Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Beal 1 Ngày xưa, trước khi La-hầu-la đạt được trí tuệ tối thượng, bản tính của ngài còn hơi thấp kém và phóng túng, lời nói của ngài không phải lúc nào cũng thể hiện lòng yêu sự thật. Một lần nọ, Đức Phật đã truyền lệnh cho ngài đến Kiền-đài Tinh xá, ở đó giữ gìn miệng lưỡi, kiểm soát tư tưởng, đồng thời siêng năng học hỏi (hoặc tuân thủ) các giới luật đã được quy định trong Kinh điển. La-hầu-la nghe lệnh, đảnh lễ rồi đi. Trong chín mươi ngày, ngài sống trong sự hổ thẹn và sám hối sâu sắc. Cuối cùng, Đức Phật đến nơi, hiện thân; thấy Ngài, La-hầu-la tràn đầy niềm vui, cung kính cúi đầu đảnh lễ. Sau đó, Đức Phật an tọa vào chỗ đã được chuẩn bị, Ngài bảo La-hầu-la đổ nước vào chậu và mang đến cho Ngài để rửa chân. Sau khi làm xong, và việc rửa chân đã hoàn tất, Đức Phật hỏi La-hầu-la rằng nước đã dùng đó còn thích hợp cho bất kỳ mục đích sinh hoạt nào (uống, v.v.) không; và khi La-hầu-la trả lời là không, vì nước đã bị nhiễm bẩn bởi bụi và dơ, Đức Phật nói thêm: “Trường hợp của con cũng vậy, mặc dù con là con trai của Ta, là cháu của Vua, mặc dù con đã tự nguyện từ bỏ mọi thứ để trở thành một Sa-môn, thế nhưng con vẫn không thể giữ gìn miệng lưỡi khỏi lời nói dối trá và sự ô uế của những lời nói phóng túng, và vì vậy con giống như nước bẩn này—không còn hữu dụng cho bất kỳ mục đích nào nữa.” Và một lần nữa, sau khi nước đã đổ đi, Ngài hỏi ngài rằng cái chậu đó bây giờ có còn thích hợp để đựng nước uống không; La-hầu-la trả lời: “Không,” vì cái chậu vẫn còn ô uế, và được biết đến là một vật dơ bẩn, do đó không được dùng cho bất kỳ mục đích nào như đã nói; Đức Phật lại đ��p: “Trường hợp của con cũng vậy, vì không giữ gìn miệng lưỡi, v.v., con bị biết đến và nhận ra là không thích hợp cho bất kỳ mục đích cao cả nào, mặc dù con tự xưng là một Sa-môn.” Và rồi một lần nữa, Ngài nhấc cái chậu rỗng lên chân, xoay tròn liên tục, Ngài hỏi La-hầu-la rằng ngài có sợ nó sẽ rơi vỡ không; La-hầu-la đáp rằng ngài không sợ như vậy, vì cái chậu chỉ là một vật rẻ tiền và tầm thường, do đó mất nó cũng không đáng kể. “Trường hợp của con cũng vậy,” Đức Phật lại nói, “vì mặc dù con là một Sa-môn, nhưng không thể giữ gìn miệng lưỡi của mình, con sẽ bị định mệnh, như một vật nhỏ bé và vô nghĩa, bị cuốn vào vòng xoáy luân hồi bất tận—một đối tượng bị khinh miệt đối với tất cả các bậc Hiền trí.” La-hầu-la tràn đầy hổ thẹn, Đức Phật lại nói với ngài: “Hãy lắng nghe, Ta sẽ kể cho con một câu chuyện ngụ ngôn. Ngày xưa, có một vị vua của một quốc gia nọ sở hữu một con voi to lớn và rất mạnh mẽ, có thể dùng sức mạnh của mình để chế ngự năm trăm con voi nhỏ hơn. Vị vua này, sắp sửa ra trận với một chư hầu nổi loạn, đã mang ra bộ giáp sắt của con voi, và chỉ thị cho người quản tượng mặc vào cho nó, cụ thể là hai thanh kiếm sắc nhọn trên ngà, hai cái móc sắt (lưỡi hái) trên tai, một cây giáo cong trên mỗi chân, một cây chùy sắt (hoặc quả cầu) gắn vào đuôi; và chín binh sĩ được chỉ định đi theo hộ tống. Người quản tượng vui mừng khi thấy con vật được trang bị như vậy, và huấn luyện nó trên hết là phải giữ vòi cuộn chặt, biết rằng một mũi tên xuyên vào giữa vòi chắc chắn sẽ gây tử vong. Nhưng kìa! giữa trận chiến, con voi lại duỗi vòi ra, tìm cách dùng nó để nắm lấy một thanh kiếm. Thấy vậy, người quản tượng kinh hãi, và sau khi hội ý với vua và các đại thần, họ đồng ý rằng con voi không nên được đưa ra chiến trường nữa.” Tiếp lời, Đức Phật nói: “La-hầu-la! Nếu con người phạm chín lỗi lầm mà chỉ giữ gìn miệng lưỡi như con voi này được huấn luyện để giữ vòi của nó, thì mọi việc sẽ tốt đẹp. Hãy đề phòng mũi tên bắn trúng giữa! Hãy giữ gìn miệng lưỡi, kẻo họ chết, và rơi vào khổ đau của những kiếp tái sinh trong ba đường ác!” Và rồi Ngài nói thêm những bài kệ này:—
“Ta như voi chiến, không sợ mũi tên giữa (mũi tên làm bị thương phần giữa). Bằng sự chân thành và chân thật, Ta thoát khỏi kẻ vô nguyên tắc (kẻ vô pháp). Như voi đã được thuần phục và yên tĩnh, cho phép vua cưỡi lên vòi của nó (dâng vòi cho vua leo lên), người đáng kính đã được thuần hóa như vậy, ngài cũng chịu đựng một cách chân thật và trong đức tin.”
La-hầu-la nghe những lời này, tràn đầy hối hận vì sự bất cẩn trong lời nói của mình, và dốc sức tinh tấn trở lại, và nhờ đó trở thành một A-la-hán.
Beal 2 Ngày xưa, khi Đức Phật đang trú ngụ tại Kỳ-viên Tinh xá ở Xá-vệ, thuyết Pháp cho chư thiên và loài người, lúc bấy giờ có một vị quý tộc, một Cư sĩ, tên là A-tỳ-đạt-ma (Hộ-đề-hoàn), sau khi đến nơi Đức Phật đang ở, thực hiện nghi thức đảnh lễ thông thường, rồi đứng sang một bên và thưa: “Thế Tôn! Mỗi khi con thực hiện bất kỳ bổn phận tôn giáo nào, như cúng dường hay các dịch vụ khác, con đều cảm thấy bị quấy rầy và áp bức bởi một cảm giác ích kỷ nào đó, làm mất đi sự an lạc trong tâm trí con. Kính mong Ngài với lòng đại từ bi mà giải thích điều này.” Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo ông ngồi xuống, và lập tức hỏi tên ông, và ông từ đâu đến. Nghe vậy, ông lại phủ phục, nói tên mình, và cho biết rằng vào thời vua trước, ông từng là một người huấn luyện voi. Đức Phật bèn hỏi ông về các quy tắc huấn luyện voi, và những công cụ được sử dụng là gì? Ông đáp: “Có ba thứ chúng con dùng trong công việc này—thứ nhất, một công cụ móc sắt, để giữ miệng và chế ngự nó; thứ hai, một thứ để tước đoạt thức ăn của con vật, và giữ cho nó yếu đi; thứ ba, một cây gậy lớn, để đánh nó. Bằng những phương tiện này, chúng con chế ngự được nó, và thuần phục nó.” Đức Phật lại hỏi: “Và trong ba thứ này, thứ nào hữu ích (hoặc quan trọng) nhất?” Ông đáp: “Cái móc sắt giữ miệng; đây là thứ hiệu quả nhất, vì nhờ kỷ luật này mà con vật được thuần hóa để cho phép Vua cưỡi lên lưng, và được hướng dẫn, điều khiển dễ dàng trong trận chiến.” Đức Phật lại hỏi: “Nếu đây là phương pháp huấn luyện voi được chấp nhận rộng rãi, và liệu có phương pháp nào khác không?” và khi người huấn luyện voi trả lời là không, Đức Phật nói thêm: “Như ông thuần hóa voi, ông cũng có thể thuần hóa chính mình;” và khi ông hỏi thêm về ý nghĩa của điều này, Đức Phật tiếp tục: “Này người huấn luyện voi! Ta cũng có ba điều mà nhờ đó Ta chế ngự tất cả mọi người, và nhờ đó mỗi người có thể chế ngự chính mình, và nhờ đó đạt đến trạng thái vô ngã (vô vi) cao nhất. Và ba điều này là gì? Thứ nhất, bằng sự tự chủ miệng lưỡi, luôn dẫn dắt người ta giữ gìn chân lý; thứ hai, bằng lòng từ bi, để thuyết phục những kẻ cứng đầu và cố chấp; thứ ba, bằng trí tuệ, để tiêu diệt ảnh hưởng của vô minh và nghi ngờ. Bằng ba điều này, Ta chế ngự tất cả mọi người, và giúp họ thoát khỏi con đường hủy diệt, và đạt đến trạng thái không còn sầu khổ và mọi ràng buộc của sự tái sinh và cái chết—hoàn toàn vô ngã và vô vi.” Và rồi Đức Thế Tôn nói thêm những dòng này:—
“Như con voi tên là “U-ts'ai” (Pháp-hộ) khó giữ và khó thuần hóa, khi bị trói không ăn một miếng nào, chỉ mong được tự do; tâm Ta cũng vậy, trong trạng thái tự nhiên, đã lang thang khắp nơi, luôn tìm kiếm một nơi nương tựa, nhưng giờ đây Ta đã chế ngự được nó, và Ta có thể giữ nó, như người quản tượng dùng móc giữ voi. Vui mừng khi có được Lý trí (Bồ-đề), và không để nó thoát khỏi, có thể bất cứ lúc nào cũng giữ và kiểm soát tâm trí, đây là thoát khỏi khổ đau thân thể, như voi thoát khỏi cái hố mà nó đã rơi vào.”
Vị Cư sĩ, nghe những lời này, đã suy tư sâu sắc, và cuối cùng đạt đến trạng thái giác ngộ, trong khi vô số người khác cũng quy y chân lý.
T 0599c20昔者羅雲未得道時,心性麤獷言少誠信。T 0599c21佛敕羅雲:「汝到賢提精舍中住,守口攝意T 0599c22勤修經戒。」羅雲奉教作禮而去,住九十日,T 0599c23慙愧自悔晝夜不息。佛往見之,羅雲歡喜T 0599c24趣前禮佛,安施繩床攝受震越,佛踞繩床告T 0599c25羅雲曰:「澡盤取水為吾洗足。」羅雲受教T 0600a01為佛洗足。洗足已訖,佛語羅雲:「汝見澡T 0600a02盤中洗足水不?」羅雲白佛:「唯然見之。」佛語T 0600a03羅雲:「此水可用食飲盥漱以不?」羅雲白T 0600a04言:「不可復用。所以者何?此水本實清淨,今T 0600a05以洗足受於塵垢,是以之故不可復用。」佛T 0600a06語羅雲:「汝亦如是,雖為吾子國王之孫,捨T 0600a07世榮祿得為沙門,不念精進攝身守口,三毒T 0600a08垢穢充滿胸懷,亦如此水不可復用。」佛語T 0600a09羅雲:「棄澡盤中水。」羅雲即棄。佛語T 0600a10羅雲:「澡盤雖空,可用盛飲食不耶?」白佛T 0600a11言:「不可用。所以然者,用有澡盤之名,曾T 0600a12受不淨故。」佛語羅雲:「汝亦如是,雖為沙門T 0600a13口無誠信,心性剛強不念精進,曾受惡名,亦T 0600a14如澡盤不中盛食。」佛以足指撥却澡盤,T 0600a15澡盤應時輪轉而走,自跳自墮數返乃止。T 0600a16佛語羅雲:「汝寧惜澡盤恐破不?」羅雲T 0600a17白佛:「洗足之器賤價之物,意中雖惜不大慇T 0600a18懃。」佛語羅雲:「汝亦如是。雖為沙門不攝身T 0600a19口,麤言惡說多所中傷,眾所不愛智者不惜,T 0600a20身死神去輪轉三塗,自生自死苦惱無量。諸T 0600a21佛賢聖所不愛惜,亦如汝言不惜澡盤。」羅T 0600a22雲聞之慚愧怖悸。佛告羅雲:「聽我說喻。昔T 0600a23有國王有一大象,猛黠能戰,計其力勢勝T 0600a24五百小象。其王興軍欲伐逆國,被象鐵鎧象T 0600a25士御之,以雙矛戟繫象兩牙,復以二劍繫著T 0600a26兩耳,以曲刃刀繫象四脚,復以鐵撾繫著象T 0600a27尾,被象九兵皆使嚴利。象雖藏鼻護不用T 0600a28鬪,象士歡喜知象護身。所以者何?象鼻T 0600a29軟脆,中箭即死,是以不出鼻鬪耳。象鬪殊久T 0600b01出鼻求劍,象士不與,念此猛象不惜身命,T 0600b02出鼻求劍欲著鼻頭,王及羣臣惜此大象,不T 0600b03復使鬪。」佛告羅雲:「人犯九惡,唯當護口,如T 0600b04此大象護鼻不鬪。所以然者,畏中箭死。人亦T 0600b05如是,所以護口,當畏三塗地獄苦痛。十惡盡T 0600b06犯不護口者,如此大象分喪身命,不計中箭T 0600b07出鼻鬪耳。人亦如是十惡盡犯,不惟三塗毒T 0600b08痛辛苦。若行十善攝口身意,眾惡不犯,便T 0600b09可得道長離三塗,無生死患。」
於是世尊即說T 0600b10偈言:T 0600b11
SC Verse 210Verse 31.1「我如象鬪, 不恐中箭,
常以誠信,T 0600b12 度無戒人。
SC Verse 211Verse 31.2譬象調伏, 可中王乘,T 0600b13
調為尊人, 乃受誠信。」T 0600b14
羅雲聞佛懇惻之誨,感激自勵尅骨不忘,T 0600b15精進和柔懷忍如地,識想寂靜得羅漢道。
T 0600b16昔佛在舍衛國祇樹精舍,為四部弟子、天龍T 0600b17鬼神、帝王臣民敷演大法。時有長者居士,T 0600b18名曰呵提曇,來詣佛所,為佛作禮,却坐一面、T 0600b19叉手長跪白世尊曰:「久承洪化欽仰奉顏,T 0600b20逼私不獲願垂慈恕。」世尊令坐,即問所從來T 0600b21姓字為何?長跪答曰:「本居士種,字呵提曇,T 0600b22乃先王時為王調象。」佛問居士:「調象之法有T 0600b23幾事乎?」答曰:「常以三事用調大象。何謂為T 0600b24三?一者剛鈎鈎口著其羈靽,二者減食常令T 0600b25飢瘦,三者捶杖加其楚痛。以此三事乃得調T 0600b26良。」又問:「施此三事何所攝治也?」曰:「鐵鈎鈎口T 0600b27以制強口,不與食飲以制身獷,加捶杖者,T 0600b28以伏其心,正爾便調。」曰:「作此伏者,為何所施T 0600b29用?」答曰:「如是伏已,可中王乘亦可令鬪,隨意T 0600c01前却無有罣礙。」又問居士:「正有此法?復有其T 0600c02異?」答曰:「調象之法正如此耳。」佛告居士:「但能T 0600c03調象復能自調。」即曰:「不審自調其義云何?唯T 0600c04願世尊彰演未聞。」佛告居士:「吾亦有三事,用T 0600c05調一切人,亦以自調得至無為。一者至誠T 0600c06制御口業,二以慈貞伏身剛強,三以智慧T 0600c07滅意癡蓋。持是三事度脫一切,離三惡道自T 0600c08致無為,不遭生死憂悲苦惱。」
於是世尊即說T 0600c09偈言:T 0600c10
SC Verse 212Verse 31.3「如象名護財, 猛害難禁制,T 0600c11
繫靽不與食, 而猶慕逸象。T 0600c12
SC Verse 213Verse 31.4本意為純行, 及常行所安,T 0600c13
悉捨降結使, 如鈎制象調。T 0600c14
樂道不放逸, 能常自護心,T 0600c15
是為拔身苦, 如象出于陷。T 0600c16
SC Verse 214Verse 31.5「雖為常調, 如彼新馳,
亦最善象,T 0600c17 不如自調。
SC Verse 215Verse 31.6彼不能適, 人所不至,T 0600c18
唯自調者, 能到調方。」T 0600c19
居士聞偈喜慶難量,內情解釋即得法眼,聽T 0600c20者無數皆得道迹。
T 0600c21 Beal 1In days of old, before Rahula had attained to supreme wisdom, his natural disposition being somewhat low and disorderly, his words were not always marked by love of truth. On one occasion Buddha had ordered him to go to the Kien-tai (Ghanda or Ghanta?) Vihāra, and there remain guarding his mouth (tongue), and governing his thoughts, at the same time diligently studying (or observing) the rules of conduct laid down in the Scriptures. Rahula, having heard the command, made his obeisance and went. For ninety days he remained in deep shame and penitence. At length Buddha repaired to the place, and showed himself; on seeing him, Rahula was filled with joy, and reverently bowed down and worshipped him. After this, Buddha having taken the seat provided for him, he desired Rahula to fill a water-basin with water and bring it to him, and wash his feet. Having done so, and the washing being over, Buddha asked Rahula if the water so used was now fit for any purpose of domestic use (drinking, etc.); and on Rahula replying in the negative, because the water was defiled with dust and dirt, Buddha added: “And such is your case, for although you are my son, and the grandchild of the King, although you have voluntarily given up everything to become a Shaman, nevertheless you are unable to guard your tongue from untruth and the defilement of loose conversation, and so you are like this defiled water—useful for no further purpose.” And again he asked him, after the water had been thrown away, whether the vessel was now fit for holding water for drink; to which Rahula replied, “No,” for the vessel is still defiled, and is known as an unclean thing, and therefore not used for any purpose such as that indicated; to which Buddha again replied, “And such is your case, by not guarding your tongue, etc., you are known and recognised as unfit for any high purpose, although you profess to be a Shaman.” And then once more lifting the empty basin on to his foot, and whirling it round and round, he asked Rahula if he were not afraid lest it should fall and be broken; to which Rahula replied that he had no such fear, for the vessel was but a cheap and common one, and therefore its loss would be a matter of small moment. “And such is your case,” again said Buddha, “for though you are a Shaman, yet being unable to guard your mouth or your tongue, you are destined, as a small and insignificant thing, to be whirled in the endless eddies of transmigration—an object of contempt to all the Wise.” Rahula being filled with shame, Buddha addressed him once more: “Listen, and I will speak to you in a parable. There was in old time the king of a certain country who had a large and very powerful elephant, able to overpower by its own strength five hundred smaller elephants. This king, being about to go to war with some rebellious dependency, brought forth the iron armour belonging to the elephant, and directed the master of the animal to put it on him, to wit, two sharp-pointed swords on his tusks, two iron hooks (scythes) on his ears, a crooked spear on each foot, an iron club (or ball) attached to his tail; and to accompany him were appointed nine soldiers as escort. Then the elephant-master was rejoiced to see the creature thus equipped, and trained him above all things to keep his trunk well coiled up, knowing that an arrow piercing that in the midst must be fatal. But lo! in the middle of the battle the elephant, uncoiling his trunk, sought to seize a sword with it. On which the master was affrighted, and, in consultation with the king and his ministers, it was agreed that he should no more be brought into the battle-field.” In continuation, Buddha said: “Rahula! if men committing the nine faults only guard their tongue as this elephant was trained to guard his trunk, all would be well. Let them guard against the arrow that strikes in the middle! let them keep their mouth, lest they die, and fall into the misery of future births in the three evil paths!” And then he added these stanzas :—
“I am like the fighting elephant, without any fear of the middle arrow (the arrow wounding the middle part). By sincerity and truth I escape the unprincipled man (lawless man). Like the elephant, well subdued and quiet, permits the king to mount on his trunk (offers his trunk for the king to ascend), thus tamed is the reverend man, he also endures truthfully and in faith.”
Rahula, hearing these words, was filled with sorrow for his careless disregard of his words, and gave himself up to renewed exertion, and so became a Rahat.
Beal 2In days of old, when Buddha was residing in the Jetavana of Śrāvastī, preaching his doctrine for the sake of angels and men, at this time there was a certain nobleman, a householder (grihapati), named Atidharma (ho-ti-wan), who, having come to the place where Buddha was, after the customary homage, stood on one side and said: “World-honoured! whenever I undertake any religious duty, such as making an offering or other service, I feel harassed and oppressed by some selfish feeling or other, that destroys my peace of mind. Would that of your great love you would explain this.” Then the Lord bade him sit down, and forthwith asked him his name, and whence he came. On this, again prostrating himself, he told his name, and said that in the time of the former king he had been an elephant-tamer. Buddha then asked him what were the rules for elephant-taming, and what the instruments employed? On this he replied, “There are three things we use in this work—1st, an iron-hooked instrument, for holding the mouth and subduing it; 2d, one for depriving the creature of food, and keeping it low; 3d, a large staff, for the purpose of beating it. By these means we gain the mastery over it, and subdue it.” Again Buddha asked, “And of these three things, which is the most useful (or important)?” to which he replied, “The hooked-iron that holds the mouth; this is the most effective, for by means of this discipline the creature is tamed so as to permit the King to mount on its back, and is guided and directed without difficulty in battle.” Again Buddha asked, “if this was the generally accepted method of taming elephants, and if there was any other?” and on the elephant-tamer replying in the negative, Buddha added, “As you tame the elephant, so you may tame yourself;” and on his inquiring further as to the meaning of this, Buddha continued: “O elephant-tamer! I have also three things by which I subdue all men, and by which each man may subdue himself, and so arrive at the highest condition of unselfishness (wou-wei). And what are these three? 1st, by self-control over the tongue, leading one always to observe the truth; 2d, by love, to persuade the hard and obstinate; 3d, by wisdom, to destroy the influence of ignorance and doubt. By these three I subdue all men, and enable them to escape the path of ruin, and to arrive at a condition free from sorrow and any entanglement of renewed birth and death—perfectly unselfish and indifferent (wou-wei).” And then the World-honoured added these lines:—
“Like the elephant which is called “U-ts'ai" (Dhammapālaka?) is difficult to hold and to tame, and when bound does not eat a morsel, and only longs to be free; so this mind of mine, in its natural state, went wandering at large, and ever seeking a resting-place, but now I have subdued it, and I can hold it, as the master with the hook holds the elephant. To be glad in the possession of Reason (Bōdhi), and not to let it escape, to be able at any time to hold in and control the mind, this is to be saved from bodily suffering, as the elephant escapes from the ditch into which he has fallen.”
The Grihapati, on hearing these words, was led to serious reflection, and eventually attained to a condition of enlightenment, whilst countless others were converted to the truth.
