Chuyển đến nội dung chính

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc

🎨 Giao diện
✍️ Kiểu chữ
NhỏLớn
ChặtRộng
📐 Bố cục
HẹpFull
SátRộng
Tam tạng t211
T211.31

31. Phẩm Voi (nāgavaggo)

Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.

Beal 1 Ngày xưa, trước khi La-hầu-la đạt được trí tuệ tối thượng, bản tính của ngài còn hơi thấp kém và phóng túng, lời nói của ngài không phải lúc nào cũng thể hiện lòng yêu sự thật. Một lần nọ, Đức Phật đã truyền lệnh cho ngài đến Kiền-đài Tinh xá, ở đó giữ gìn miệng lưỡi, kiểm soát tư tưởng, đồng thời siêng năng học hỏi (hoặc tuân thủ) các giới luật đã được quy định trong Kinh điển. La-hầu-la nghe lệnh, đảnh lễ rồi đi. Trong chín mươi ngày, ngài sống trong sự hổ thẹn và sám hối sâu sắc. Cuối cùng, Đức Phật đến nơi, hiện thân; thấy Ngài, La-hầu-la tràn đầy niềm vui, cung kính cúi đầu đảnh lễ. Sau đó, Đức Phật an tọa vào chỗ đã được chuẩn bị, Ngài bảo La-hầu-la đổ nước vào chậu và mang đến cho Ngài để rửa chân. Sau khi làm xong, và việc rửa chân đã hoàn tất, Đức Phật hỏi La-hầu-la rằng nước đã dùng đó còn thích hợp cho bất kỳ mục đích sinh hoạt nào (uống, v.v.) không; và khi La-hầu-la trả lời là không, vì nước đã bị nhiễm bẩn bởi bụi và dơ, Đức Phật nói thêm: “Trường hợp của con cũng vậy, mặc dù con là con trai của Ta, là cháu của Vua, mặc dù con đã tự nguyện từ bỏ mọi thứ để trở thành một Sa-môn, thế nhưng con vẫn không thể giữ gìn miệng lưỡi khỏi lời nói dối trá và sự ô uế của những lời nói phóng túng, và vì vậy con giống như nước bẩn này—không còn hữu dụng cho bất kỳ mục đích nào nữa.” Và một lần nữa, sau khi nước đã đổ đi, Ngài hỏi ngài rằng cái chậu đó bây giờ có còn thích hợp để đựng nước uống không; La-hầu-la trả lời: “Không,” vì cái chậu vẫn còn ô uế, và được biết đến là một vật dơ bẩn, do đó không được dùng cho bất kỳ mục đích nào như đã nói; Đức Phật lại đ��p: “Trường hợp của con cũng vậy, vì không giữ gìn miệng lưỡi, v.v., con bị biết đến và nhận ra là không thích hợp cho bất kỳ mục đích cao cả nào, mặc dù con tự xưng là một Sa-môn.” Và rồi một lần nữa, Ngài nhấc cái chậu rỗng lên chân, xoay tròn liên tục, Ngài hỏi La-hầu-la rằng ngài có sợ nó sẽ rơi vỡ không; La-hầu-la đáp rằng ngài không sợ như vậy, vì cái chậu chỉ là một vật rẻ tiền và tầm thường, do đó mất nó cũng không đáng kể. “Trường hợp của con cũng vậy,” Đức Phật lại nói, “vì mặc dù con là một Sa-môn, nhưng không thể giữ gìn miệng lưỡi của mình, con sẽ bị định mệnh, như một vật nhỏ bé và vô nghĩa, bị cuốn vào vòng xoáy luân hồi bất tận—một đối tượng bị khinh miệt đối với tất cả các bậc Hiền trí.” La-hầu-la tràn đầy hổ thẹn, Đức Phật lại nói với ngài: “Hãy lắng nghe, Ta sẽ kể cho con một câu chuyện ngụ ngôn. Ngày xưa, có một vị vua của một quốc gia nọ sở hữu một con voi to lớn và rất mạnh mẽ, có thể dùng sức mạnh của mình để chế ngự năm trăm con voi nhỏ hơn. Vị vua này, sắp sửa ra trận với một chư hầu nổi loạn, đã mang ra bộ giáp sắt của con voi, và chỉ thị cho người quản tượng mặc vào cho nó, cụ thể là hai thanh kiếm sắc nhọn trên ngà, hai cái móc sắt (lưỡi hái) trên tai, một cây giáo cong trên mỗi chân, một cây chùy sắt (hoặc quả cầu) gắn vào đuôi; và chín binh sĩ được chỉ định đi theo hộ tống. Người quản tượng vui mừng khi thấy con vật được trang bị như vậy, và huấn luyện nó trên hết là phải giữ vòi cuộn chặt, biết rằng một mũi tên xuyên vào giữa vòi chắc chắn sẽ gây tử vong. Nhưng kìa! giữa trận chiến, con voi lại duỗi vòi ra, tìm cách dùng nó để nắm lấy một thanh kiếm. Thấy vậy, người quản tượng kinh hãi, và sau khi hội ý với vua và các đại thần, họ đồng ý rằng con voi không nên được đưa ra chiến trường nữa.” Tiếp lời, Đức Phật nói: “La-hầu-la! Nếu con người phạm chín lỗi lầm mà chỉ giữ gìn miệng lưỡi như con voi này được huấn luyện để giữ vòi của nó, thì mọi việc sẽ tốt đẹp. Hãy đề phòng mũi tên bắn trúng giữa! Hãy giữ gìn miệng lưỡi, kẻo họ chết, và rơi vào khổ đau của những kiếp tái sinh trong ba đường ác!” Và rồi Ngài nói thêm những bài kệ này:—

“Ta như voi chiến, không sợ mũi tên giữa (mũi tên làm bị thương phần giữa). Bằng sự chân thành và chân thật, Ta thoát khỏi kẻ vô nguyên tắc (kẻ vô pháp). Như voi đã được thuần phục và yên tĩnh, cho phép vua cưỡi lên vòi của nó (dâng vòi cho vua leo lên), người đáng kính đã được thuần hóa như vậy, ngài cũng chịu đựng một cách chân thật và trong đức tin.”

