Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Beal 1Thuở xưa, khi Đức Phật trú tại núi Linh Thứu (Gridhrakūta), gần thành Vương Xá (Rājagriha), bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), cùng với vua A-xà-thế (Ajātaśatru Rāja), đã bày mưu hãm hại Đức Đạo Sư và các đệ tử của Ngài. Kế hoạch là:— Vua sẽ cấm dân chúng trong thành không được cúng dường bất cứ thứ gì cho Tăng đoàn, và như vậy, khi các vị Tỳ-kheo thấy việc khất thực qua các đường phố không hiệu quả, thì vua sẽ mời tất cả đến dự tiệc tại cung điện. Trong khi đó, Đề-bà-đạt-đa, sau khi chuốc say 500 con voi, sẽ thả chúng xông vào Đức Đạo Sư và các đệ tử của Ngài, để tiêu diệt tất c���. Theo đó, lời mời đã được đưa ra và Đức Phật đã chấp nhận, và vào sáng hôm sau, chư vị đã vào thành như đã định. Khi đó, những con voi đã được thả ra, với vòi giương cao, gầm thét xông vào đám đông. 500 vị A-la-hán (Rahats) đi theo Đức Phật đã bay lên không trung, nhưng Đức Phật, với Tôn giả A-nan (Ānanda) bên cạnh, đã chế ngự cơn thịnh nộ của những con thú. Chúng liền đến cúi đầu và đi trước Đức Đạo Sư một cách hoàn toàn thuần phục. Khi đó, Đức Phật, giơ năm ngón tay lên, khiến năm con sư tử xuất hiện, chúng gầm lên, trong khi đất rung chuyển, và những con voi sợ hãi nằm rạp xuống đất. Sau đó, Đức Phật và các đệ tử của Ngài tiến đến cung điện của vua, và sau khi nghe lời thú tội của vua, Đức Phật đã nói những bài kệ này:—
“Trong số loài người, từ xưa đến nay, không ai là không bị chê trách. Họ chê trách người nói nhiều, họ chê trách người kiên nhẫn và trầm lặng; họ cũng chê trách người tìm kiếm sự trung dung; thế gian luôn có sự chê trách. Những kẻ muốn tìm lỗi của người công chính (thánh thiện) không bao giờ có thể phân biệt một cách công bằng (đi theo con đường trung đạo); họ chê trách hoàn toàn hoặc ca ngợi hoàn toàn, nhưng tất cả đều xuất phát từ ý niệm sai lầm về lợi lộc hoặc danh tiếng. Nhưng người mà bậc giác ngộ và hiền trí ca ngợi, người mà họ xem là chính trực và lương thiện, một người có trí tuệ chân thật và cuộc sống vô tội, không có bất kỳ lý do nào để bị chỉ trích, thanh tịnh như một vị A-la-hán (Rahat), thì không có lỗi lầm nào cho người ấy—một người như vậy ngay cả chư thiên cũng phải ngưỡng mộ, thậm chí Phạm Thiên (Brahma) và Đế Thích (Śakra) cũng phải ca ngợi người ấy.”