Beal 1 Ngày xưa, trước khi La-hầu-la đạt được trí tuệ tối thượng, bản tính của ngài còn hơi thấp kém và phóng túng, lời nói của ngài không phải lúc nào cũng thể hiện lòng yêu sự thật. Một lần nọ, Đức Phật đã truyền lệnh cho ngài đến Kiền-đài Tinh xá, ở đó giữ gìn miệng lưỡi, kiểm soát tư tưởng, đồng thời siêng năng học hỏi (hoặc tuân thủ) các giới luật đã được quy định trong Kinh điển. La-hầu-la nghe lệnh, đảnh lễ rồi đi. Trong chín mươi ngày, ngài sống trong sự hổ thẹn và sám hối sâu sắc. Cuối cùng, Đức Phật đến nơi, hiện thân; thấy Ngài, La-hầu-la tràn đầy niềm vui, cung kính cúi đầu đảnh lễ. Sau đó, Đức Phật an tọa vào chỗ đã được chuẩn bị, Ngài bảo La-hầu-la đổ nước vào chậu và mang đến cho Ngài để rửa chân. Sau khi làm xong, và việc rửa chân đã hoàn tất, Đức Phật hỏi La-hầu-la rằng nước đã dùng đó còn thích hợp cho bất kỳ mục đích sinh hoạt nào (uống, v.v.) không; và khi La-hầu-la trả lời là không, vì nước đã bị nhiễm bẩn bởi bụi và dơ, Đức Phật nói thêm: “Trường hợp của con cũng vậy, mặc dù con là con trai của Ta, là cháu của Vua, mặc dù con đã tự nguyện từ bỏ mọi thứ để trở thành một Sa-môn, thế nhưng con vẫn không thể giữ gìn miệng lưỡi khỏi lời nói dối trá và sự ô uế của những lời nói phóng túng, và vì vậy con giống như nước bẩn này—không còn hữu dụng cho bất kỳ mục đích nào nữa.” Và một lần nữa, sau khi nước đã đổ đi, Ngài hỏi ngài rằng cái chậu đó bây giờ có còn thích hợp để đựng nước uống không; La-hầu-la trả lời: “Không,” vì cái chậu vẫn còn ô uế, và được biết đến là một vật dơ bẩn, do đó không được dùng cho bất kỳ mục đích nào như đã nói; Đức Phật lại đ��p: “Trường hợp của con cũng vậy, vì không giữ gìn miệng lưỡi, v.v., con bị biết đến và nhận ra là không thích hợp cho bất kỳ mục đích cao cả nào, mặc dù con tự xưng là một Sa-môn.” Và rồi một lần nữa, Ngài nhấc cái chậu rỗng lên chân, xoay tròn liên tục, Ngài hỏi La-hầu-la rằng ngài có sợ nó sẽ rơi vỡ không; La-hầu-la đáp rằng ngài không sợ như vậy, vì cái chậu chỉ là một vật rẻ tiền và tầm thường, do đó mất nó cũng không đáng kể. “Trường hợp của con cũng vậy,” Đức Phật lại nói, “vì mặc dù con là một Sa-môn, nhưng không thể giữ gìn miệng lưỡi của mình, con sẽ bị định mệnh, như một vật nhỏ bé và vô nghĩa, bị cuốn vào vòng xoáy luân hồi bất tận—một đối tượng bị khinh miệt đối với tất cả các bậc Hiền trí.” La-hầu-la tràn đầy hổ thẹn, Đức Phật lại nói với ngài: “Hãy lắng nghe, Ta sẽ kể cho con một câu chuyện ngụ ngôn. Ngày xưa, có một vị vua của một quốc gia nọ sở hữu một con voi to lớn và rất mạnh mẽ, có thể dùng sức mạnh của mình để chế ngự năm trăm con voi nhỏ hơn. Vị vua này, sắp sửa ra trận với một chư hầu nổi loạn, đã mang ra bộ giáp sắt của con voi, và chỉ thị cho người quản tượng mặc vào cho nó, cụ thể là hai thanh kiếm sắc nhọn trên ngà, hai cái móc sắt (lưỡi hái) trên tai, một cây giáo cong trên mỗi chân, một cây chùy sắt (hoặc quả cầu) gắn vào đuôi; và chín binh sĩ được chỉ định đi theo hộ tống. Người quản tượng vui mừng khi thấy con vật được trang bị như vậy, và huấn luyện nó trên hết là phải giữ vòi cuộn chặt, biết rằng một mũi tên xuyên vào giữa vòi chắc chắn sẽ gây tử vong. Nhưng kìa! giữa trận chiến, con voi lại duỗi vòi ra, tìm cách dùng nó để nắm lấy một thanh kiếm. Thấy vậy, người quản tượng kinh hãi, và sau khi hội ý với vua và các đại thần, họ đồng ý rằng con voi không nên được đưa ra chiến trường nữa.” Tiếp lời, Đức Phật nói: “La-hầu-la! Nếu con người phạm chín lỗi lầm mà chỉ giữ gìn miệng lưỡi như con voi này được huấn luyện để giữ vòi của nó, thì mọi việc sẽ tốt đẹp. Hãy đề phòng mũi tên bắn trúng giữa! Hãy giữ gìn miệng lưỡi, kẻo họ chết, và rơi vào khổ đau của những kiếp tái sinh trong ba đường ác!” Và rồi Ngài nói thêm những bài kệ này:—
“Ta như voi chiến, không sợ mũi tên giữa (mũi tên làm bị thương phần giữa). Bằng sự chân thành và chân thật, Ta thoát khỏi kẻ vô nguyên tắc (kẻ vô pháp). Như voi đã được thuần phục và yên tĩnh, cho phép vua cưỡi lên vòi của nó (dâng vòi cho vua leo lên), người đáng kính đã được thuần hóa như vậy, ngài cũng chịu đựng một cách chân thật và trong đức tin.”
La-hầu-la nghe những lời này, tràn đầy hối hận vì sự bất cẩn trong lời nói của mình, và dốc sức tinh tấn trở lại, và nhờ đó trở thành một A-la-hán.
Beal 2 Ngày xưa, khi Đức Phật đang trú ngụ tại Kỳ-viên Tinh xá ở Xá-vệ, thuyết Pháp cho chư thiên và loài người, lúc bấy giờ có một vị quý tộc, một Cư sĩ, tên là A-tỳ-đạt-ma (Hộ-đề-hoàn), sau khi đến nơi Đức Phật đang ở, thực hiện nghi thức đảnh lễ thông thường, rồi đứng sang một bên và thưa: “Thế Tôn! Mỗi khi con thực hiện bất kỳ bổn phận tôn giáo nào, như cúng dường hay các dịch vụ khác, con đều cảm thấy bị quấy rầy và áp bức bởi một cảm giác ích kỷ nào đó, làm mất đi sự an lạc trong tâm trí con. Kính mong Ngài với lòng đại từ bi mà giải thích điều này.” Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo ông ngồi xuống, và lập tức hỏi tên ông, và ông từ đâu đến. Nghe vậy, ông lại phủ phục, nói tên mình, và cho biết rằng vào thời vua trước, ông từng là một người huấn luyện voi. Đức Phật bèn hỏi ông về các quy tắc huấn luyện voi, và những công cụ được sử dụng là gì? Ông đáp: “Có ba thứ chúng con dùng trong công việc này—thứ nhất, một công cụ móc sắt, để giữ miệng và chế ngự nó; thứ hai, một thứ để tước đoạt thức ăn của con vật, và giữ cho nó yếu đi; thứ ba, một cây gậy lớn, để đánh nó. Bằng những phương tiện này, chúng con chế ngự được nó, và thuần phục nó.” Đức Phật lại hỏi: “Và trong ba thứ này, thứ nào hữu ích (hoặc quan trọng) nhất?” Ông đáp: “Cái móc sắt giữ miệng; đây là thứ hiệu quả nhất, vì nhờ kỷ luật này mà con vật được thuần hóa để cho phép Vua cưỡi lên lưng, và được hướng dẫn, điều khiển dễ dàng trong trận chiến.” Đức Phật lại hỏi: “Nếu đây là phương pháp huấn luyện voi được chấp nhận rộng rãi, và liệu có phương pháp nào khác không?” và khi người huấn luyện voi trả lời là không, Đức Phật nói thêm: “Như ông thuần hóa voi, ông cũng có thể thuần hóa chính mình;” và khi ông hỏi thêm về ý nghĩa của điều này, Đức Phật tiếp tục: “Này người huấn luyện voi! Ta cũng có ba điều mà nhờ đó Ta chế ngự tất cả mọi người, và nhờ đó mỗi người có thể chế ngự chính mình, và nhờ đó đạt đến trạng thái vô ngã (vô vi) cao nhất. Và ba điều này là gì? Thứ nhất, bằng sự tự chủ miệng lưỡi, luôn dẫn dắt người ta giữ gìn chân lý; thứ hai, bằng lòng từ bi, để thuyết phục những kẻ cứng đầu và cố chấp; thứ ba, bằng trí tuệ, để tiêu diệt ảnh hưởng của vô minh và nghi ngờ. Bằng ba điều này, Ta chế ngự tất cả mọi người, và giúp họ thoát khỏi con đường hủy diệt, và đạt đến trạng thái không còn sầu khổ và mọi ràng buộc của sự tái sinh và cái chết—hoàn toàn vô ngã và vô vi.” Và rồi Đức Thế Tôn nói thêm những dòng này:—
“Như con voi tên là “U-ts'ai” (Pháp-hộ) khó giữ và khó thuần hóa, khi bị trói không ăn một miếng nào, chỉ mong được tự do; tâm Ta cũng vậy, trong trạng thái tự nhiên, đã lang thang khắp nơi, luôn tìm kiếm một nơi nương tựa, nhưng giờ đây Ta đã chế ngự được nó, và Ta có thể giữ nó, như người quản tượng dùng móc giữ voi. Vui mừng khi có được Lý trí (Bồ-đề), và không để nó thoát khỏi, có thể bất cứ lúc nào cũng giữ và kiểm soát tâm trí, đây là thoát khỏi khổ đau thân thể, như voi thoát khỏi cái hố mà nó đã rơi vào.”
Vị Cư sĩ, nghe những lời này, đã suy tư sâu sắc, và cuối cùng đạt đến trạng thái giác ngộ, trong khi vô số người khác cũng quy y chân lý.
Beal 1In days of old, before Rahula had attained to supreme wisdom, his natural disposition being somewhat low and disorderly, his words were not always marked by love of truth. On one occasion Buddha had ordered him to go to the Kien-tai (Ghanda or Ghanta?) Vihāra, and there remain guarding his mouth (tongue), and governing his thoughts, at the same time diligently studying (or observing) the rules of conduct laid down in the Scriptures. Rahula, having heard the command, made his obeisance and went. For ninety days he remained in deep shame and penitence. At length Buddha repaired to the place, and showed himself; on seeing him, Rahula was filled with joy, and reverently bowed down and worshipped him. After this, Buddha having taken the seat provided for him, he desired Rahula to fill a water-basin with water and bring it to him, and wash his feet. Having done so, and the washing being over, Buddha asked Rahula if the water so used was now fit for any purpose of domestic use (drinking, etc.); and on Rahula replying in the negative, because the water was defiled with dust and dirt, Buddha added: “And such is your case, for although you are my son, and the grandchild of the King, although you have voluntarily given up everything to become a Shaman, nevertheless you are unable to guard your tongue from untruth and the defilement of loose conversation, and so you are like this defiled water—useful for no further purpose.” And again he asked him, after the water had been thrown away, whether the vessel was now fit for holding water for drink; to which Rahula replied, “No,” for the vessel is still defiled, and is known as an unclean thing, and therefore not used for any purpose such as that indicated; to which Buddha again replied, “And such is your case, by not guarding your tongue, etc., you are known and recognised as unfit for any high purpose, although you profess to be a Shaman.” And then once more lifting the empty basin on to his foot, and whirling it round and round, he asked Rahula if he were not afraid lest it should fall and be broken; to which Rahula replied that he had no such fear, for the vessel was but a cheap and common one, and therefore its loss would be a matter of small moment. “And such is your case,” again said Buddha, “for though you are a Shaman, yet being unable to guard your mouth or your tongue, you are destined, as a small and insignificant thing, to be whirled in the endless eddies of transmigration—an object of contempt to all the Wise.” Rahula being filled with shame, Buddha addressed him once more: “Listen, and I will speak to you in a parable. There was in old time the king of a certain country who had a large and very powerful elephant, able to overpower by its own strength five hundred smaller elephants. This king, being about to go to war with some rebellious dependency, brought forth the iron armour belonging to the elephant, and directed the master of the animal to put it on him, to wit, two sharp-pointed swords on his tusks, two iron hooks (scythes) on his ears, a crooked spear on each foot, an iron club (or ball) attached to his tail; and to accompany him were appointed nine soldiers as escort. Then the elephant-master was rejoiced to see the creature thus equipped, and trained him above all things to keep his trunk well coiled up, knowing that an arrow piercing that in the midst must be fatal. But lo! in the middle of the battle the elephant, uncoiling his trunk, sought to seize a sword with it. On which the master was affrighted, and, in consultation with the king and his ministers, it was agreed that he should no more be brought into the battle-field.” In continuation, Buddha said: “Rahula! if men committing the nine faults only guard their tongue as this elephant was trained to guard his trunk, all would be well. Let them guard against the arrow that strikes in the middle! let them keep their mouth, lest they die, and fall into the misery of future births in the three evil paths!” And then he added these stanzas :—
“I am like the fighting elephant, without any fear of the middle arrow (the arrow wounding the middle part). By sincerity and truth I escape the unprincipled man (lawless man). Like the elephant, well subdued and quiet, permits the king to mount on his trunk (offers his trunk for the king to ascend), thus tamed is the reverend man, he also endures truthfully and in faith.”
Rahula, hearing these words, was filled with sorrow for his careless disregard of his words, and gave himself up to renewed exertion, and so became a Rahat.
Beal 2In days of old, when Buddha was residing in the Jetavana of Śrāvastī, preaching his doctrine for the sake of angels and men, at this time there was a certain nobleman, a householder (grihapati), named Atidharma (ho-ti-wan), who, having come to the place where Buddha was, after the customary homage, stood on one side and said: “World-honoured! whenever I undertake any religious duty, such as making an offering or other service, I feel harassed and oppressed by some selfish feeling or other, that destroys my peace of mind. Would that of your great love you would explain this.” Then the Lord bade him sit down, and forthwith asked him his name, and whence he came. On this, again prostrating himself, he told his name, and said that in the time of the former king he had been an elephant-tamer. Buddha then asked him what were the rules for elephant-taming, and what the instruments employed? On this he replied, “There are three things we use in this work—1st, an iron-hooked instrument, for holding the mouth and subduing it; 2d, one for depriving the creature of food, and keeping it low; 3d, a large staff, for the purpose of beating it. By these means we gain the mastery over it, and subdue it.” Again Buddha asked, “And of these three things, which is the most useful (or important)?” to which he replied, “The hooked-iron that holds the mouth; this is the most effective, for by means of this discipline the creature is tamed so as to permit the King to mount on its back, and is guided and directed without difficulty in battle.” Again Buddha asked, “if this was the generally accepted method of taming elephants, and if there was any other?” and on the elephant-tamer replying in the negative, Buddha added, “As you tame the elephant, so you may tame yourself;” and on his inquiring further as to the meaning of this, Buddha continued: “O elephant-tamer! I have also three things by which I subdue all men, and by which each man may subdue himself, and so arrive at the highest condition of unselfishness (wou-wei). And what are these three? 1st, by self-control over the tongue, leading one always to observe the truth; 2d, by love, to persuade the hard and obstinate; 3d, by wisdom, to destroy the influence of ignorance and doubt. By these three I subdue all men, and enable them to escape the path of ruin, and to arrive at a condition free from sorrow and any entanglement of renewed birth and death—perfectly unselfish and indifferent (wou-wei).” And then the World-honoured added these lines:—
“Like the elephant which is called “U-ts'ai" (Dhammapālaka?) is difficult to hold and to tame, and when bound does not eat a morsel, and only longs to be free; so this mind of mine, in its natural state, went wandering at large, and ever seeking a resting-place, but now I have subdued it, and I can hold it, as the master with the hook holds the elephant. To be glad in the possession of Reason (Bōdhi), and not to let it escape, to be able at any time to hold in and control the mind, this is to be saved from bodily suffering, as the elephant escapes from the ditch into which he has fallen.”
The Grihapati, on hearing these words, was led to serious reflection, and eventually attained to a condition of enlightenment, whilst countless others were converted to the truth.