Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1001-1100
SA1081 Kinh 1081. khổ chúng
SA1001 Kinh 1001. xâm bức SA1002 Kinh 1002. đoạn trừ SA1003 Kinh 1003. tỉnh ngủ SA1004 Kinh 1004. hỗ tương hoan hỷ SA1005 Kinh 1005. người vật SA1006 Kinh 1006. yêu ai hơn con SA1007 Kinh 1007. sát-lợi SA1008 Kinh 1008. chủng tử SA1009 Kinh 1009. tâm SA1010 Kinh 1010. phược SA1011 Kinh 1011. yểm SA1012 Kinh 1012. vô minh SA1013 Kinh 1013. tín SA1014 Kinh 1014. đệ nhị SA1015 Kinh 1015. trì giới SA1016 Kinh 1016. chúng sanh (1) SA1017 Kinh 1017. chúng sanh (2) SA1018 Kinh 1018. chúng sanh (3) SA1019 Kinh 1019. phi đạo SA1020 Kinh 1020. vô thượng SA1021 Kinh 1021. kệ nhân SA1022 Kinh 1022. biết xe SA1023 Kinh 1023. phả-cầu-na SA1024 Kinh 1024. a-thấp-ba-thệ SA1025 Kinh 1025. tật bệnh (1) SA1026 Kinh 1026. tật bệnh (2) SA1027 Kinh 1027. tỳ-kheo bệnh SA1028 Kinh 1028. tật bệnh (3) SA1029 Kinh 1029. tật bệnh (4) SA1030 Kinh 1030. cấp cô độc (1) SA1031 Kinh 1031. cấp cô độc (2) SA1032 Kinh 1032. cấp cô độc (3) SA1033 Kinh 1033. đạt-ma-đề-ly SA1034 Kinh 1034. trường thọ SA1035 Kinh 1035. bà-tẩu SA1036 Kinh 1036. sa-la SA1037 Kinh 1037. da-thâu SA1038 Kinh 1038. ma-na-đề-na SA1039 Kinh 1039. thuần-đà SA1040 Kinh 1040. xả hành SA1041 Kinh 1041. sanh văn SA1042 Kinh 1042. bề-la-ma (1) SA1043 Kinh 1043. bề-la-ma (2) SA1044 Kinh 1044. bề-nữu-đa-la SA1045 Kinh 1045. tùy loại SA1046 Kinh 1046. xà hành SA1047 Kinh 1047. viên châu (1) SA1048 Kinh 1048. viên châu (2) SA1049 Kinh 1049. na nhân SA1050 Kinh 1050. pháp xuất không xuất SA1051 Kinh 1051. bờ kia bờ này SA1052 Kinh 1052. chân thật SA1053 Kinh 1053. ác pháp SA1054 Kinh 1054. pháp chân nhân SA1055 Kinh 1055. mười pháp (1) SA1056 Kinh 1056. mười pháp (2) SA1057 Kinh 1057. hai mươi pháp SA1058 Kinh 1058. ba mươi pháp SA1059 Kinh 1059. bốn mươi SA1060 Kinh 1060. pháp phi pháp khổ SA1061 Kinh 1061. phi luật chánh luật SA1062 Kinh 1062. thiện sanh SA1063 Kinh 1063. xú lậu SA1064 Kinh 1064. đề-bà SA1065 Kinh 1065. tượng thủ SA1066 Kinh 1066. nan-đà (1) SA1067 Kinh 1067. nan-đà (2) SA1068 Kinh 1068. đê-sa SA1069 Kinh 1069. tỳ-xá-khư SA1070 Kinh 1070. niên thiếu SA1071 Kinh 1071. trưởng lão SA1072 Kinh 1072. tăng-ca-lam SA1073 Kinh 1073. a-nan SA1074 Kinh 1074. bện tóc SA1075 Kinh 1075. đà-phiêu (1) SA1076 Kinh 1076. đà-phiêu (2) SA1077 Kinh 1077. giặc SA1078 Kinh 1078. tán-đảo-tra SA1079 Kinh 1079. bạt-chẩn SA1080 Kinh 1080. tàm quý SA1081 Kinh 1081. khổ chúng SA1082 Kinh 1082. ung nhọt SA1083 Kinh 1083. ăn củ rễ SA1084 Kinh 1084. trường thọ SA1085 Kinh 1085. thọ mạng SA1086 Kinh 1086. ma trói SA1087 Kinh 1087. ngủ nghỉ SA1088 Kinh 1088. kinh hành SA1089 Kinh 1089. đại long SA1090 Kinh 1090. ngủ yên SA1091 Kinh 1091. cù-đề-ca SA1092 Kinh 1092. ma nữ SA1093 Kinh 1093. tịnh bất tịnh SA1094 Kinh 1094. khổ hành SA1095 Kinh 1095. khất thực SA1096 Kinh 1096. sợi dây SA1097 Kinh 1097. thuyết pháp SA1098 Kinh 1098. làm vua SA1099 Kinh 1099. số đông SA1100 Kinh 1100. thiện giác
SA1081

