Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Pháp gì nhân của kệ?
Kệ lấy gì trang nghiêm?
Kệ này nương nơi đâu?
Thể của kệ là gì?
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Dục là nhân của kệ,
Văn tự trang nghiêm kệ;
Danh là chỗ kệ nương,
Tạo tác là thể kệ.
Thiên tử này lại nói kệ:
Lâu thấy Bà-la-môn,
Chóng đắc Bát-niết-bàn;
Mọi sợ hãi đều qua,
Thoát hẳn đời ân ái.
Vị Thiên tử ấy nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.
如是我聞:
一時,佛在舍衛國祇樹T 0266b03給孤獨園。
時,有天子容色絕妙,於後夜時T 0266b04來詣佛所,稽首佛足,身諸光明遍照祇樹T 0266b05給孤獨園。
時,彼天子說偈問佛:
T 0266b06
「何法為偈因? 以何莊嚴偈?T 0266b07
偈者何所依? 何者為偈體?」
T 0266b08爾時,世尊說偈答言:
T 0266b09
「欲者是偈因, 文字莊嚴偈,T 0266b10
名者偈所依, 造作為偈體。」
T 0266b11時,彼天子復說偈言:
T 0266b12
「久見婆羅門, 逮得般涅槃,T 0266b13
一切怖已過, 永超世恩愛。」
T 0266b14時,彼天子聞佛所說,歡喜隨喜,稽首佛足,即T 0266b15沒不現。
T 0266b16 English translation not yet available.
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ có một Thiên tử, tướng mạo tuyệt diệu, vào cuối đêm đến chỗ Phật, cúi đầu lễ dưới chân Phật, ngồi lui qua một bên; ánh sáng từ thân chiếu khắp vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà.
Bấy giờ vị Thiên tử này nói kệ hỏi Phật:
Pháp gì nhân của kệ?
Kệ lấy gì trang nghiêm?
Kệ này nương nơi đâu?
Thể của kệ là gì?
Bấy giờ, Thế Tôn nói kệ đáp:
Dục là nhân của kệ,
Văn tự trang nghiêm kệ;
Danh là chỗ kệ nương,
Tạo tác là thể kệ.
Thiên tử này lại nói kệ:
Lâu thấy Bà-la-môn,
Chóng đắc Bát-niết-bàn;
Mọi sợ hãi đều qua,
Thoát hẳn đời ân ái.
Vị Thiên tử ấy nghe những gì Phật nói, hoan hỷ, tùy hỷ, đảnh lễ dưới chân Phật, liền biến mất.