Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo ở Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, nghỉ lại trong một khu rừng, bên bờ sông. Lúc đó có đôi vợ chồng theo nhau qua sông, đứng lại ở bên bờ, khảy đàn, đùa giỡn, rồi nói kệ:
Nhớ thương mà phóng dật,
Tiêu dao khoảng rừng xanh;
Nước chảy, chảy lại trong,
Tiếng đàn thật hòa mỹ.
Mùa xuân thỏa thích chơi,
Khoái lạc còn gì hơn?
Lúc đó Tỳ-kheo ấy tự nghĩ: ‘Người kia còn có thể nói kệ, sao ta không thể nói kệ đáp?”
Thọ trì giới thanh tịnh,
Nhớ thương Đẳng Chánh Giác;
Tắm gội ba giải thoát,
Khéo dùng rất mát trong.
Nhập đạo đủ trang nghiêm,
Khoái lạc nào hơn đây?
Sau khi Tỳ-kheo kia nói kệ xong, đứng im lặng.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給T 0373a24孤獨園。
時,有異比丘在拘薩羅人間,住於T 0373a25河側一林樹間。
時,有丈夫與婦相隨,度河T 0373a26住於岸邊,彈琴嬉戲,而說偈言:
T 0373a27
「愛念而放逸, 逍遙青樹間,T 0373a28
流水流且清, 琴聲極和美,T 0373a29
春氣調適遊, 快樂何是過。」
T 0373b01時,彼比丘作是念:「彼士夫尚能說偈,我豈不T 0373b02能說偈答之?
T 0373b03
「受持清淨戒, 愛念等正覺,T 0373b04
沐浴三解脫, 善以極清涼,T 0373b05
人道具莊嚴, 快樂豈過是。」
T 0373b06時,彼比丘說此偈已,即默然而住。
T 0373b07 English translation not yet available.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Đức Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ, có Tỳ-kheo ở Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, nghỉ lại trong một khu rừng, bên bờ sông. Lúc đó có đôi vợ chồng theo nhau qua sông, đứng lại ở bên bờ, khảy đàn, đùa giỡn, rồi nói kệ:
Nhớ thương mà phóng dật,
Tiêu dao khoảng rừng xanh;
Nước chảy, chảy lại trong,
Tiếng đàn thật hòa mỹ.
Mùa xuân thỏa thích chơi,
Khoái lạc còn gì hơn?
Lúc đó Tỳ-kheo ấy tự nghĩ: ‘Người kia còn có thể nói kệ, sao ta không thể nói kệ đáp?”
Thọ trì giới thanh tịnh,
Nhớ thương Đẳng Chánh Giác;
Tắm gội ba giải thoát,
Khéo dùng rất mát trong.
Nhập đạo đủ trang nghiêm,
Khoái lạc nào hơn đây?
Sau khi Tỳ-kheo kia nói kệ xong, đứng im lặng.