Sau khi kết thúc những bài kệ này, Đức Thế Tôn (World-honoured One) đã kể câu chuyện ngụ ngôn sau:—"Thuở xưa, có một vị vua rất yêu thích thịt ngỗng trời làm món ăn hàng ngày. Do đó, nhà vua thường nuôi một người thợ săn (hoặc người bẫy chim) chuyên để bẫy những con chim này, và cung cấp thịt cho bàn ăn hoàng gia. Một ngày nọ, người thợ săn ra ngoài với mục đích này, một đàn ngỗng, gồm 500 con, với vua của chúng dẫn đầu, đã hạ cánh tìm thức ăn ngay nơi đặt bẫy. Kết quả là vua của loài chim bị mắc bẫy, và mắc kẹt trong lưới. Sau đó, những con còn lại, trong sự hoảng loạn, bay vòng quanh nơi đó, nhưng không chịu rời đi. Đặc biệt có một con ngỗng cứ bay sát bên lưới, và, không nao núng trước những mũi tên của người thợ săn, cứ kêu lên những tiếng thảm thiết, trong khi những giọt máu (từ vết thương của nó) cứ rơi xuống đất, và cứ thế từ sáng đến tối nó vẫn tiếp tục hành động. Sau đó, người thợ săn, động lòng trắc ẩn, đã thả vua của loài chim, và vui mừng bay đi nhập đàn. Khi kể lại chuyện này cho vua, nhà vua rất tán thành việc người thợ săn đã làm khi thả con chim. Bấy giờ, Đức Phật nói, Ta chính là vua của đàn ngỗng trời, Tôn giả A-nan (Ānanda) là con chim trung thành không rời bỏ Ta, còn Ngài, hỡi Đại vương! chính là vua của đất nước, và người thợ săn là Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), kẻ luôn tìm cách hãm hại Ta (nhưng trong dịp này, Ta không từ chối dành cho hắn một phần lời khen ngợi về hành vi nhân đạo của hắn) [ít nhất thì đây dường như là đạo lý của câu chuyện].”
T 0596a05昔佛在羅閱祇耆闍崛山中。時調達與阿闍T 0596a06貰王共議毀佛及諸弟子,王勅國人不得奉T 0596a07佛,眾僧分衛不得施與。時舍利弗、目連、迦T 0596a08葉、須菩提等,及波和提比丘尼等,各將弟子T 0596a09去到他國,唯佛與五百羅漢住崛山中。調達T 0596a10往至阿闍貰所與王議言:「佛諸弟子今已T 0596a11迸散,尚有五百弟子在佛左右。願王明日請T 0596a12佛入城,吾當飲五百大象令醉,佛來入城驅T 0596a13使醉象令蹹殺之盡斷其種,吾當作佛教化T 0596a14世間。」阿闍貰王聞之歡喜,即到佛所稽首作T 0596a15禮,白佛言:「明日設薄施,願屈世尊及諸弟子T 0596a16於宮內食。」佛知其謀,答言:「大善!明旦當往。」王T 0596a17退而去,還語調達:「佛已受請,當念前計,飲T 0596a18象令醉伺候待之。」明日食時,佛與五百羅漢T 0596a19共入城門,五百醉象鳴鼻而前,搪揬牆壁樹T 0596a20木摧折,行人驚怖一城戰慄。五百羅漢飛在T 0596a21空中,獨有阿難在佛邊住,醉象齊頭徑前趣T 0596a22佛,佛因舉手,五指應時化為五百師子王,T 0596a23同聲俱吼震動天地,於是醉象屈膝伏地不T 0596a24敢舉頭,酒醉尋解垂淚悔過。王及臣民莫不T 0596a25驚肅。世尊徐前至王殿上,與諸羅漢食訖T 0596a26呪願。王白佛言:「稟性不明信彼讒言,興造逆T 0596a27惡圖為不軌,願垂大慈恕我迷愚。」於是世尊T 0596a28告阿闍貰及諸大眾:「世有八事興長誹謗,皆T 0596a29由名譽,又貪利養,以致大罪累劫不息。何等T 0596b01為八?利、衰、毀、譽、稱、譏、苦、樂。自古至今尠不為T 0596b02惑。」
於是世尊即說偈言:T 0596b03
SC Verse 175Verse 25.1「人相謗毀, 自古至今,
既毀多言,T 0596b04 又毀訥忍,
SC Verse 176Verse 25.2亦毀中和, 世無不毀,T 0596b05
欲意非聖, 不能折中,
一毀一譽,T 0596b06 但為名利。
SC Verse 177Verse 25.3明智所譽, 唯稱正賢,T 0596b07
慧人守戒, 無所譏謗。
SC Verse 178Verse 25.4如羅漢淨,T 0596b08 莫而誣謗,
諸天咨嗟, 梵釋所敬。」T 0596b09
佛說偈已重告王曰:「昔有國王,喜食鴈肉,T 0596b10常遣獵師張網捕鴈,日送一鴈以供王食。時T 0596b11有鴈王,將五百鴈飛下求食,鴈王墮網為獵T 0596b12師所得,餘鴈驚飛徘徊不去。時有一鴈連翻T 0596b13追隨不避弓矢,悲鳴吐血晝夜不息。獵師見T 0596b14之感憐其義,即放鴈王令相隨去,群鴈得王T 0596b15歡喜迴繞。爾時獵師具以聞王,王感其義斷T 0596b16不捕鴈。」佛告阿闍貰王:「爾時鴈王者,我身T 0596b17是也;一鴈者,阿難是也;五百群鴈,今五百T 0596b18羅漢是也;食鴈國王者,今大王是也;時獵T 0596b19師者,今調達是也。前世已來恒欲害我,T 0596b20我以大慈之力因而得濟,不念怨惡自致得T 0596b21佛。」
佛說是時,王及群臣莫不開解。
T 0596b22 Beal 1In days of old, when Buddha was residing in the Gridhrakūta Mount, near Rājagriha, then Devadatta, in concert with Ajātaśatru Rāja, contrived a plan for the destruction of the Teacher and his followers. The plan was this:— That the King should prohibit the people of the town from giving anything in charity to the community, and so, when they had found their begging excursion through the streets ineffective, that then the King should ask them all to an entertainment at the palace. Meantime Devadatta, having intoxicated 500 elephants, was to let them loose on the Teacher and his followers, and so destroy them all. Accordingly, the invitation was given and accepted by Buddha, and so on the morrow they entered the city as agreed upon. On this the elephants, having been let loose, with upraised trunks, came bellowing down on the crowd, on which the 500 Rahats who followed Buddha rose into the air (and flew away), but Buddha, with Ānanda by his side, checked the fury of the beasts, who now came and bowed down, and went before the Teacher perfectly subdued. On this Buddha, raising the five fingers of his hand, caused the appearance of five lions, who uttered their roar, whilst the earth shook, and the elephants lay down affrighted on the ground. Hereupon Buddha and his followers proceeded to the King's palace, and after listening to the confession of the King, Buddha uttered these stanzas :—
“Amongst men there is no one who is not blamed, from old time till now. Since they blame the man of many words, they blame the patient and quiet man; they also blame the man who seeks the happy medium; there is always blame in the world. Those who desire to find fault with the righteous (holy) man are never able to discriminate with impartiality (take a middle course); they blame him entirely or they praise him entirely, but it is all done from some false idea of profit or fame. But he whom the enlightened and wise praise, and whom they consider and call upright and good, a man of true wisdom and innocent life, without any ground for censure in himself, as a Rahat for purity, there is no blame for him—such an one the gods themselves must admire, even Brahma and Śakra must praise such an one.”
Having concluded these stanzas, the World-honoured One related this anecdote:—"There was in days gone by a certain King, who loved above all things the flesh of the wild goose for his daily food. Consequently he used to keep a hunter (or fowler) for the express purpose of snaring these birds, and providing flesh for the royal table. One day the fowler having gone out for this purpose, there came a flock of geese, 500 in number, with their king at their head, and alighted in search of food just where the snares were set. In consequence the king of the birds was trapped, and remained entangled in the toils. Then the rest, in consternation, flew round and round the place, but would not leave it. One of the geese in particular kept flying close by the net, and, undaunted by the arrows of the fowler, kept uttering piteous cries, whilst the drops of blood (from her wounds) kept falling on the ground, and so from morn till eve she continued to act. Then the fowler, moved with compassion, liberated the king of the birds, and joyfully he flew away to rejoin the flock. On relating this to the King, he highly approved of what he had done in liberating the bird. Now at that time, Buddha said, I was the king of the wild geese, Ānanda was the faithful bird that would not leave me, you, O King! were the King of the country, and the huntsman was Devadatta, who has ever sought to do me harm (but on this occasion I do not withhold from him some portion of praise for his humane conduct) [such at least appears to be the moral of the story].”
Beal 1Thuở xưa, khi Đức Phật trú tại núi Linh Thứu (Gridhrakūta), gần thành Vương Xá (Rājagriha), bấy giờ, Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), cùng với vua A-xà-thế (Ajātaśatru Rāja), đã bày mưu hãm hại Đức Đạo Sư và các đệ tử của Ngài. Kế hoạch là:— Vua sẽ cấm dân chúng trong thành không được cúng dường bất cứ thứ gì cho Tăng đoàn, và như vậy, khi các vị Tỳ-kheo thấy việc khất thực qua các đường phố không hiệu quả, thì vua sẽ mời tất cả đến dự tiệc tại cung điện. Trong khi đó, Đề-bà-đạt-đa, sau khi chuốc say 500 con voi, sẽ thả chúng xông vào Đức Đạo Sư và các đệ tử của Ngài, để tiêu diệt tất c���. Theo đó, lời mời đã được đưa ra và Đức Phật đã chấp nhận, và vào sáng hôm sau, chư vị đã vào thành như đã định. Khi đó, những con voi đã được thả ra, với vòi giương cao, gầm thét xông vào đám đông. 500 vị A-la-hán (Rahats) đi theo Đức Phật đã bay lên không trung, nhưng Đức Phật, với Tôn giả A-nan (Ānanda) bên cạnh, đã chế ngự cơn thịnh nộ của những con thú. Chúng liền đến cúi đầu và đi trước Đức Đạo Sư một cách hoàn toàn thuần phục. Khi đó, Đức Phật, giơ năm ngón tay lên, khiến năm con sư tử xuất hiện, chúng gầm lên, trong khi đất rung chuyển, và những con voi sợ hãi nằm rạp xuống đất. Sau đó, Đức Phật và các đệ tử của Ngài tiến đến cung điện của vua, và sau khi nghe lời thú tội của vua, Đức Phật đã nói những bài kệ này:—
“Trong số loài người, từ xưa đến nay, không ai là không bị chê trách. Họ chê trách người nói nhiều, họ chê trách người kiên nhẫn và trầm lặng; họ cũng chê trách người tìm kiếm sự trung dung; thế gian luôn có sự chê trách. Những kẻ muốn tìm lỗi của người công chính (thánh thiện) không bao giờ có thể phân biệt một cách công bằng (đi theo con đường trung đạo); họ chê trách hoàn toàn hoặc ca ngợi hoàn toàn, nhưng tất cả đều xuất phát từ ý niệm sai lầm về lợi lộc hoặc danh tiếng. Nhưng người mà bậc giác ngộ và hiền trí ca ngợi, người mà họ xem là chính trực và lương thiện, một người có trí tuệ chân thật và cuộc sống vô tội, không có bất kỳ lý do nào để bị chỉ trích, thanh tịnh như một vị A-la-hán (Rahat), thì không có lỗi lầm nào cho người ấy—một người như vậy ngay cả chư thiên cũng phải ngưỡng mộ, thậm chí Phạm Thiên (Brahma) và Đế Thích (Śakra) cũng phải ca ngợi người ấy.”
Sau khi kết thúc những bài kệ này, Đức Thế Tôn (World-honoured One) đã kể câu chuyện ngụ ngôn sau:—"Thuở xưa, có một vị vua rất yêu thích thịt ngỗng trời làm món ăn hàng ngày. Do đó, nhà vua thường nuôi một người thợ săn (hoặc người bẫy chim) chuyên để bẫy những con chim này, và cung cấp thịt cho bàn ăn hoàng gia. Một ngày nọ, người thợ săn ra ngoài với mục đích này, một đàn ngỗng, gồm 500 con, với vua của chúng dẫn đầu, đã hạ cánh tìm thức ăn ngay nơi đặt bẫy. Kết quả là vua của loài chim bị mắc bẫy, và mắc kẹt trong lưới. Sau đó, những con còn lại, trong sự hoảng loạn, bay vòng quanh nơi đó, nhưng không chịu rời đi. Đặc biệt có một con ngỗng cứ bay sát bên lưới, và, không nao núng trước những mũi tên của người thợ săn, cứ kêu lên những tiếng thảm thiết, trong khi những giọt máu (từ vết thương của nó) cứ rơi xuống đất, và cứ thế từ sáng đến tối nó vẫn tiếp tục hành động. Sau đó, người thợ săn, động lòng trắc ẩn, đã thả vua của loài chim, và vui mừng bay đi nhập đàn. Khi kể lại chuyện này cho vua, nhà vua rất tán thành việc người thợ săn đã làm khi thả con chim. Bấy giờ, Đức Phật nói, Ta chính là vua của đàn ngỗng trời, Tôn giả A-nan (Ānanda) là con chim trung thành không rời bỏ Ta, còn Ngài, hỡi Đại vương! chính là vua của đất nước, và người thợ săn là Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), kẻ luôn tìm cách hãm hại Ta (nhưng trong dịp này, Ta không từ chối dành cho hắn một phần lời khen ngợi về hành vi nhân đạo của hắn) [ít nhất thì đây dường như là đạo lý của câu chuyện].”
Beal 1In days of old, when Buddha was residing in the Gridhrakūta Mount, near Rājagriha, then Devadatta, in concert with Ajātaśatru Rāja, contrived a plan for the destruction of the Teacher and his followers. The plan was this:— That the King should prohibit the people of the town from giving anything in charity to the community, and so, when they had found their begging excursion through the streets ineffective, that then the King should ask them all to an entertainment at the palace. Meantime Devadatta, having intoxicated 500 elephants, was to let them loose on the Teacher and his followers, and so destroy them all. Accordingly, the invitation was given and accepted by Buddha, and so on the morrow they entered the city as agreed upon. On this the elephants, having been let loose, with upraised trunks, came bellowing down on the crowd, on which the 500 Rahats who followed Buddha rose into the air (and flew away), but Buddha, with Ānanda by his side, checked the fury of the beasts, who now came and bowed down, and went before the Teacher perfectly subdued. On this Buddha, raising the five fingers of his hand, caused the appearance of five lions, who uttered their roar, whilst the earth shook, and the elephants lay down affrighted on the ground. Hereupon Buddha and his followers proceeded to the King's palace, and after listening to the confession of the King, Buddha uttered these stanzas :—
“Amongst men there is no one who is not blamed, from old time till now. Since they blame the man of many words, they blame the patient and quiet man; they also blame the man who seeks the happy medium; there is always blame in the world. Those who desire to find fault with the righteous (holy) man are never able to discriminate with impartiality (take a middle course); they blame him entirely or they praise him entirely, but it is all done from some false idea of profit or fame. But he whom the enlightened and wise praise, and whom they consider and call upright and good, a man of true wisdom and innocent life, without any ground for censure in himself, as a Rahat for purity, there is no blame for him—such an one the gods themselves must admire, even Brahma and Śakra must praise such an one.”
Having concluded these stanzas, the World-honoured One related this anecdote:—"There was in days gone by a certain King, who loved above all things the flesh of the wild goose for his daily food. Consequently he used to keep a hunter (or fowler) for the express purpose of snaring these birds, and providing flesh for the royal table. One day the fowler having gone out for this purpose, there came a flock of geese, 500 in number, with their king at their head, and alighted in search of food just where the snares were set. In consequence the king of the birds was trapped, and remained entangled in the toils. Then the rest, in consternation, flew round and round the place, but would not leave it. One of the geese in particular kept flying close by the net, and, undaunted by the arrows of the fowler, kept uttering piteous cries, whilst the drops of blood (from her wounds) kept falling on the ground, and so from morn till eve she continued to act. Then the fowler, moved with compassion, liberated the king of the birds, and joyfully he flew away to rejoin the flock. On relating this to the King, he highly approved of what he had done in liberating the bird. Now at that time, Buddha said, I was the king of the wild geese, Ānanda was the faithful bird that would not leave me, you, O King! were the King of the country, and the huntsman was Devadatta, who has ever sought to do me harm (but on this occasion I do not withhold from him some portion of praise for his humane conduct) [such at least appears to be the moral of the story].”