Nội dung dưới đây được dịch tự động. Có thể chưa hoàn toàn chính xác về thuật ngữ Phật học. Vui lòng tham chiếu bản gốc tiếng Anh hoặc Pāli để đối chiếu.
Beal 1Thuở xưa, có một vị Bà-la-môn rất già, tên là Sa-che (Sacha hay Satya) Ni-kiền-tử, nổi tiếng về tài biện luận sắc sảo. Ông có 500 đệ tử, và tất cả họ đều tự phụ về học vấn siêu việt của mình đến nỗi họ thường mặc áo giáp sắt, e rằng trí tuệ của họ sẽ tràn ra ngoài mà lãng phí. Khi Sa-che nghe tin Đức Phật đã xuất hiện trên đời, và đang hóa độ chúng sinh bằng trí tuệ siêu việt của Ngài, ông liền tràn đầy lòng đố kỵ, đêm ngày không yên vì ghen ghét. Vì vậy, ông nói với các đệ tử của mình: “Ta nghe nói Sa-môn Cồ-đàm tự xưng là một vị Phật. Ta sẽ đi hỏi Ngài v��i câu, và khiến Ngài phải hổ thẹn khi Ngài không thể trả lời được chúng.”
Theo đó, ông cùng các đệ tử của mình đến Tịnh xá Kỳ-viên. Khi họ đứng bên ngoài, nhìn thấy hào quang thân tướng Đức Phật, rực rỡ như mặt trời mới mọc, họ bị cảm xúc choáng ngợp, tâm trí bối rối. Rồi họ bước qua cửa, đến trước Đức Phật và đảnh lễ Ngài. Đức Phật thỉnh họ an tọa. Sau khi an tọa, Ni-kiền-tử hỏi Đức Phật như sau:— “Ai là người công chính? Ai là người học rộng? Ai là người đáng kính? Thế nào là vẻ đẹp và sự duyên dáng chân thật? Thế nào là một Sa-môn? Ai là một Tỳ-kheo chân chính? Và ai là người thực sự giác ngộ? Và ai là người biết vâng lời (người cung kính tuân thủ các quy tắc đạo đức)? Nếu Ngài có thể, xin vui lòng trả lời những câu hỏi này vì lợi ích của các đệ tử của tôi.”
Trên đây, Đức Thế Tôn, thấu rõ mọi sự tình, đáp bằng những bài kệ sau:—
“Người luôn khao khát học hỏi, sống ngay thẳng, suy tư và quán chiếu bản chất của trí tuệ quý báu, người ấy được gọi là người Công chính (tức là người ngay thẳng; ngư��i đã đạt Đạo, hay Bồ-đề). Và ai là người có Trí tuệ? Người không chấp vào những phân biệt tinh vi của lời nói—không sợ hãi, không lo lắng, kiên định với lẽ phải—người ấy là người có Trí tuệ. Và ai là người đáng kính (trưởng lão)? Không phải người đã già cả (sáu mươi tuổi)—thân hình còng xuống, tóc bạc phơ—vì dù vậy, người ấy có thể chỉ là một kẻ ngu si. Mà là người suy tư và tìm hiểu về Pháp (Dharma), điều hòa và kiềm chế hành vi của mình, đầy lòng từ ái và đức hạnh, có khả năng thấu hiểu những bí mật ẩn tàng, và thanh tịnh—người ấy mới thật sự được gọi là ‘Đáng kính’. Và ai là người duyên dáng và hoàn hảo? Không phải người có vẻ đẹp hình tướng như hoa (làm say đắm lòng người); không phải người tham lam và khao khát những phù phiếm hão huyền của sự trang sức cá nhân; không phải người lời nói và hành vi trái ngược nhau; mà là người có thể từ bỏ mọi nẻo ác, đã nhổ bỏ chúng tận gốc rễ, người đã giác ngộ mà không còn chút tàn dư hận thù—người ấy mới thật sự duyên dáng và ngay thẳng (hay đáng kính, tức là đáng ngưỡng mộ trong hành vi). Và ai là Sa-môn? Không phải người bị cạo đầu miễn cưỡng, nói lời không thật, tham lam tài sản, hay là nô lệ của dục vọng như những người khác; mà là người có thể chấm dứt (an định) mọi dục vọng bất thiện, dứt bỏ mọi chấp trước cá nhân, làm cho tâm trí an tịnh, và chấm dứt mọi vọng tưởng—người ấy được gọi là Sa-môn. Và ai được gọi là Tỳ-kheo? Không phải người vào những thời điểm nhất định đi khất thực; không phải người sống bất chính (tà kiến), nhưng hy vọng được xem là đệ tử, mong muốn tạo dựng danh tiếng (như một người tu hành), và chỉ có thế; mà là người từ bỏ mọi nhân (nghiệp) của tội lỗi, sống phạm hạnh và thanh tịnh, người bằng trí tuệ có thể nghiền nát mọi khuynh hướng bất thiện—người ấy là một Tỳ-kheo chân chính. Và ai là người thực sự giác ngộ (hay bậc trí giả)? Không phải người chỉ im lặng, trong khi tâm trí bận rộn với những tạp niệm bất tịnh—chỉ đơn thuần tuân theo quy tắc bên ngoài và chỉ có thế; mà là người có tâm không chấp trước (vô tư), đời sống nội tâm thanh tịnh và trống rỗng (không chấp trước), hoàn toàn bất động và không còn chấp trước vào điều này hay điều kia (người hay vật)—người ấy được gọi là bậc giác ngộ nội tâm (Muni?). Và ai là người đạt Bồ-đề (một bậc Thánh hay ‘người được chọn’)? Không phải người cứu mạng muôn loài, mà là người tràn đầy lòng từ bi phổ quát, không có ác ý trong tâm—người ấy là người đạt Bồ-đề. Và người giữ Pháp không phải là người nói nhiều, mà là người giữ thân mình tuân phục Pháp (Giáo Pháp), dù người ấy là một người chất phác, ít học, luôn gìn giữ con đường (chân lý) mà không hề quên lãng—người ấy là người giữ Pháp (tức là Dhammaṭṭho).”
Nghe những lời này, Sa-che Ni-kiền-tử và 500 đệ tử của ông đều tràn đầy niềm hoan hỷ, và trở thành đệ tử của Đức Phật (Sa-môn). Ni-kiền-tử đạt đến trạng thái (tâm) của một vị Bồ-tát, những người khác trở thành A-la-hán.
Beal 1There was once a very old Brahman, called Sa-che (Sacha or Satya) Nirgrantha, celebrated for his acuteness in discussion. He had 500 disciples, and all of them were so self-opinionated with regard to their superior learning that they used to clothe themselves with iron plates, lest their wisdom should overflow and run to waste (sic.). Now when Sacha heard that Buddha had come into the world, and was converting men by his superior wisdom, he was filled with jealousy, and could not rest at night from very envy, and therefore, addressing his disciples, he said, “I hear that the Shaman Gotama professes to be a Buddha. I will go and ask him a few questions, and make him blush for shame when he finds he cannot answer them.” Accordingly, he with his followers went to the Jetavana (Vihāra), and as they stood without seeing the glory of Buddha's person, like the sun when he first comes forth in his strength, they were overpowered and confused by their feelings, and so passing through the door they came before Buddha, and did him reverence. On this Buddha requested them to be seated. Being so seated, the Nirgrantha asked Buddha as follows:— “Who is the just man? Who is the learned man? Who is the reverend man? What is true beauty and grace? What is a Shaman? Who is a true Bhikshu? and who is the truly enlightened? and who the obedient man (who respectfully observes the rules of moral conduct)? If you are able, be pleased to answer these questions for the sake of my followers.”
On this the World-honoured, perceiving exactly how the case lay, answered in these stanzas:—
“The man who is always anxious and desirous to learn, who walks uprightly, who ponders on and considers the character of precious wisdom, this man is called Just (i.e., Righteous; one who has attained the way, or Bōdhi). And who is the man of Knowledge? He who depends not on any fine distinction of words—who is free from fear and from apprehension, who stands by what is right—he is the man of Knowledge. And who is the Reverend man (aged)? Not he who has come to old age (sexegenarian)—his form bent, his hair white—for with all that he may be but a fool. But he who ponders on and inquires into the Law (the Dharma), who regulates and restrains his conduct, (is full of) love and virtue, who is able to penetrate into hidden secrets, and is pure—this man is rightly called 'Reverend.' And who is the graceful and perfect man? Not he who possesses beauty of form like the flowers (that charm us); not he who covets and longs for the empty vanities of personal adornment; not he whose words and conduct are opposed to one another; but he who is able to give up every vicious way, who has got rid of it from the very root, who is enlightened without a remnant of hatred—this man is truly graceful and upright (or respectable, i.e., admirable in conduct). And who is the Shaman? Not he who is shaven perforce, who speaks untruth, and covets possession, or who is a slave of desire like the rest of men; but he who is able to put an end to (to compose) every wicked (desire), to silence every personal preference, to quiet his mind, and put an end to thought—this man is called a Shaman. And who is called a Bhikshu? Not he who at stated times begs his food; not he who walks unrighteously (heretically), but hopes to be considered a disciple, desiring to establish a character (as a religious person), and that is all; but he who gives up every cause (karma) of guilt, and who lives continently and purely, who by wisdom is able to crush every evil (inclination)—this man is a true Bhikshu. And who is the truly enlightened (or the wise man)? Not he who is simply mute, whilst the busy work of his mind is impure—merely accommodating himself to the outer rule and that is all; but he whose heart is without preference (indifferent), whose inward life is pure and spiritual (empty), perfectly unmoved and dead to this or that (person or thing)—this man is called an inwardly enlightened man (Muni?) And who is a man of Bōdhi (an Ariya or 'elected one')? Not he who saves the life of all things, but he who is filled with universal benevolence, who has no malice in his heart—he is a man of Bōdhi. And the man who observes the Law is not he who talks much, but one who keeps his body (himself) in subjection to the Law (Religion), although he be a plain, untaught man, always guarding the way (of truth) without any forgetfulness—this man is an observer of the Law (i.e., Dhammaṭṭho).”
On hearing these words, Sacha Nirgrantha and his 500 followers were all filled with joy, and became followers of Buddha (Shamans). The Nirgrantha arrived at the condition (heart) of a Bōdhisatwa, the others became Rahats.
Beal 1Thuở xưa, có một vị Bà-la-môn rất già, tên là Sa-che (Sacha hay Satya) Ni-kiền-tử, nổi tiếng về tài biện luận sắc sảo. Ông có 500 đệ tử, và tất cả họ đều tự phụ về học vấn siêu việt của mình đến nỗi họ thường mặc áo giáp sắt, e rằng trí tuệ của họ sẽ tràn ra ngoài mà lãng phí. Khi Sa-che nghe tin Đức Phật đã xuất hiện trên đời, và đang hóa độ chúng sinh bằng trí tuệ siêu việt của Ngài, ông liền tràn đầy lòng đố kỵ, đêm ngày không yên vì ghen ghét. Vì vậy, ông nói với các đệ tử của mình: “Ta nghe nói Sa-môn Cồ-đàm tự xưng là một vị Phật. Ta sẽ đi hỏi Ngài v��i câu, và khiến Ngài phải hổ thẹn khi Ngài không thể trả lời được chúng.”
Theo đó, ông cùng các đệ tử của mình đến Tịnh xá Kỳ-viên. Khi họ đứng bên ngoài, nhìn thấy hào quang thân tướng Đức Phật, rực rỡ như mặt trời mới mọc, họ bị cảm xúc choáng ngợp, tâm trí bối rối. Rồi họ bước qua cửa, đến trước Đức Phật và đảnh lễ Ngài. Đức Phật thỉnh họ an tọa. Sau khi an tọa, Ni-kiền-tử hỏi Đức Phật như sau:— “Ai là người công chính? Ai là người học rộng? Ai là người đáng kính? Thế nào là vẻ đẹp và sự duyên dáng chân thật? Thế nào là một Sa-môn? Ai là một Tỳ-kheo chân chính? Và ai là người thực sự giác ngộ? Và ai là người biết vâng lời (người cung kính tuân thủ các quy tắc đạo đức)? Nếu Ngài có thể, xin vui lòng trả lời những câu hỏi này vì lợi ích của các đệ tử của tôi.”
