Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng t211
T211.19

19. Phẩm Già Yếu (jarāvaggo)

Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.

Beal 1Đức Phật trú tại Kỳ-viên (Jetavana), ở Xá-vệ (Śrāvastī). Sau khi thọ thực, Ngài bắt đầu thuyết giảng Pháp Bất Tử vì lợi ích của chư Thiên và nhân loại, trước sự hiện diện của Đức Vua và các vị đại thần. Vào lúc ấy, có bảy vị Bà-la-môn từ phương xa đến, sau khi đảnh lễ dưới chân Thế Tôn, họ thỉnh cầu Ngài cho phép họ được ở gần Ngài và lắng nghe giáo huấn của Ngài. Được sự cho phép, họ được sắp xếp một căn phòng trên lầu làm nơi cư ngụ. Sau khi lui về đó, họ bắt đầu trò chuyện và cười đùa ồn ào. Nghe vậy, Đức Phật đến chỗ họ và mở lời rằng:— “Có gì đáng vui, có gì đáng cười, khi nhớ đến ngọn lửa thiêu đốt không ngừng? Chắc chắn thế gian u tối và ảm đạm này không phải là nơi để tìm kiếm sự an toàn và nghỉ ngơi. Hãy quán sát thân này trong sự hình thành của nó; nó có thể mang lại sự nương tựa nào làm nơi nương náu, khi chất chứa vô vàn tư tưởng, dễ mắc mọi bệnh tật. Than ôi! Sao con người không nhận ra những vẻ ngoài giả dối của nó? Khi già, vẻ đẹp của nó phai tàn; khi bệnh, sao mà xanh xao và gầy gò—da nhăn nheo, thịt héo hon, sự chết và sự sống đều gắn liền. Và khi thân thể chết đi, thần thức rời bỏ, như khi một bậc vương giả bỏ đi cỗ xe (hư hỏng), thì thịt và xương cũng nằm rải rác và tan tác. Vậy thì, người ta có thể đặt sự nương tựa nào vào thân thể này?” Nghe những lời này, các vị Bà-la-môn trở nên tỉnh táo và suy tư, và cuối cùng đạt đến quả vị A-la-hán (Rahats). Beal 2Thuở xưa, khi Đức Phật trú tại Kỳ-viên (Jetavana), ở Xá-vệ (Śrāvastī), thuyết giảng Chánh Pháp vì lợi ích của chư Thiên và nhân loại, vào lúc ấy có một làng Bà-la-môn, gồm khoảng năm trăm gia đình trở lên, trong đó cũng có năm trăm học sinh Bà-la-môn trẻ tuổi đang tự rèn luyện trong những giáo lý bí truyền của đẳng cấp mình, và tràn đầy sự khinh miệt đối với tất cả những người khác, không hề tôn kính tuổi già hay địa vị cao hơn. Bấy giờ, năm trăm thanh niên này, tự phụ vào khả năng tìm hiểu chân lý của mình, nói rằng: “Còn về Sa-môn Cồ-đàm này, ông ta chỉ tự xưng là Phật; tài năng của ông ta chẳng thấm vào đâu so với chúng ta; chúng ta nên thách thức ông ta đến đây tranh luận với chúng ta.” Theo đó, họ cử một người đến thách thức Ngài; và Đức Phật, cùng với tất cả các đệ tử của Ngài, đã đến nơi đó, và sau khi ngồi xuống bên dòng nước chảy, họ dùng bữa và rửa tay. Vào lúc ấy, một ông Bà-la-môn già và vợ ông đi ngang qua làng, xin ăn. Đức Phật, biết rằng trước đây ông già này từng rất giàu có, và là một trong những vị đại thần hàng đầu của vương quốc, Ngài liền quay sang các thanh niên Bà-la-môn, và hỏi họ rằng họ có biết ông già này là ai không? Tất cả họ đều đồng thanh trả lời: “Chúng con biết rất rõ.” Và rồi Đức Phật hỏi lại: “Và ông ấy là ai?” Họ nói: “Ông ấy trước đây là một vị đại thần vĩ đại, và rất giàu có.” “Vậy thì (Đức Phật hỏi) tại sao bây giờ ông ấy lại đi xin ăn?” Họ đáp: “Bởi vì ông ấy không biết giữ tiền của mình, và đã ngu xuẩn trong việc sử dụng nó, nên bây giờ ông ấy nghèo khổ.” Rồi Đức Phật nói: “Này các Bà-la-môn! Có bốn điều khó làm trên thế gian; những ai có thể làm được chúng chắc chắn sẽ đạt được nhiều hạnh phúc (công đức), và thoát khỏi cảnh nghèo khó. Và bốn điều đó là gì? Thứ nhất, khi ở đỉnh cao của tuổi trẻ không kiêu ngạo; thứ hai, khi tuổi tác đã cao thì từ bỏ những suy nghĩ về khoái lạc (dục lạc); thứ ba, khi giàu có, luôn nhớ đến việc bố thí; thứ tư, lắng nghe một cách cung kính lời của một vị thầy hiền trí. Chính vì không tuân thủ bốn quy tắc này mà vị Bà-la-môn già này đã rơi vào tình cảnh hiện tại, và giống như một con cò già ngồi bên ao cạn.” Và rồi Thế Tôn nói thêm những bài kệ này, và rằng:— “Suốt ngày đêm kiêu ngạo và ngạo mạn, khi già vẫn còn dâm dục, có của cải lại keo kiệt, từ chối lời Phật—bốn khuynh hướng này, chúng mang lại bao nhiêu khổ đau; và than ôi! khi tuổi già đến (chúng càng làm tăng thêm), thân hình héo hon và vẻ ngoài tàn tạ! Người khi trẻ chỉ biết làm vui lòng mình, khi già sẽ bị chà đạp. Không sống phạm hạnh (trong những năm tháng trưởng thành), của cải sẽ tuột khỏi tay (khi già)—cũng như con cò trắng ngồi một mình bên ao cạn, kẻ nào đã coi thường các Quy Tắc của Đời Sống Đạo Đức sẽ rơi vào cảnh nghèo khó. Già yếu và suy kiệt, với sức lực cạn kiệt—lo lắng suy tư thì có ích gì. Khi già, như lá mùa thu, úa tàn và không còn che chở, sinh mạng cạn kiệt và sự tan rã cận kề, hối hận lúc ấy thì ích gì!” Và rồi Đức Phật nói thêm: “Có bốn cơ hội được ban cho mỗi người đang sống đời sống tôn giáo, để đạt được giải thoát và tránh khỏi khổ đau; và bốn điều đó là gì? Thứ nhất, khi còn trẻ và có khả năng phát khởi những ý chí đạo đức cao thượng; thứ hai, khi giàu có và có đủ phương tiện; thứ ba, khi đủ may mắn để đạt được sự hiểu biết về ba bậc đáng kính, và nhờ đó có cơ hội mở rộng khả năng tạo công ��ức của mình; thứ tư, khi qua kinh nghiệm, một người đã học được sự phù phiếm của những thứ trần tục, để hành động phù hợp. Những ai tận dụng những cơ hội này cuối cùng chắc chắn sẽ đạt được trí tuệ;” và rồi Thế Tôn nói thêm những bài kệ này:— “Ngày đêm, nỗ lực loại bỏ dục vọng thân xác, và vào đúng cơ hội phát huy tinh tấn; khám phá chân lý rằng vạn vật đều vô thường—người như vậy sẽ không bao giờ rơi vào hố diệt vong. Nhằm học cách thắp lên ngọn đèn quán chiếu, và tìm kiếm trong ánh sáng kinh nghiệm trí tuệ tối thượng (prajñā), loại bỏ mọi phiền não, và tránh xa ô nhiễm, nhờ ánh sáng này, một người sẽ khám phá ra con đường thoát ly (Bồ-đề).” Thế Tôn sau khi nói những lời này, đã khiến hào quang của Ngài hiển lộ, và do đó các thanh niên Bà-la-môn đã tin phục phẩm hạnh của Ngài, và thỉnh cầu được phép xuất gia, và cuối cùng đạt đến sự giải thoát hoàn toàn (quả vị A-la-hán).
⏳ Đang tải T211.20...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc