Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng sa601-700
SA636 Kinh 636. tỳ-kheo
SA601 Kinh 601. tiểu lưu SA602 Kinh 602. lộc bác SA603 Kinh 603. chư lưu SA604 Kinh 604. a-dục vương nhân duyên SA605 Kinh 605. niệm xứ (1) SA606 Kinh 606. niệm xứ (2) SA607 Kinh 607. tịnh SA608 Kinh 608. cam lộ SA609 Kinh 609. tập SA610 Kinh 610. chánh niệm SA611 Kinh 611. thiện tụ SA612 Kinh 612. cung SA613 Kinh 613. bất thiện tụ SA614 Kinh 614. đại trượng phu SA615 Kinh 615. tỳ-kheo-ni SA616 Kinh 616. trù sĩ SA617 Kinh 617. điểu SA618 Kinh 618. tứ quả SA619 Kinh 619. tư-đà-già SA620 Kinh 620. di hầu SA621 Kinh 621. niên thiếu tỳ-kheo SA622 Kinh 622. am-la nữ SA623 Kinh 623. thế gian SA624 Kinh 624. uất-để-ca SA625 Kinh 625. bà-hê-ca SA626 Kinh 626. tỳ-kheo SA627 Kinh 627. a-na-luật SA628 Kinh 628. giới SA629 Kinh 629. bất thoái chuyển SA630 Kinh 630. thanh tịnh SA631 Kinh 631. độ bỉ ngạn SA632 Kinh 632. a-la-hán SA633 Kinh 633. nhất thiết pháp SA634 Kinh 634. hiền thánh SA635 Kinh 635. quang trạch SA636 Kinh 636. tỳ-kheo SA637 Kinh 637. ba-la-đề-mộc-xoa SA638 Kinh 638. thuần-đà SA639 Kinh 639. bố-tát SA640 Kinh 640. pháp diệt tận tướng SA641 Kinh 641. a-dục vương thí bán a-ma-lặc quả nhân duyên kinh SA642 Kinh 642. tri SA643 Kinh 643. tịnh SA644 Kinh 644. tu-đà-hoàn SA645 Kinh 645. a-la-hán SA646 Kinh 646. đương tri SA647 Kinh 647. phân biệt SA648 Kinh 648. lược thuyết SA649 Kinh 649. lậu tận SA650 Kinh 650. sa-môn bà-la-môn (1) SA651 Kinh 651. sa-môn bà-la-môn (2) SA652 Kinh 652. hướng SA653 Kinh 653. quảng thuyết SA654 Kinh 654. tuệ căn (1) SA655 Kinh 655. tuệ căn (2) SA656 Kinh 656. tuệ căn (3) SA657 Kinh 657. tuệ căn (4) SA658 Kinh 658. tuệ căn (5) SA659 Kinh 659. tuệ căn (6) SA660 Kinh 660. khổ đoạn SA661 Kinh 661. nhị lực (1) SA662 Kinh 662. nhị lực (2) SA663 Kinh 663. nhị lực (3) SA664 Kinh 664. tam lực (1) SA665 Kinh 665. tam lực (2) SA666 Kinh 666. tam lực (3) SA667 Kinh 667. tứ lực (1) SA668 Kinh 668. tứ nhiếp sự SA669 Kinh 669. nhiếp SA670 Kinh 670. tứ lực (2) SA671 Kinh 671. tứ lực (3) SA672 Kinh 672. tứ lực (4) SA673 Kinh 673. ngũ lực SA674 Kinh 674. ngũ lực đương thành tựu SA675 Kinh 675. đương tri ngũ lực SA676 Kinh 676. đương học ngũ lực SA677 Kinh 677. ngũ học lực SA678 Kinh 678. đương thành học lực (1) SA679 Kinh 679. quảng thuyết học lực SA680 Kinh 680. đương thành học lực (2) SA681 Kinh 681. bạch pháp (1) SA682 Kinh 682. bạch pháp (2) SA683 Kinh 683. bất thiện pháp SA684 Kinh 684. thập lực SA685 Kinh 685. nhũ mẫu SA686 Kinh 686. sư tử hống (1) SA687 Kinh 687. sư tử hống (2) SA688 Kinh 688. thất lực (1) SA689 Kinh 689. đương thành thất lực SA690 Kinh 690. thất lực (2) SA691 Kinh 691. quảng thuyết thất lực SA692 Kinh 692. bát lực SA693 Kinh 693. quảng thuyết bát lực SA694 Kinh 694. xá-lợi-phất vấn SA695 Kinh 695. dị tỳ-kheo vấn SA696 sa696 SA697 Kinh 697. cửu lực SA698 Kinh 698. quảng thuyết cửu lực SA699 Kinh 699. thập lực SA700 Kinh 700. quảng thuyết thập lực
SA636

