siyā naro.
Etādisaṁ abbhutadassaneyyaṁ,
Vimānaṁ sabbasopabhaṁ;
Mama kammehi nibbattaṁ,
Alaṁ puññāni kātave”ti.
“Tāyeva te suddhanumodanāya,
Laddhaṁ vimānabbhutadassaneyyaṁ;
Yā ceva sā dānamadāsi nārī,
Tassā gatiṁ brūhi kuhiṁ uppannā sā”ti.
“Yā sā ahu mayhaṁ sakhī bhadante,
Saṅghassa kāresi mahāvihāraṁ;
Viññātadhammā sā adāsi dānaṁ,
Uppannā nimmānaratīsu devesu.
Pajāpatī tassa sunimmitassa,
Acintiyā kammavipākā tassā;
Yametaṁ pucchasi kuhiṁ uppannā sāti,
Taṁ te viyākāsiṁ anaññathā ahaṁ.
Tenahaññepi samādapetha,
Saṅghassa dānāni dadātha vittā;
Dhammañca suṇātha pasannamānasā,
Sudullabho laddho manussalābho.
Yaṁ maggaṁ maggādhipatī adesayi,
Brahmassaro kañcanasannibhattaco;
Saṅghassa dānāni dadātha vittā,
Mahapphalā yattha bhavanti dakkhiṇā.
Ye puggalā aṭṭha sataṁ pasatthā,
Cattāri etāni yugāni honti;
Te dakkhiṇeyyā sugatassa sāvakā,
Etesu dinnāni mahapphalāni.
Cattāro ca paṭipannā,
cattāro ca phale ṭhitā;
Esa saṅgho ujubhūto,
paññāsīlasamāhito.
Yajamānānaṁ manussānaṁ,
puññapekkhāna pāṇinaṁ;
Karotaṁ opadhikaṁ puññaṁ,
saṅghe dinnaṁ mahapphalaṁ.
Eso hi saṅgho vipulo mahaggato,
Esappameyyo udadhīva sāgaro;
Etehi seṭṭhā naravīrasāvakā,
Pabhaṅkarā dhammamudīrayanti.
Tesaṁ sudinnaṁ suhutaṁ suyiṭṭhaṁ,
Ye saṅghamuddissa dadanti dānaṁ;
Sā dakkhiṇā saṅghagatā patiṭṭhitā,
Mahapphalā lokavidūna vaṇṇitā.
Etādisaṁ yaññamanussarantā,
Ye vedajātā vicaranti loke;
Vineyya maccheramalaṁ samūlaṁ,
Aninditā saggamupenti ṭhānan”ti.
Vihāravimānaṁ chaṭṭhaṁ.
Bhāṇavāraṁ dutiyaṁ.