Trên đây, Đức Thế Tôn, thấu rõ mọi sự tình, đáp bằng những bài kệ sau:—
“Người luôn khao khát học hỏi, sống ngay thẳng, suy tư và quán chiếu bản chất của trí tuệ quý báu, người ấy được gọi là người Công chính (tức là người ngay thẳng; ngư��i đã đạt Đạo, hay Bồ-đề). Và ai là người có Trí tuệ? Người không chấp vào những phân biệt tinh vi của lời nói—không sợ hãi, không lo lắng, kiên định với lẽ phải—người ấy là người có Trí tuệ. Và ai là người đáng kính (trưởng lão)? Không phải người đã già cả (sáu mươi tuổi)—thân hình còng xuống, tóc bạc phơ—vì dù vậy, người ấy có thể chỉ là một kẻ ngu si. Mà là người suy tư và tìm hiểu về Pháp (Dharma), điều hòa và kiềm chế hành vi của mình, đầy lòng từ ái và đức hạnh, có khả năng thấu hiểu những bí mật ẩn tàng, và thanh tịnh—người ấy mới thật sự được gọi là ‘Đáng kính’. Và ai là người duyên dáng và hoàn hảo? Không phải người có vẻ đẹp hình tướng như hoa (làm say đắm lòng người); không phải người tham lam và khao khát những phù phiếm hão huyền của sự trang sức cá nhân; không phải người lời nói và hành vi trái ngược nhau; mà là người có thể từ bỏ mọi nẻo ác, đã nhổ bỏ chúng tận gốc rễ, người đã giác ngộ mà không còn chút tàn dư hận thù—người ấy mới thật sự duyên dáng và ngay thẳng (hay đáng kính, tức là đáng ngưỡng mộ trong hành vi). Và ai là Sa-môn? Không phải người bị cạo đầu miễn cưỡng, nói lời không thật, tham lam tài sản, hay là nô lệ của dục vọng như những người khác; mà là người có thể chấm dứt (an định) mọi dục vọng bất thiện, dứt bỏ mọi chấp trước cá nhân, làm cho tâm trí an tịnh, và chấm dứt mọi vọng tưởng—người ấy được gọi là Sa-môn. Và ai được gọi là Tỳ-kheo? Không phải người vào những thời điểm nhất định đi khất thực; không phải người sống bất chính (tà kiến), nhưng hy vọng được xem là đệ tử, mong muốn tạo dựng danh tiếng (như một người tu hành), và chỉ có thế; mà là người từ bỏ mọi nhân (nghiệp) của tội lỗi, sống phạm hạnh và thanh tịnh, người bằng trí tuệ có thể nghiền nát mọi khuynh hướng bất thiện—người ấy là một Tỳ-kheo chân chính. Và ai là người thực sự giác ngộ (hay bậc trí giả)? Không phải người chỉ im lặng, trong khi tâm trí bận rộn với những tạp niệm bất tịnh—chỉ đơn thuần tuân theo quy tắc bên ngoài và chỉ có thế; mà là người có tâm không chấp trước (vô tư), đời sống nội tâm thanh tịnh và trống rỗng (không chấp trước), hoàn toàn bất động và không còn chấp trước vào điều này hay điều kia (người hay vật)—người ấy được gọi là bậc giác ngộ nội tâm (Muni?). Và ai là người đạt Bồ-đề (một bậc Thánh hay ‘người được chọn’)? Không phải người cứu mạng muôn loài, mà là người tràn đầy lòng từ bi phổ quát, không có ác ý trong tâm—người ấy là người đạt Bồ-đề. Và người giữ Pháp không phải là người nói nhiều, mà là người giữ thân mình tuân phục Pháp (Giáo Pháp), dù người ấy là một người chất phác, ít học, luôn gìn giữ con đường (chân lý) mà không hề quên lãng—người ấy là người giữ Pháp (tức là Dhammaṭṭho).”
Nghe những lời này, Sa-che Ni-kiền-tử và 500 đệ tử của ông đều tràn đầy niềm hoan hỷ, và trở thành đệ tử của Đức Phật (Sa-môn). Ni-kiền-tử đạt đến trạng thái (tâm) của một vị Bồ-tát, những người khác trở thành A-la-hán.
Beal 1There was once a very old Brahman, called Sa-che (Sacha or Satya) Nirgrantha, celebrated for his acuteness in discussion. He had 500 disciples, and all of them were so self-opinionated with regard to their superior learning that they used to clothe themselves with iron plates, lest their wisdom should overflow and run to waste (sic.). Now when Sacha heard that Buddha had come into the world, and was converting men by his superior wisdom, he was filled with jealousy, and could not rest at night from very envy, and therefore, addressing his disciples, he said, “I hear that the Shaman Gotama professes to be a Buddha. I will go and ask him a few questions, and make him blush for shame when he finds he cannot answer them.” Accordingly, he with his followers went to the Jetavana (Vihāra), and as they stood without seeing the glory of Buddha's person, like the sun when he first comes forth in his strength, they were overpowered and confused by their feelings, and so passing through the door they came before Buddha, and did him reverence. On this Buddha requested them to be seated. Being so seated, the Nirgrantha asked Buddha as follows:— “Who is the just man? Who is the learned man? Who is the reverend man? What is true beauty and grace? What is a Shaman? Who is a true Bhikshu? and who is the truly enlightened? and who the obedient man (who respectfully observes the rules of moral conduct)? If you are able, be pleased to answer these questions for the sake of my followers.”
On this the World-honoured, perceiving exactly how the case lay, answered in these stanzas:—
“The man who is always anxious and desirous to learn, who walks uprightly, who ponders on and considers the character of precious wisdom, this man is called Just (i.e., Righteous; one who has attained the way, or Bōdhi). And who is the man of Knowledge? He who depends not on any fine distinction of words—who is free from fear and from apprehension, who stands by what is right—he is the man of Knowledge. And who is the Reverend man (aged)? Not he who has come to old age (sexegenarian)—his form bent, his hair white—for with all that he may be but a fool. But he who ponders on and inquires into the Law (the Dharma), who regulates and restrains his conduct, (is full of) love and virtue, who is able to penetrate into hidden secrets, and is pure—this man is rightly called 'Reverend.' And who is the graceful and perfect man? Not he who possesses beauty of form like the flowers (that charm us); not he who covets and longs for the empty vanities of personal adornment; not he whose words and conduct are opposed to one another; but he who is able to give up every vicious way, who has got rid of it from the very root, who is enlightened without a remnant of hatred—this man is truly graceful and upright (or respectable, i.e., admirable in conduct). And who is the Shaman? Not he who is shaven perforce, who speaks untruth, and covets possession, or who is a slave of desire like the rest of men; but he who is able to put an end to (to compose) every wicked (desire), to silence every personal preference, to quiet his mind, and put an end to thought—this man is called a Shaman. And who is called a Bhikshu? Not he who at stated times begs his food; not he who walks unrighteously (heretically), but hopes to be considered a disciple, desiring to establish a character (as a religious person), and that is all; but he who gives up every cause (karma) of guilt, and who lives continently and purely, who by wisdom is able to crush every evil (inclination)—this man is a true Bhikshu. And who is the truly enlightened (or the wise man)? Not he who is simply mute, whilst the busy work of his mind is impure—merely accommodating himself to the outer rule and that is all; but he whose heart is without preference (indifferent), whose inward life is pure and spiritual (empty), perfectly unmoved and dead to this or that (person or thing)—this man is called an inwardly enlightened man (Muni?) And who is a man of Bōdhi (an Ariya or 'elected one')? Not he who saves the life of all things, but he who is filled with universal benevolence, who has no malice in his heart—he is a man of Bōdhi. And the man who observes the Law is not he who talks much, but one who keeps his body (himself) in subjection to the Law (Religion), although he be a plain, untaught man, always guarding the way (of truth) without any forgetfulness—this man is an observer of the Law (i.e., Dhammaṭṭho).”
On hearing these words, Sacha Nirgrantha and his 500 followers were all filled with joy, and became followers of Buddha (Shamans). The Nirgrantha arrived at the condition (heart) of a Bōdhisatwa, the others became Rahats.