Kinh 636. tỳ-kheo

Tôi nghe như vầy:

Một thời, Phật trú tại tinh xá Kê lâm, ấp Ba-liên-phất. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

“Ta sẽ vì các Tỳ-kheo nói về bốn Niệm xứ.

“Thế nào là tu bốn Niệm xứ? Này các Tỳ-kheo, Như Lai, Ứng Cúng, Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, xuất hiện ở đời, giảng nói chánh pháp, những lời giảng nói ban đầu, khoảng giữa và sau cùng, tất cả đều lành, nghĩa lành, vị lành, hoàn toàn thuần nhất thanh tịnh, phạm hạnh được hiển hiện. Nếu có tộc tánh nam, hay tộc tánh nữ, nghe pháp từ Phật, được tín tâm thanh tịnh; tu học như vậy: thấy sự tai hại của tại gia liên hệ với dục lạc, là phiền não ràng buộc, nên thích sống ở nơi vắng vẻ, xuất gia học đạo, không thích tại gia, mà sống không nhà; chỉ muốn một mực thanh tịnh, suốt đời hoàn toàn thuần nhất trong sạch, phạm hạnh trong sáng, ‘Ta nên cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chánh tín xuất gia học đạo, sống không nhà.’ Suy nghĩ như vậy rồi, liền vất bỏ tiền tài, thân thuộc, cạo bỏ râu tóc, khoác áo ca-sa, chánh tín xuất gia học đạo, sống không nhà; thân hành đoan chánh, giữ gìn bốn sự lỗi lầm của miệng, chánh mạng thanh tịnh; tu tập giới Hiền thánh, giữ gìn cửa các căn, chánh niệm hộ tâm.

“Khi mắt thấy sắc thì không nắm giữ hình tướng; nếu đối với mắt mà an trụ bất luật nghi, tham ưu thế gian, pháp ác bất thiện hay lọt vào tâm. Nhưng hiện tại, đối với mắt mà khởi chánh luật nghi; và đối với tai, mũi, lưỡi, thân, ý cũng khởi chánh luật nghi như vậy.

“Người kia sau khi thành tựu được Giới luật Hiền thánh, lại khéo nhiếp thủ các căn, đi tới đi lui, quay nhìn, co duỗi, nằm ngồi, thức ngủ, nói năng, im lặng đều trụ ở trong chánh trí.

“Người kia sau khi thành tựu Thánh giới, phòng hộ các căn môn này, lại tu tập chánh trí chánh niệm, tịch tịnh viễn ly; chỗ vắng, dưới bóng cây, hay trong phòng vắng, ngồi một mình, chánh thân, chánh niệm, buộc tâm an trụ, đoạn tham ưu thế gian, lìa tham dục, trừ sạch tham dục; dứt trừ các triền cái ở đời là sân nhuế, thùy miên, trạo hối, nghi; xa lìa các triền cái sân nhuế, thùy miên, trạo hối, nghi; trừ sạch các triền cái sân nhuế, thùy miên, trạo hối, nghi; đoạn trừ năm triền cái chúng làm tâm suy yếu tuệ bạc nhược, chướng ngại các giác phần, không hướng đến Niết-bàn. Thế nên, vị ấy an trú chánh niệm quán niệm thân trên nội thân, phương tiện tinh cần, chánh trí, chánh niệm, điều phục tham ưu của thế gian. Cũng vậy, an trú chánh niệm quán ngoại thân, nội ngoại thân, thọ tâm pháp trên pháp, cũng nói như vậy. Đó gọi là Tỳ-kheo tu bốn Niệm xứ.”

Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

⏳ Đang tải SA637...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc