Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Cái gì là sức mạnh của tu? Đó là bốn Niệm xứ.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như bốn Niệm xứ, cũng vậy tu bốn Chánh đoạn, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác phần, tám Thánh đạo phần, Bốn đạo, Bốn pháp cú, Chỉ quán, cũng nói như vậy.
如是我聞:
一時,佛住舍衛國祇樹給孤T 0184b20獨園。
爾時,世尊告諸比丘……如上說。差別者:T 0184b21「何等為修力?謂修四念處。」
佛說此經已,諸T 0184b22比丘聞佛所說,歡喜奉行。
T 0184b23如四念處,如是修四正斷、四如意足、五根、T 0184b24五力、七覺分、八聖道分、四道、四法句、止觀,T 0184b25亦如是說。
T 0184b26 English translation not yet available.
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở trong vườn Cấp cô độc, rừng cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ. Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
Như trên đã nói, nhưng có một vài sai biệt.
“Cái gì là sức mạnh của tu? Đó là bốn Niệm xứ.”
Sau khi Phật nói kinh này xong, các Tỳ-kheo nghe những gì Phật đã dạy, đều hoan hỷ phụng hành.
Như bốn Niệm xứ, cũng vậy tu bốn Chánh đoạn, bốn Như ý túc, năm Căn, năm Lực, bảy Giác phần, tám Thánh đạo phần, Bốn đạo, Bốn pháp cú, Chỉ quán, cũng nói như vậy.