Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1001-1100
SA1023 Kinh 1023. phả-cầu-na
SA1001 Kinh 1001. xâm bức SA1002 Kinh 1002. đoạn trừ SA1003 Kinh 1003. tỉnh ngủ SA1004 Kinh 1004. hỗ tương hoan hỷ SA1005 Kinh 1005. người vật SA1006 Kinh 1006. yêu ai hơn con SA1007 Kinh 1007. sát-lợi SA1008 Kinh 1008. chủng tử SA1009 Kinh 1009. tâm SA1010 Kinh 1010. phược SA1011 Kinh 1011. yểm SA1012 Kinh 1012. vô minh SA1013 Kinh 1013. tín SA1014 Kinh 1014. đệ nhị SA1015 Kinh 1015. trì giới SA1016 Kinh 1016. chúng sanh (1) SA1017 Kinh 1017. chúng sanh (2) SA1018 Kinh 1018. chúng sanh (3) SA1019 Kinh 1019. phi đạo SA1020 Kinh 1020. vô thượng SA1021 Kinh 1021. kệ nhân SA1022 Kinh 1022. biết xe SA1023 Kinh 1023. phả-cầu-na SA1024 Kinh 1024. a-thấp-ba-thệ SA1025 Kinh 1025. tật bệnh (1) SA1026 Kinh 1026. tật bệnh (2) SA1027 Kinh 1027. tỳ-kheo bệnh SA1028 Kinh 1028. tật bệnh (3) SA1029 Kinh 1029. tật bệnh (4) SA1030 Kinh 1030. cấp cô độc (1) SA1031 Kinh 1031. cấp cô độc (2) SA1032 Kinh 1032. cấp cô độc (3) SA1033 Kinh 1033. đạt-ma-đề-ly SA1034 Kinh 1034. trường thọ SA1035 Kinh 1035. bà-tẩu SA1036 Kinh 1036. sa-la SA1037 Kinh 1037. da-thâu SA1038 Kinh 1038. ma-na-đề-na SA1039 Kinh 1039. thuần-đà SA1040 Kinh 1040. xả hành SA1041 Kinh 1041. sanh văn SA1042 Kinh 1042. bề-la-ma (1) SA1043 Kinh 1043. bề-la-ma (2) SA1044 Kinh 1044. bề-nữu-đa-la SA1045 Kinh 1045. tùy loại SA1046 Kinh 1046. xà hành SA1047 Kinh 1047. viên châu (1) SA1048 Kinh 1048. viên châu (2) SA1049 Kinh 1049. na nhân SA1050 Kinh 1050. pháp xuất không xuất SA1051 Kinh 1051. bờ kia bờ này SA1052 Kinh 1052. chân thật SA1053 Kinh 1053. ác pháp SA1054 Kinh 1054. pháp chân nhân SA1055 Kinh 1055. mười pháp (1) SA1056 Kinh 1056. mười pháp (2) SA1057 Kinh 1057. hai mươi pháp SA1058 Kinh 1058. ba mươi pháp SA1059 Kinh 1059. bốn mươi SA1060 Kinh 1060. pháp phi pháp khổ SA1061 Kinh 1061. phi luật chánh luật SA1062 Kinh 1062. thiện sanh SA1063 Kinh 1063. xú lậu SA1064 Kinh 1064. đề-bà SA1065 Kinh 1065. tượng thủ SA1066 Kinh 1066. nan-đà (1) SA1067 Kinh 1067. nan-đà (2) SA1068 Kinh 1068. đê-sa SA1069 Kinh 1069. tỳ-xá-khư SA1070 Kinh 1070. niên thiếu SA1071 Kinh 1071. trưởng lão SA1072 Kinh 1072. tăng-ca-lam SA1073 Kinh 1073. a-nan SA1074 Kinh 1074. bện tóc SA1075 Kinh 1075. đà-phiêu (1) SA1076 Kinh 1076. đà-phiêu (2) SA1077 Kinh 1077. giặc SA1078 Kinh 1078. tán-đảo-tra SA1079 Kinh 1079. bạt-chẩn SA1080 Kinh 1080. tàm quý SA1081 Kinh 1081. khổ chúng SA1082 Kinh 1082. ung nhọt SA1083 Kinh 1083. ăn củ rễ SA1084 Kinh 1084. trường thọ SA1085 Kinh 1085. thọ mạng SA1086 Kinh 1086. ma trói SA1087 Kinh 1087. ngủ nghỉ SA1088 Kinh 1088. kinh hành SA1089 Kinh 1089. đại long SA1090 Kinh 1090. ngủ yên SA1091 Kinh 1091. cù-đề-ca SA1092 Kinh 1092. ma nữ SA1093 Kinh 1093. tịnh bất tịnh SA1094 Kinh 1094. khổ hành SA1095 Kinh 1095. khất thực SA1096 Kinh 1096. sợi dây SA1097 Kinh 1097. thuyết pháp SA1098 Kinh 1098. làm vua SA1099 Kinh 1099. số đông SA1100 Kinh 1100. thiện giác
SA1023

Kinh 1023. phả-cầu-na

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, tại nước Xá-vệ. Bấy giờ Tôn giả Phả-cầu-na đang ở tại giảng đường Lộc tử mẫu trong vườn phía Đông, bị bệnh nguy khốn.

Tôn giả A-nan đến chỗ Phật, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi đứng lui qua một bên bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phả-cầu-na ở giảng đường Lộc tử mẫu trong vườn phía Đông bị bệnh nguy khốn. Bệnh của Tỳ-kheo như vậy có thể chết. Lành thay, Thế Tôn! Xin Ngài vì thương xót mà đến giảng đường Lộc tử mẫu, vườn phía Đông, chỗ Tôn giả Phả-cầu-na.”

Bấy giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Chiều hôm đó sau khi từ thiền tịnh dậy, Thế Tôn đến giảng đường Lộc tử mẫu, vườn phía Đông, vào phòng Tôn giả Phả-cầu-na, trải tòa mà ngồi và vì Tôn giả Phả-cầu-na thuyết pháp, dạy dỗ, soi sáng, làm cho an vui, rồi từ chỗ ngồi đứng dậy ra về.

Sau khi Thế Tôn đi rồi, không lâu Tôn giả Phả-cầu-na mạng chung. Lúc mạng chung, các căn vui tươi, gương mặt thanh tịnh, sắc da tươi sáng. Tôn giả A-nan khi cúng dường xá-lợi Tôn giả Phả-cầu-na xong, về chỗ Phật đảnh lễ dưới chân Phật, đứng lui qua một bên, bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đến thăm, không lâu Tôn giả Phả-cầu-na mạng chung. Lúc Tôn giả này sắp qua đời, các căn vui tươi, sắc da thanh tịnh, nhuận ánh sáng tươi. Bạch Thế Tôn, không biết Tôn giả ấy sẽ sanh về đâu, thọ sanh thế nào, đời sau ra sao?”

Phật bảo A-nan:

“Nếu có Tỳ-kheo nào trước khi chưa bệnh, chưa đoạn năm hạ phần kết. Khi bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, tâm không điều hòa, mạng sống suy mòn, nhưng được nghe Đại Sư chỉ dạy, nhắc nhở, nói nhiều pháp. Khi được nghe pháp xong, đoạn năm hạ phần kết. A-nan, đó là phước lợi được từ sự chỉ dạy, nhắc nhở của Đại Sư.

“Lại nữa, A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào, trước khi chưa bệnh, chưa đoạn năm hạ phần kết. Sau đó bệnh phát khởi, thân thể đau đớn, mạng sống suy mòn dần, không nhờ được nghe Đại Sư chỉ dạy, nhắc nhở, nói pháp, nhưng gặp được các vị Đại đức đa văn, tu phạm hạnh, chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp. Khi được nghe pháp xong, đoạn năm hạ phần kết. A-nan, đó gọi là được phước lợi từ sự chỉ dạy, nhắc nhở, nghe pháp.

“Lại nữa, A-nan, nếu Tỳ-kheo nào trước khi chưa bệnh, chưa đoạn năm hạ phần kết,… cho đến mạng sống suy mòn, không được nghe Đại Sư chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp; lại không nghe các vị Đại đức đa văn phạm hạnh chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp; nhưng trước kia đã lãnh thọ pháp, một mình ở nơi vắng lặng tư duy, quán sát, đoạn được năm hạ phần kết. A-nan, đó gọi là được phước lợi từ sự tư duy, quán sát pháp đã nghe từ trước.

“Lại nữa, A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào, trước khi chưa bệnh đã đoạn năm hạ phần kết, nhưng chưa được ái tận giải thoát vô thượng, tâm không khéo giải thoát khỏi các lậu. Sau đó tuy mắc bệnh, thân bị khổ đau, mạng sống suy mòn, nhưng nghe được Phật chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp, được ái tận giải thoát vô thượng, chẳng khởi các lậu, lìa dục giải thoát. A-nan, đó gọi là được phước lợi từ sự thuyết pháp của Đại Sư.

“Lại nữa, A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào, trước khi chưa bệnh đã đoạn năm hạ phần kết, nhưng chưa được ái tận giải thoát vô thượng, chưa ly dục, giải thoát khỏi các lậu. Sau đó biết thân khởi bệnh, chịu khổ đau vô cùng. Tuy chẳng được Đại Sư chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp, nhưng lại được các vị Đại đức đa văn, phạm hạnh khác chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp, được ái tận giải thoát vô thượng, chẳng khởi các lậu, ly dục, giải thoát. A-nan, đó gọi là được phước lớn từ sự chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp.

“Lại nữa, A-nan, nếu có Tỳ-kheo nào, trước khi chưa bị bệnh, đã đoạn năm hạ phần kết, nhưng chưa được ái tận giải thoát vô thượng, không ly dục, giải thoát khỏi các lậu. Sau đó thân bệnh khởi, sanh khổ đau vô cùng. Tuy không được Phật chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp, cũng không được các vị Đại đức đa văn khác chỉ dạy, nhắc nhở, nói pháp, nhưng ở chỗ vắng lặng tư duy, cân nhắc, quán sát, được ái tận giải thoát vô thượng, không khởi các lậu, ly dục, giải thoát. A-nan, đó gọi là được phước lợi từ sự tư duy những gì đã được nghe từ giáo pháp.

“Duyên gì các căn Tỳ-kheo Phả-cầu-na không được vui tươi, tướng mạo thanh tịnh, da dẻ nhuận tươi, trước khi Tỳ-kheo Phả-cầu-na chưa bị bệnh, chưa đoạn năm hạ phần kết? Tỳ-kheo này tự mình được nghe từ sự chỉ dạy, nhắc nhở, thuyết pháp của Đại Sư, đoạn năm hạ phần kết.”

Rồi Thế Tôn xác nhận Tôn giả Phả-cầu-na đã đắc quả A-na-hàm.

Phật nói kinh này xong, Tôn giả A-nan nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ, tùy hỷ, làm lễ rồi lui.

⏳ Đang tải SA1024...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc