Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa1301-1362
SA1325 Kinh 1325. quỷ ám
SA1301 Kinh 1301. trường thắng SA1302 Kinh 1302. thi-tì SA1303 Kinh 1303. nguyệt tự tại SA1304 Kinh 1304. vi-nựu SA1305 Kinh 1305. ban-xà-la-kiện SA1306 Kinh 1306. tu-thâm SA1307 Kinh 1307. xích mã SA1308 Kinh 1308. ngoại đạo SA1309 Kinh 1309. ma-già SA1310 Kinh 1310. di-kì-ca SA1311 Kinh 1311. đà-ma-ni SA1312 Kinh 1312. đa-la-kiền-đà SA1313 Kinh 1313. ca-ma (1) SA1314 Kinh 1314. ca-ma (2) SA1315 Kinh 1315. chiên-đàn (1) SA1316 Kinh 1316. chiên-đàn (2) SA1317 Kinh 1317. ca-diếp (1) SA1318 Kinh 1318. ca-diếp (2) SA1319 Kinh 1319. khuất-ma SA1320 Kinh 1320. ma-cưu-la SA1321 Kinh 1321. tất-lăng-già quỷ SA1322 Kinh 1322. phú-na-bà-tẩu SA1323 Kinh 1323. ma-ni-giá-la SA1324 Kinh 1324. châm mao quỷ SA1325 Kinh 1325. quỷ ám SA1326 Kinh 1326. a-lạp quỷ SA1327 Kinh 1327. thúc-ca-la SA1328 Kinh 1328. tỳ-la SA1329 Kinh 1329. hê-ma-ba-đê SA1330 Kinh 1330. ưu-ba-già-tra SA1331 Kinh 1331. chúng đa SA1332 Kinh 1332. ham ngủ SA1333 Kinh 1333. viễn ly SA1334 Kinh 1334. bất chánh tư duy SA1335 Kinh 1335. giữa trưa SA1336 Kinh 1336. a-na-luật SA1337 Kinh 1337. tụng kinh SA1338 Kinh 1338. bát-đàm-ma SA1339 Kinh 1339. thợ săn SA1340 Kinh 1340. kiêu-mâu-ni SA1341 Kinh 1341. chỉ trì giới SA1342 Kinh 1342. na-ca-đạt-đa SA1343 Kinh 1343. phóng túng SA1344 Kinh 1344. gia phụ SA1345 Kinh 1345. kiến-đa SA1346 Kinh 1346. ham ngủ SA1347 Kinh 1347. bình rượu SA1348 Kinh 1348. dã can SA1349 Kinh 1349. chim ưu-lâu SA1350 Kinh 1350. hoa ba-tra-lợi SA1351 Kinh 1351. khổng tước SA1352 Kinh 1352. doanh sự SA1353 Kinh 1353. núi tần-đà SA1354 Kinh 1354. theo dòng trôi SA1355 Kinh 1355. trăng sáng SA1356 Kinh 1356. phướn SA1357 Kinh 1357. bát sành SA1358 Kinh 1358. người nghèo SA1359 Kinh 1359. kiếp-bối SA1360 Kinh 1360. vũng sình SA1361 Kinh 1361. bên bờ sông SA1362 KINH 1362
SA1325

Kinh 1325. quỷ ám

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Đức Phật ở trong vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ, có con trai của Ưu-bà-di thọ trai tám chi, sau đó phạm giới, liền bị quỷ thần ám. Lúc ấy, Ưu-bà-di liền nói kệ:

Ngày mười bốn, mười lăm,
Mồng tám mỗi phần tháng;
Tháng điềm hiện thần thông,
Tám chi khéo chánh thọ.

Đối trai giới thọ trì,
Không bị quỷ thần ám.
Xưa tôi hỏi mấy lần,
Thế Tôn nói điều này.

Lúc ấy, Quỷ kia liền nói kệ:

Ngày mười bốn, mười lăm,
Và mồng tám mỗi tháng;
Ứng tháng thần túc tốt,
Tu tám chi chánh thọ.

Sống trai giới thanh tịnh,
Khéo giữ gìn giới đức;
Không bị quỷ trêu đùa,
Lành thay, nghe từ Phật.

Theo những lời bà nói,
Ta sẽ thả con bà.

Ai có nghiệp hoãn mạn,
Nhiễm ô hành khổ hạnh,
Phạm hạnh không thanh tịnh,
Trọn không được quả lớn.

Thí như nhổ cỏ may,
Nắm lỏng thì hại tay;
Sa-môn hành ác xúc,
Tất sẽ đọa địa ngục.

Thí như nhổ cỏ may,
Nắm chặt không hại tay;
Sa-môn khéo nhiếp trì,
Tất đến Bát-niết-bàn.

Khi ấy, Quỷ thần kia liền thả con Ưu-bà-di này ra. Bấy giờ, Ưu-bà-di nói kệ dạy con:

Nay con hãy nghe mẹ,
Nhắc lời quỷ thần nói.

Nếu có nghiệp hoãn mạn,
Nhiễm ô tu khổ hạnh,
Phạm hạnh không thanh tịnh,
Thì không được quả lớn.

Thí như nhổ cỏ may,
Nắm lỏng thì hại tay.

Sa-môn khởi ác xúc,
Tất sẽ đọa địa ngục;
Như nắm chặt cỏ gai,
Tất tay mình không hại.

Sa-môn khéo giữ gìn,
Tất đắc Bát-niết-bàn.

Khi ấy, con Ưu-bà-di tỉnh ngộ như vậy rồi, cạo bỏ râu tóc, mặc áo ca-sa, chánh tín xuất gia học đạo, sống không nhà, nhưng tâm không được vui, trở về nhà mình. Người mẹ từ xa thấy con liền nói kệ:

Lánh tục mà xuất gia,
Tại sao trở về làng?
Nhà cháy, của kéo ra,
Sao ném vào lửa lại?

Tỳ-kheo con Ưu-bà-di kia nói kệ đáp:

Chỉ nghĩ mẹ mạng chung,
Còn mất không gặp nhau;
Nên trở về thăm viếng,
Sao thấy con không vui?

Lúc ấy, người mẹ Ưu-bà-di nói kệ đáp:

Bỏ dục mà xuất gia,
Trở về muốn thụ hưởng;
Cho nên mẹ lo buồn,
Sợ bị Ma lung lạc.

Sau khi Ưu-bà-di đã giác ngộ con mình như vậy, như vậy rồi, người con trở lại chỗ thanh vắng, tinh cần tư duy, đoạn trừ tất cả phiền não kết buộc, chứng đắc quả A-la-hán.

⏳ Đang tải SA1326...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc