Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Thuở xưa, tại một ngọn núi (tên là Sse-yau-chu-to) thuộc xứ Saketa (Sse-ho-teh), có khoảng 500 vị Bà-la-môn cư trú, tự xưng đã đạt được giải thoát tối hậu (Niết-bàn), nhờ thần thông (irrdhi) của họ. Vào thời điểm ấy, Đức Phật, vừa thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, bắt đầu gióng trống Pháp, mở cửa bất tử, vì những Phạm hạnh giả này mà đến vùng lân cận của họ, và ngồi dưới một gốc cây, hiển lộ vẻ rực rỡ của thân Ngài. Sau khi đàm luận với họ, Ngài đã đọc những câu kệ sau:
“Hãy chặn dòng và vượt qua, không dục vọng như một Bà-la-môn! Hiểu rõ sự tận cùng của mọi tạo tác (hoặc, mọi hành vi), đó mới thật sự được gọi là Phạm hạnh giả. Với (hoặc, nhờ) hai Pháp vô sở hữu, thanh tịnh và không tì vết vượt qua vực thẳm, đoạn trừ mọi ràng buộc của dục vọng, đó mới thật sự là Phạm hạnh giả. Không phải do dòng tộc, hay mái tóc bện mà một người được gọi là Bà-la-môn, mà người nào sống chân thật và ngay thẳng, người ấy mới thật sự được gọi là thiện nhân (Bhadra). Hỡi kẻ ngu si, mái tóc bện có ích gì! Y phục bằng cỏ có lợi gì? Bên trong chưa dứt trừ dục vọng, thì sự từ bỏ tự ngã bên ngoài có ích lợi gì? Hãy loại bỏ tham ái, sân hận, si mê, biếng nhác và mọi hậu quả xấu ác của chúng, như rắn lột bỏ lớp da, đó mới thật sự là Phạm hạnh giả. Hãy tách mình khỏi mọi ràng buộc thế gian—chớ để miệng nói lời bất tịnh—thấu triệt Bát chánh đạo (Ashtānga mārga), đó mới thật sự là Phạm hạnh giả. Đã đoạn trừ mọi tư tưởng về tình cảm gia đình, đã từ bỏ mọi ham muốn về nhà cửa, và mọi ràng buộc của sở thích cá nhân đã được tháo gỡ, đó mới thật sự là Phạm hạnh giả. Người nào đã từ bỏ mọi tư t��ởng về thế giới này hay thế giới kế tiếp, và không đặt niềm tin vào cả hai—người ấy mới thật sự là Phạm hạnh giả. Người nào hiểu rõ tiền kiếp của mình, và đã chấm dứt mọi cơ hội tái sinh hay tử vong trong tương lai, người ấy Ta gọi là Phạm hạnh giả. Người nào hoàn hảo trong trí tuệ, người ấy là Phạm hạnh giả.”
Sau khi nói như vậy, Đức Phật nói với các Phạm hạnh giả bằng những lời này:
“Các ngươi, những kẻ tự xưng đã đạt Niết-bàn, chẳng khác nào cá trong vũng nước cạn! Các ngươi có thể mong đợi niềm vui hay sự mãn nguyện nào?”
Các Phạm hạnh giả sau khi nghe những lời này và suy ngẫm, đã cúi mình đảnh lễ Đức Phật, và sau khi được thâu nhận vào Tăng đoàn của Ngài, chẳng bao lâu đã trở thành A-la-hán. Những thính chúng khác, cũng tràn đầy hoan hỷ, đã có thể nhập vào các Đạo.
T 0604c11昔私訶牒國中有大山,名私休遮他,山中T 0604c12有梵志五百餘人,各達神通,自相謂曰:「吾等T 0604c13所得正是涅槃。」佛始出世初建法鼓開甘露T 0604c14門,此等梵志聞而不就,宿福應度,佛往就之T 0604c15獨行無侶。到其路口坐一樹下,三昧定意放T 0604c16身光明照一山中,狀如失火山中盡燃。梵T 0604c17志怖懼呪水滅之,盡其神力不能使滅,怪而T 0604c18捨走從路出山,遙見世尊樹下坐禪,譬如日T 0604c19出金山之側,相好炳然如月星中。怪是何神T 0604c20就而觀之。佛命令坐,問所從來?梵志對曰:「止T 0604c21此山中修道來久,旦欻火起燒山樹木怖而T 0604c22走出。」佛告梵志:「此是福火不傷損人,欲滅卿T 0604c23等癡結之垢。」梵志師徒顧相謂曰:「是何道士T 0604c24也?九十六種未曾有此。」師曰:「曾聞白淨王T 0604c25子名曰悉達,不樂聖位出家求佛。將無是也?」T 0605a01徒等啟師:「可共問佛,梵志所行事為如法不T 0605a02也?」師徒之等共起白佛:「梵志經法名四無T 0605a03礙,天文地理,王者治國領民之法,并九十六T 0605a04種道術所應行法,此經為是涅槃法不?願佛T 0605a05解說開化未聞。」佛告梵志:「善聽思之。吾從宿T 0605a06命無數劫來常行此經,亦得五通移山住流,T 0605a07更歷生死不可計數,既不得涅槃,亦復不T 0605a08聞有得道者。如汝等行,非名梵志。」
於是世尊T 0605a09以偈報曰:T 0605a10
SC Verse 251Verse 35.1「截流如渡無欲如梵,T 0605a11
知行已盡是謂梵志。T 0605a12
SC Verse 252Verse 35.2以無二法清淨渡淵,T 0605a13
諸欲結解是謂梵志。T 0605a14
SC Verse 253Verse 35.3非蔟結髮名為梵志,T 0605a15
誠行法行清白則賢。T 0605a16
SC Verse 254Verse 35.4飾髮無慧草衣何施?T 0605a17
內不離著外捨何益?T 0605a18
SC Verse 255Verse 35.5去婬怒癡憍慢諸惡,T 0605a19
如蛇脫皮是謂梵志。T 0605a20
SC Verse 256Verse 35.6斷絕世事口無麤言,T 0605a21
八道審諦是謂梵志。T 0605a22
SC Verse 257Verse 35.7已斷恩愛離家無欲,T 0605a23
愛著已盡是謂梵志。T 0605a24
SC Verse 258Verse 35.8離人聚處不墮天聚,T 0605a25
諸聚不歸是為梵志。T 0605a26
SC Verse 259Verse 35.9自識宿命本所更來,T 0605a27
生死得盡叡通道玄,T 0605a28
明如能嘿是謂梵志。」T 0605a29
佛說偈已告諸梵志:「汝等所修自謂已達T 0605b01涅槃,如少水魚豈有長樂?合本無者也。」T 0605b02梵志聞經五情內發喜悅,長跪白佛:「願為弟T 0605b03子。」頭髮自墮即作沙門,本行清淨因而得道T 0605b04為阿羅漢,天龍鬼神皆得道迹。
T 0605b05 In days of old, in a certain mountain (called Sse-yau-chu-to) in the country of Saketa (Sse-ho-teh), there were resident some 500 Brahmans who pretended to have arrived at final release (Nirvāna), in consideration of their miraculous powers (irrdhi). Now at this time Buddha, having just arrived at complete enlightenment, and beginning to sound the drum of the law, and open the doors of immortality, was induced, on account of these Brahmachārins, to come into their neighbourhood, and sitting beneath a tree, to reveal the splendour of his person. After some conversation with them, he repeated these verses:
“Stem the stream and pass over, without desire as a Brahman! Understanding the end of all that is made (or, of all modes of conduct), this is truly named (the life of a) Brahmachārin. In (or, by means of) the two laws of nothingness, pure and spotless passing over the gulf, casting off all the bonds of desire, this is to be a Brahmachārin (indeed). It is not by his clan, or his platted hair, that a man is called a Brahman, but he who walks truthfully and righteously, he is indeed rightly called a good man (Bhadra). What avails the platted hair, O fool! the garment of grass, what good? Within there is no quittance of desire, then what advantage the outward denial of self? Put away lust, hatred, delusion, sloth and all its evil consequences, as the snake puts off its skin, this is to be a Brahmachārin indeed. Separate yourself from all worldly associations—let the mouth speak no foul words—thoroughly investigate the eight paths (Ashtānga mārga), this is to be a Brahmachārin indeed. To have cast off all thoughts of family affection, to have given up all desire after home, and all the bonds of personal preference loosed, this is to be a Brahmachārin indeed. He who has given up all thoughts about this world or the next, and places no reliance on either—this man is a Brahmachārin indeed. He who understands his own previous history, and has come to an end of all future chance of birth or death, him I call a Brahmachārin. He who is perfect in knowledge, is a Brahmachārin.”
Having thus spoken, Buddha addressed the Brahmachārins in these words:
“You who profess to have arrived at Nirvāna, are but as fishes in a pool of shallow water! What pleasure or satisfaction can you expect?”
The Brahmachārins having heard these words and considered them, bowed down before Buddha, and having been admitted into his community, soon became Rahats. The other hearers, also filled with joy, were enabled to enter the Paths.
Thuở xưa, tại một ngọn núi (tên là Sse-yau-chu-to) thuộc xứ Saketa (Sse-ho-teh), có khoảng 500 vị Bà-la-môn cư trú, tự xưng đã đạt được giải thoát tối hậu (Niết-bàn), nhờ thần thông (irrdhi) của họ. Vào thời điểm ấy, Đức Phật, vừa thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, bắt đầu gióng trống Pháp, mở cửa bất tử, vì những Phạm hạnh giả này mà đến vùng lân cận của họ, và ngồi dưới một gốc cây, hiển lộ vẻ rực rỡ của thân Ngài. Sau khi đàm luận với họ, Ngài đã đọc những câu kệ sau:
“Hãy chặn dòng và vượt qua, không dục vọng như một Bà-la-môn! Hiểu rõ sự tận cùng của mọi tạo tác (hoặc, mọi hành vi), đó mới thật sự được gọi là Phạm hạnh giả. Với (hoặc, nhờ) hai Pháp vô sở hữu, thanh tịnh và không tì vết vượt qua vực thẳm, đoạn trừ mọi ràng buộc của dục vọng, đó mới thật sự là Phạm hạnh giả. Không phải do dòng tộc, hay mái tóc bện mà một người được gọi là Bà-la-môn, mà người nào sống chân thật và ngay thẳng, người ấy mới thật sự được gọi là thiện nhân (Bhadra). Hỡi kẻ ngu si, mái tóc bện có ích gì! Y phục bằng cỏ có lợi gì? Bên trong chưa dứt trừ dục vọng, thì sự từ bỏ tự ngã bên ngoài có ích lợi gì? Hãy loại bỏ tham ái, sân hận, si mê, biếng nhác và mọi hậu quả xấu ác của chúng, như rắn lột bỏ lớp da, đó mới thật sự là Phạm hạnh giả. Hãy tách mình khỏi mọi ràng buộc thế gian—chớ để miệng nói lời bất tịnh—thấu triệt Bát chánh đạo (Ashtānga mārga), đó mới thật sự là Phạm hạnh giả. Đã đoạn trừ mọi tư tưởng về tình cảm gia đình, đã từ bỏ mọi ham muốn về nhà cửa, và mọi ràng buộc của sở thích cá nhân đã được tháo gỡ, đó mới thật sự là Phạm hạnh giả. Người nào đã từ bỏ mọi tư t��ởng về thế giới này hay thế giới kế tiếp, và không đặt niềm tin vào cả hai—người ấy mới thật sự là Phạm hạnh giả. Người nào hiểu rõ tiền kiếp của mình, và đã chấm dứt mọi cơ hội tái sinh hay tử vong trong tương lai, người ấy Ta gọi là Phạm hạnh giả. Người nào hoàn hảo trong trí tuệ, người ấy là Phạm hạnh giả.”
Sau khi nói như vậy, Đức Phật nói với các Phạm hạnh giả bằng những lời này:
“Các ngươi, những kẻ tự xưng đã đạt Niết-bàn, chẳng khác nào cá trong vũng nước cạn! Các ngươi có thể mong đợi niềm vui hay sự mãn nguyện nào?”
Các Phạm hạnh giả sau khi nghe những lời này và suy ngẫm, đã cúi mình đảnh lễ Đức Phật, và sau khi được thâu nhận vào Tăng đoàn của Ngài, chẳng bao lâu đã trở thành A-la-hán. Những thính chúng khác, cũng tràn đầy hoan hỷ, đã có thể nhập vào các Đạo.
In days of old, in a certain mountain (called Sse-yau-chu-to) in the country of Saketa (Sse-ho-teh), there were resident some 500 Brahmans who pretended to have arrived at final release (Nirvāna), in consideration of their miraculous powers (irrdhi). Now at this time Buddha, having just arrived at complete enlightenment, and beginning to sound the drum of the law, and open the doors of immortality, was induced, on account of these Brahmachārins, to come into their neighbourhood, and sitting beneath a tree, to reveal the splendour of his person. After some conversation with them, he repeated these verses:
“Stem the stream and pass over, without desire as a Brahman! Understanding the end of all that is made (or, of all modes of conduct), this is truly named (the life of a) Brahmachārin. In (or, by means of) the two laws of nothingness, pure and spotless passing over the gulf, casting off all the bonds of desire, this is to be a Brahmachārin (indeed). It is not by his clan, or his platted hair, that a man is called a Brahman, but he who walks truthfully and righteously, he is indeed rightly called a good man (Bhadra). What avails the platted hair, O fool! the garment of grass, what good? Within there is no quittance of desire, then what advantage the outward denial of self? Put away lust, hatred, delusion, sloth and all its evil consequences, as the snake puts off its skin, this is to be a Brahmachārin indeed. Separate yourself from all worldly associations—let the mouth speak no foul words—thoroughly investigate the eight paths (Ashtānga mārga), this is to be a Brahmachārin indeed. To have cast off all thoughts of family affection, to have given up all desire after home, and all the bonds of personal preference loosed, this is to be a Brahmachārin indeed. He who has given up all thoughts about this world or the next, and places no reliance on either—this man is a Brahmachārin indeed. He who understands his own previous history, and has come to an end of all future chance of birth or death, him I call a Brahmachārin. He who is perfect in knowledge, is a Brahmachārin.”
Having thus spoken, Buddha addressed the Brahmachārins in these words:
“You who profess to have arrived at Nirvāna, are but as fishes in a pool of shallow water! What pleasure or satisfaction can you expect?”
The Brahmachārins having heard these words and considered them, bowed down before Buddha, and having been admitted into his community, soon became Rahats. The other hearers, also filled with joy, were enabled to enter the Paths.