La-hầu-la nghe những lời này, tràn đầy hối hận vì sự bất cẩn trong lời nói của mình, và dốc sức tinh tấn trở lại, và nhờ đó trở thành một A-la-hán.

Beal 2 Ngày xưa, khi Đức Phật đang trú ngụ tại Kỳ-viên Tinh xá ở Xá-vệ, thuyết Pháp cho chư thiên và loài người, lúc bấy giờ có một vị quý tộc, một Cư sĩ, tên là A-tỳ-đạt-ma (Hộ-đề-hoàn), sau khi đến nơi Đức Phật đang ở, thực hiện nghi thức đảnh lễ thông thường, rồi đứng sang một bên và thưa: “Thế Tôn! Mỗi khi con thực hiện bất kỳ bổn phận tôn giáo nào, như cúng dường hay các dịch vụ khác, con đều cảm thấy bị quấy rầy và áp bức bởi một cảm giác ích kỷ nào đó, làm mất đi sự an lạc trong tâm trí con. Kính mong Ngài với lòng đại từ bi mà giải thích điều này.” Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo ông ngồi xuống, và lập tức hỏi tên ông, và ông từ đâu đến. Nghe vậy, ông lại phủ phục, nói tên mình, và cho biết rằng vào thời vua trước, ông từng là một người huấn luyện voi. Đức Phật bèn hỏi ông về các quy tắc huấn luyện voi, và những công cụ được sử dụng là gì? Ông đáp: “Có ba thứ chúng con dùng trong công việc này—thứ nhất, một công cụ móc sắt, để giữ miệng và chế ngự nó; thứ hai, một thứ để tước đoạt thức ăn của con vật, và giữ cho nó yếu đi; thứ ba, một cây gậy lớn, để đánh nó. Bằng những phương tiện này, chúng con chế ngự được nó, và thuần phục nó.” Đức Phật lại hỏi: “Và trong ba thứ này, thứ nào hữu ích (hoặc quan trọng) nhất?” Ông đáp: “Cái móc sắt giữ miệng; đây là thứ hiệu quả nhất, vì nhờ kỷ luật này mà con vật được thuần hóa để cho phép Vua cưỡi lên lưng, và được hướng dẫn, điều khiển dễ dàng trong trận chiến.” Đức Phật lại hỏi: “Nếu đây là phương pháp huấn luyện voi được chấp nhận rộng rãi, và liệu có phương pháp nào khác không?” và khi người huấn luyện voi trả lời là không, Đức Phật nói thêm: “Như ông thuần hóa voi, ông cũng có thể thuần hóa chính mình;” và khi ông hỏi thêm về ý nghĩa của điều này, Đức Phật tiếp tục: “Này người huấn luyện voi! Ta cũng có ba điều mà nhờ đó Ta chế ngự tất cả mọi người, và nhờ đó mỗi người có thể chế ngự chính mình, và nhờ đó đạt đến trạng thái vô ngã (vô vi) cao nhất. Và ba điều này là gì? Thứ nhất, bằng sự tự chủ miệng lưỡi, luôn dẫn dắt người ta giữ gìn chân lý; thứ hai, bằng lòng từ bi, để thuyết phục những kẻ cứng đầu và cố chấp; thứ ba, bằng trí tuệ, để tiêu diệt ảnh hưởng của vô minh và nghi ngờ. Bằng ba điều này, Ta chế ngự tất cả mọi người, và giúp họ thoát khỏi con đường hủy diệt, và đạt đến trạng thái không còn sầu khổ và mọi ràng buộc của sự tái sinh và cái chết—hoàn toàn vô ngã và vô vi.” Và rồi Đức Thế Tôn nói thêm những dòng này:—

“Như con voi tên là “U-ts'ai” (Pháp-hộ) khó giữ và khó thuần hóa, khi bị trói không ăn một miếng nào, chỉ mong được tự do; tâm Ta cũng vậy, trong trạng thái tự nhiên, đã lang thang khắp nơi, luôn tìm kiếm một nơi nương tựa, nhưng giờ đây Ta đã chế ngự được nó, và Ta có thể giữ nó, như người quản tượng dùng móc giữ voi. Vui mừng khi có được Lý trí (Bồ-đề), và không để nó thoát khỏi, có thể bất cứ lúc nào cũng giữ và kiểm soát tâm trí, đây là thoát khỏi khổ đau thân thể, như voi thoát khỏi cái hố mà nó đã rơi vào.”

Vị Cư sĩ, nghe những lời này, đã suy tư sâu sắc, và cuối cùng đạt đến trạng thái giác ngộ, trong khi vô số người khác cũng quy y chân lý.

⏳ Đang tải T211.32...

⚙️ Tùy Chỉnh Đọc