Kinh 1081. khổ chúng

Tôi nghe như vầy:

Một thời Đức Phật ở vườn Lộc dã, tại nước Ba-la-nại. Bấy giờ sáng sớm Thế Tôn đắp y, ôm bát, vào thành Ba-la-nại khất thực. Lúc ấy, cũng có Tỳ-kheo đắp y, ôm bát, vào thành khất thực, đứng dưới gốc cây bên đường, vì nương vào ác tham nên sanh giác tưởng bất thiện. Thế Tôn thấy Tỳ-kheo đứng dưới bóng cây, sống bằng vị ác tham nên sanh giác tưởng bất thiện, bảo rằng:

“Này Tỳ-kheo! Tỳ-kheo! Chớ gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra. Nếu Tỳ-kheo nào gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra, mà muốn cho ruồi nhặng không tranh nhau bu lại, thì điều đó không thể có được.”

Lúc ấy Tỳ-kheo kia tự nghĩ: “Thế Tôn đã biết được niệm ác trong tâm ta.” Chợt lòng cảm thấy sợ hãi, toàn thân lông dựng đứng.

Bấy giờ, sau khi Thế Tôn vào thành khất thực, trở về tinh xá, cất y bát, rửa chân, rồi vào phòng tọa thiền. Chiều hôm ấy, từ thiền tịnh dậy, Ngài vào trong Tăng, trải tòa ngồi trước đại chúng và bảo các Tỳ-kheo:

“Sáng nay, Ta đắp y, ôm bát vào thành khất thực, thấy một Tỳ-kheo đứng dưới bóng cây, nương vào ác tham dục, phát sanh giác tưởng bất thiện. Khi Ta thấy vậy liền bảo rằng: ‘Tỳ-kheo! Tỳ-kheo! Chớ gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra. Nếu Tỳ-kheo nào gieo trồng hạt giống đắng, để rồi xông lên mùi thối, nước rỉ chảy ra, mà muốn cho ruồi nhặng không tranh nhau bu lại, thì điều đó không thể có được.’ Lúc đó, Tỳ-kheo kia liền tự nghĩ: ‘Phật đã biết được niệm của ta.’ Lòng cảm thấy hổ thẹn, sợ hãi đến nỗi lông dựng cả lên, rồi theo đường mà đi.”

Khi ấy, có một Tỳ-kheo từ chỗ ngồi đứng dạy, sửa lại y phục, bày áo vai bên hữu, chắp tay bạch Phật:

“Bạch Thế Tôn, thế nào là hạt giống đắng? Thế nào là sanh hôi thối? Thế nào là nước rỉ chảy? Thế nào là ruồi nhặng?”

Phật bảo Tỳ-kheo:

“Phẫn nộ, phiền oán gọi là hạt giống đắng. Công đức ngũ dục gọi là sanh hôi thối. Đối với lục xúc nhập xứ không nhiếp luật nghi gọi là chất nước rỉ chảy. Và khi đã không nhiếp xúc nhập xứ, thì các tâm ác bất thiện, tham ưu tranh nhau sanh ra, đó gọi là ruồi nhặng.”

Bấy giờ, Thế Tôn liền nói kệ:

Tai mắt không phòng hộ,
Tham dục theo đó sanh;
Đó gọi là giống đắng,
Hôi thối, nước rỉ chảy.

Khí vị các giác quán,
Do nếm ác tham dục.

Nơi xóm làng, chỗ vắng,
Đối với ngày hoặc đêm,
Viễn ly, tu phạm hạnh,
Cứu cánh biên tế khổ.

Nếu nội tâm tịch tĩnh,
Quyết định biết chân thật.
Thức ngu thường an lạc,
Ruồi nhặng bị tận diệt.

Thân cận bậc Chánh sĩ,
Khéo nói đường Hiền thánh;
Biết rõ bát Chánh đạo,
Không tái sanh thân sau.

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA1082...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc