Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru (Câu-lâu). Kammāsadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm) là thị trấn của dân chúng Kuru. Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối, thuộc ngu si tánh. Này các Tỷ-kheo, đây là lời chào xáo của kẻ ngu xây dựng trên giả dối. Các dục hiện tại, và các dục tương lai, các dục tưởng hiện tại và các dục tưởng tương lai, cả hai đều thuộc lãnh vực của ma, là cảnh giới của ma, là chỗ dinh dưỡng của ma, là chỗ ăn uống của ma.
Bất động
SC 3Ở đây, các ác bất thiện ý này dẫn đến tham dục, sân hận, khích động, và chính những pháp ấy tác thành chướng ngại ở đây cho Thánh đệ tử học tập. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Các dục hiện tại và các dục tương lai … cho Thánh đệ tử học tập. Vậy ta hãy an trú với tâm quảng đại, đại hành, sau khi chiến thắng thế giới, sau khi xác định vị trí của ý. Khi ta an trú với tâm quảng đại, đại hành chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ý, các ác bất thiện ý: tham dục, sân hận, khích động sẽ không khởi lên; với các pháp ấy được đoạn trừ, tâm của ta không trở thành hạn hẹp, trái lại thành vô lượng, khéo tu tập”. Trong khi ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động ngay hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến (samvattanikam vinnanam) có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Bất động”.
SC 4Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại, và những dục tưởng tương lai, phàm bất cứ sắc pháp gì, là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Bất động.
SC 5Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những sắc tưởng hiện tại và những sắc tưởng tương lai, cả hai đều vô thường. Cái gì vô thường thời không đáng để được hoan hỷ, không đáng để được hoan nghênh, không đáng để được chấp trước”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Bất động.
Vô hữu xứ
SC 6Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại … và những sắc tưởng tương lai, và những bất động tưởng, tất cả tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là vô sở hữu”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
SC 7Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đi đến khu rừng hay đi đến dưới gốc cây và suy nghĩ như sau: “Trống không là tự ngã hay ngã này sở hữu”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
SC 8Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào, và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
Phi tưởng, phi phi tưởng xứ
SC 9Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại. Và những sắc tưởng và những Bất động tưởng, và những Vô sở hữu xứ tưởng, tất cả các tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh vị ấy có thể thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ ngay trong hiện tại, hoặc thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hành đạo về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Niết-bàn
SC 10Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 11—Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu trước không có như vậy, thời có thể không là của ta; nếu nay không có như vậy thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Và như vậy vị ấy được xả. Bạch Thế Tôn, môt vị Tỷ-kheo như vậy có chứng được cứu cánh Niết-bàn không?
SC 12—Ở đây, này Ānanda, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn.
SC 13—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn?
SC 14—Ở đây, này Ānanda, một Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu trước không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu nay không có như vậy, thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Và như vậy vị ấy được xả. Vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy. Do vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy, thức lệ thuộc xả ấy và thủ trước xả ấy. Có thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo không chứng cứu cánh Niết-bàn.
SC 15—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo ấy thủ trước là thủ trước chỗ nào?
SC 16—Này Ānanda, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 17—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng?
SC 18—Này Ānanda, Vị Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng. Này Ānanda, đây là thủ trước tối thượng, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu (trước) không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu (nay) không có như vậy, thời có thể không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Như vậy, vị ấy được xả, vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không chấp trước xả ấy. Do vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không thủ trước xả ấy, thức không lệ thuộc xả ấy và không thủ trước xả ấy. Không thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo chứng cứu cánh Niết-bàn.
SC 19—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Chính mười y cứ sự này sự kia, bạch Thế Tôn, sự vượt thoát dòng nước mạnh đã được Thế Tôn nói lên. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Thánh giải thoát?
SC 20—Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những Bất động tưởng, những Vô sở hữu xứ tưởng, và những Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, cái gì thuộc tự thân, là tự thân. Ðây là bất tử tức là tâm giải thoát không thủ trước”. Này Ānanda, đây là đạo lộ về lợi ích Bất động được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Vô sở hữu xứ được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ được Ta thuyết giảng, là sự vượt qua dòng nước mạnh do y cứ sự này sự kia được Ta thuyết giảng, Thánh giải thoát được Ta thuyết giảng.
SC 21Những gì, này Ānanda, vị Ðạo sư cần phải làm, vì lòng từ mẫn mưu tìm hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đã được Ta làm, vì lòng từ mẫn của Ta đối với Ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, này Ānanda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời dạy của Ta cho Ông.
SC 22Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṁ nāma kurūnaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Aniccā, bhikkhave, kāmā tucchā musā mosadhammā.
Māyākatametaṁ, bhikkhave, bālalāpanaṁ.
Ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā—
ubhayametaṁ māradheyyaṁ, mārassesa visayo, mārassesa nivāpo, mārassesa gocaro.
Etthete pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi saṁvattanti.
Teva ariyasāvakassa idhamanusikkhato antarāyāya sambhavanti.
Tatra, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā—
ubhayametaṁ māradheyyaṁ, mārassesa visayo, mārassesa nivāpo, mārassesa gocaro.
Etthete pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi saṁvattanti,
teva ariyasāvakassa idhamanusikkhato antarāyāya sambhavanti.
Yannūnāhaṁ vipulena mahaggatena cetasā vihareyyaṁ abhibhuyya lokaṁ adhiṭṭhāya manasā.
Vipulena hi me mahaggatena cetasā viharato abhibhuyya lokaṁ adhiṭṭhāya manasā ye pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi te na bhavissanti.
Tesaṁ pahānā aparittañca me cittaṁ bhavissati appamāṇaṁ subhāvitan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
yaṁ kiñci rūpaṁ sabbaṁ rūpaṁ cattāri ca mahābhūtāni, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā;
yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā—
ubhayametaṁ aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ nālaṁ abhinandituṁ, nālaṁ abhivadituṁ, nālaṁ ajjhositun’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā;
yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā;
yā ca āneñjasaññā—
sabbā saññā.
Yatthetā aparisesā nirujjhanti etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ—
yadidaṁ ākiñcaññāyatanan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘nāhaṁ kvacani kassaci kiñcanatasmiṁ, na ca mama kvacani kismiñci kiñcanaṁ natthī’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā;
yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā;
yā ca āneñjasaññā, yā ca ākiñcaññāyatanasaññā—
sabbā saññā.
Yatthetā aparisesā nirujjhanti etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ—
yadidaṁ nevasaññānāsaññāyatanan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa nevasaññānāsaññāyatanūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, nevasaññānāsaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyatī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“idha, bhante, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi yaṁ, bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti.
Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati.
Parinibbāyeyya nu kho so, bhante, bhikkhu na vā parinibbāyeyyā”ti?
“Apetthekacco, ānanda, bhikkhu parinibbāyeyya, apetthekacco bhikkhu na parinibbāyeyyā”ti.
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo yenapetthekacco bhikkhu parinibbāyeyya, apetthekacco bhikkhu na parinibbāyeyyā”ti?
“Idhānanda, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi, yaṁ bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti.
Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati.
So taṁ upekkhaṁ abhinandati, abhivadati, ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ upekkhaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato tannissitaṁ hoti viññāṇaṁ tadupādānaṁ.
Saupādāno, ānanda, bhikkhu na parinibbāyatī”ti.
“Kahaṁ pana so, bhante, bhikkhu upādiyamāno upādiyatī”ti?
“Nevasaññānāsaññāyatanaṁ, ānandā”ti.
“Upādānaseṭṭhaṁ kira so, bhante, bhikkhu upādiyamāno upādiyatī”ti?
“Upādānaseṭṭhañhi so, ānanda, bhikkhu upādiyamāno upādiyati.
Upādānaseṭṭhañhetaṁ, ānanda, yadidaṁ—
nevasaññānāsaññāyatanaṁ.
Idhānanda, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi, yaṁ bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti.
Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati.
So taṁ upekkhaṁ nābhinandati, nābhivadati, na ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ upekkhaṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato na tannissitaṁ hoti viññāṇaṁ na tadupādānaṁ.
Anupādāno, ānanda, bhikkhu parinibbāyatī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Nissāya nissāya kira no, bhante, bhagavatā oghassa nittharaṇā akkhātā.
Katamo pana, bhante, ariyo vimokkho”ti?
“Idhānanda, bhikkhu ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā;
yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā;
yā ca āneñjasaññā, yā ca ākiñcaññāyatanasaññā, yā ca nevasaññānāsaññāyatanasaññā—
esa sakkāyo yāvatā sakkāyo.
Etaṁ amataṁ yadidaṁ anupādā cittassa vimokkho.
Iti, kho, ānanda, desitā mayā āneñjasappāyā paṭipadā, desitā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā, desitā nevasaññānāsaññāyatanasappāyā paṭipadā, desitā nissāya nissāya oghassa nittharaṇā, desito ariyo vimokkho.
Yaṁ kho, ānanda, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā.
Etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni. Jhāyathānanda, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī’”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Āneñjasappāyasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Nya 1Thus I heard:
On one occasion the Blessed One was living in the Kuru Country.
There is a town of the Kurus called Kammāssadamma, and there he addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus.”
“Venerable sir,” they replied. The Blessed One said this
Nya 2“Bhikkhus, sensual desires are impermanent, hollow, false, false-natured, made up of illusion, and fools’ talk.
“Sensual desires here and now and sensual desires in lives to come, perceptions of sensual desires here and now and perceptions of sensual desires in lives to come, are alike Mara’s realm, Mara’s domain, Mara’s bait, Mara’s hunting-ground. Evil unprofitable notions of covetousness and ill-will and ambition lead on to rebirth here in the sensual desire sphere, and they obstruct the training of a noble disciple here.
4th Meditation
Nya 3“Now, bhikkhus, a noble disciple considers thus: ‘Sensual desires here and now and sensual desires in lives to come, perceptions of sensual desires here and now and perceptions of sensual desires in lives to come, are alike Mara’s realm, Mara’s domain, Mara’s bait, Mara’s hunting-ground. Evil unprofitable notions of covetousness and ill-will and ambition lead on to rebirth here in the sensual desire sphere, and they obstruct the training of a noble disciple here. Suppose I were to abide with mind abundant and exalted by transcending the world and resolving firmly with the mind, then there would be no more evil unprofitable notions of covetousness and ill-will and ambition in me, and with the abandoning of them my mind would be limited no longer; it would become measureless and would become well-developed too.’
“When he enters upon this way and abides in it often, his mind acquires confidence in this base. Once there is full confidence, then he either enters upon the way to rebirth in the Imperturbable, or else he decides to perfect understanding by reaching Arahantship. On the dissolution of the body, after death, it is possible that that consciousness of his which leads on to rebirth, may pass on upon rebirth to one of the Imperturbable states. This is called the first way directed to the Imperturbable.
Infinite Space
Nya 4“Again a noble disciple considers thus: ‘There are sensual desires here and now and sensual desires in lives to come, perceptions of sensual desires here and now and perceptions of sensual desires in lives to come; whatever is form, all form is the four great primary elements and the form derived from the four great primary elements.’
“When he enters upon this way and abides in it often, his mind acquires confidence in this base. Once there is full confidence, then he either enters upon the way to rebirth in the Imperturbable, or else he decides to perfect understanding by reaching Arahantship. On the dissolution of the body, after death, it is possible that that consciousness of his, which leads on to rebirth, may pass on upon rebirth to one of the Imperturbable states. This is called the second way directed to the Imperturbable.
Infinite Consciousness
Nya 5“Again, a noble disciple considers thus: ‘Sensual desires here and now and sensual desires in lives to come, perception of sensual desires here and now and perceptions of sensual desires in lives to come, forms here and now and forms in lives to come, perceptions of forms here and now and perceptions of forms in lives to come, are all impermanent; what is impermanent is not worth relishing, not worth affirming, not worth accepting.’
“When he enters upon this way and abides in it often, his mind acquires confidence in this base. Once there is full confidence, then he either enters upon the way to rebirth in the Imperturbable, or else he decides to perfect understanding by reaching Arahantship. On the dissolution of the body, after death, it is possible that that consciousness of his, which leads on to rebirth, may pass on upon rebirth to one of the Imperturbable states. This is called the third way directed to the Imperturbable.
Nothingness—I
Nya 6“Again, a noble disciple considers thus: ‘Sensual desires here and now and sensual desires in lives to come, perceptions of sensual desires here and now and perceptions of sensual desires in lives to come, forms here and now and forms in lives to come, perceptions of forms here and now and perceptions of forms in lives to come, perceptions of the Imperturbable—all are perceptions; where these perceptions cease without remainder, that is more peaceful, that is a superior goal, that is to say the base consisting of nothingness.’
“When he enters on this way and abides in it often, his mind acquires confidence in this base. Once there is full confidence, then he either enters upon the way to rebirth in the base consisting of nothingness, or else he decides to perfect understanding by reaching Arahantship. On the dissolution of the body, after death, it is possible that that consciousness of his, which leads on to rebirth, may pass on upon rebirth to the base consisting of nothingness. This is called the first way directed to the base consisting of nothingness.
Nothingness—II
Nya 7“Again, a noble disciple, gone to the forest or to the root of a tree or to an empty hut, considers thus: ‘This is void of self or of a self’s property.’
“When he enters upon this way and abides in it often… pass on upon rebirth to the base consisting of nothingness. This is called the second way directed to the base consisting of nothingness.
Nothingness—III
Nya 8“Again, a noble disciple considers thus: ‘I am not anywhere anyone’s owning; nor is there anywhere my owning in anyone.’
“When he enters upon this way and abides in it often… pass on upon rebirth to the base consisting of nothingness. This is called the third way directed to the base consisting of nothingness.
Neither-Perception-Nor-Non-Perception
Nya 9“Again, a noble disciple considers thus: ‘Sensual desires here and now and sensual desires in lives to come, perceptions of sensual desires here and now and perceptions of sensual desires in lives to come, form here and now and form in lives to come, perceptions of forms here and now and perceptions of form in lives to come, perceptions of the Imperturbable, perceptions of the base consisting of nothingness—all are perceptions: when all these perceptions cease without remainder, that is more peaceful, that is a superior goal, that is to say the base consisting of neither-perception-nor-non-perception.’
“When he enters upon this way and abides in it often, his mind acquires confidence in this base. Once there is full confidence, then he either enters upon the way to rebirth in the base consisting of neither-perception-nor-non-perception, or else he decides to perfect understanding by reaching Arahantship. On the dissolution of the body, after death, it is possible that that consciousness of his, which leads on to rebirth, may pass on upon rebirth to the base consisting of neither-perception-nor-non-perception. This is called the way directed to the base consisting of neither-perception-nor-non-perception.’
With Clinging There Is No Nibbāna
Nya 10When this was said, the venerable Ananda asked the Blessed One:
“Venerable sir, here a bhikkhu enters upon this way: ‘If I were not, and naught were mine, I shall not be and naught will be mine. And what there is, has come to be, that I abandon’, and thus he obtains equanimity. Venerable sir, does such a bhikkhu reach Nibbāna?”
“Perhaps one such bhikkhu might reach Nibbāna, Ananda, perhaps another such bhikkhu might not reach Nibbāna.”
“Venerable sir, what is the cause, what is the reason, why one might and another might not?”
“Here, Ananda, a bhikkhu enters upon this way: ‘If I were not, and naught were mine, I shall not be and naught will be mine. And what there is, has come to be, that I abandon’, and thus he obtains equanimity. He relishes that equanimity, welcomes it and accepts it. When he does that, then his consciousness depends on that equanimity, clings to it. A bhikkhu who is affected by clinging does not attain Nibbāna, Ananda.”
Nya 11“But, venerable sir, when that bhikkhu clings, what does he cling to?”
“To the base consisting of neither-perception-nor-non-perception, Ananda.”
“It seems, venerable sir, that when this bhikkhu clings, he clings to the best fuel for clinging?”
“When this bhikkhu clings, Ananda, he clings to the best fuel for clinging: for this is the best fuel for clinging, namely the base consisting of neither-perception-nor-non-perception.
Without Clinging There Is Nibbāna
Nya 12“Here, Ananda, a bhikkhu enters upon this way: ‘If I were not, and naught were mine, I shall not be and naught be mine. And what there is, has come to be, that I abandon’, and thus he attains equanimity. He does not relish the equanimity, welcome it or accept it. When he does not do that, then his consciousness does not depend on that equanimity or cling to it. A bhikkhu who is unaffected by clinging attains Nibbāna, Ananda.”
Nya 13“It is wonderful, venerable sir, it is marvellous! For each stage of attainment, it seems, the crossing of the flood has been told to us by the Blessed One. But, venerable sir, what is the Noble One’s liberation?”
“Here, Ananda, a noble disciple considers thus: ‘Sensual desires here and now and sensual desires in lives to come, perceptions of sensual desires here and now and perceptions of sensual desires in lives to come, form here and now and form in lives to come, perceptions of form here and now and perceptions of form in lives to come, perceptions of Imperturbability, perceptions of the base consisting of nothingness, perceptions of the base consisting of neither-perception-nor-non-perception—that is embodiment, that is as far as embodiment extends: but this is the deathless, that is to say, the liberation of mind through not clinging.’
Nya 14“So, Ananda, I have shown the way directed to the Imperturbable, I have shown the way directed to the base consisting of nothingness, I have shown the way directed to the base consisting of neither-perception-nor-non-perception, I have shown for each stage of attainment the crossing of the flood, I have shown the Noble One’s liberation.
Nya 15“Ananda, what should be done for his disciples out of pity by a master who seeks their welfare and has pity on them, that I have done for you, Ananda. There are these roots of trees, there are these empty huts. Meditate, Ananda, do not delay lest you later regret it. This is our message for you.”
That is what the Blessed One said. The venerable Ananda was satisfied and he delighted in the Blessed One’s words.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú giữa dân chúng Kuru (Câu-lâu). Kammāsadhamma (Kiềm-ma-sắt-đàm) là thị trấn của dân chúng Kuru. Tại đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”. “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”. Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau
SC 2—Này các Tỷ-kheo, các dục là vô thường, trống rỗng, giả dối, thuộc ngu si tánh. Này các Tỷ-kheo, đây là lời chào xáo của kẻ ngu xây dựng trên giả dối. Các dục hiện tại, và các dục tương lai, các dục tưởng hiện tại và các dục tưởng tương lai, cả hai đều thuộc lãnh vực của ma, là cảnh giới của ma, là chỗ dinh dưỡng của ma, là chỗ ăn uống của ma.
Bất động
SC 3Ở đây, các ác bất thiện ý này dẫn đến tham dục, sân hận, khích động, và chính những pháp ấy tác thành chướng ngại ở đây cho Thánh đệ tử học tập. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Các dục hiện tại và các dục tương lai … cho Thánh đệ tử học tập. Vậy ta hãy an trú với tâm quảng đại, đại hành, sau khi chiến thắng thế giới, sau khi xác định vị trí của ý. Khi ta an trú với tâm quảng đại, đại hành chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ý, các ác bất thiện ý: tham dục, sân hận, khích động sẽ không khởi lên; với các pháp ấy được đoạn trừ, tâm của ta không trở thành hạn hẹp, trái lại thành vô lượng, khéo tu tập”. Trong khi ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động ngay hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến (samvattanikam vinnanam) có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Bất động”.
SC 4Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại, và những dục tưởng tương lai, phàm bất cứ sắc pháp gì, là bốn đại chủng và sắc do bốn đại tạo thành”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Bất động.
SC 5Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những sắc tưởng hiện tại và những sắc tưởng tương lai, cả hai đều vô thường. Cái gì vô thường thời không đáng để được hoan hỷ, không đáng để được hoan nghênh, không đáng để được chấp trước”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Bất động ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Bất động.
Vô hữu xứ
SC 6Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại … và những sắc tưởng tương lai, và những bất động tưởng, tất cả tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là vô sở hữu”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
SC 7Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử đi đến khu rừng hay đi đến dưới gốc cây và suy nghĩ như sau: “Trống không là tự ngã hay ngã này sở hữu”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ ngay trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhị hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
SC 8Lại nữa này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào, và sở thuộc của ta không có bất cứ chỗ nào, cho ai và trong hình thức nào”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu Vô sở hữu xứ trong hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Vô sở hữu xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo được gọi là đệ tam hành đạo về lợi ích Vô sở hữu xứ.
Phi tưởng, phi phi tưởng xứ
SC 9Và lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại. Và những sắc tưởng và những Bất động tưởng, và những Vô sở hữu xứ tưởng, tất cả các tưởng, chỗ nào các tưởng ấy được đoạn diệt không có dư tàn, như vậy là tịch tịnh, như vậy là thù diệu, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ”. Trong khi vị ấy hành trì như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trí trở thành an tịnh trong trú xứ (của nó). Với tâm an tịnh vị ấy có thể thành tựu Phi tưởng phi phi tưởng xứ ngay trong hiện tại, hoặc thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự tình này xảy ra, thức diễn tiến ấy có thể tùy theo đây đạt đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là hành đạo về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Niết-bàn
SC 10Khi được nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 11—Ở đây, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu trước không có như vậy, thời có thể không là của ta; nếu nay không có như vậy thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Và như vậy vị ấy được xả. Bạch Thế Tôn, môt vị Tỷ-kheo như vậy có chứng được cứu cánh Niết-bàn không?
SC 12—Ở đây, này Ānanda, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn.
SC 13—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một số Tỷ-kheo có thể chứng được cứu cánh Niết-bàn, và ở đây, một số Tỷ-kheo có thể không chứng được cứu cánh Niết-bàn?
SC 14—Ở đây, này Ānanda, một Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu trước không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu nay không có như vậy, thời có thể sẽ không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Và như vậy vị ấy được xả. Vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy. Do vị ấy hoan hỷ trong xả ấy, hoan nghênh, chấp trước xả ấy, thức lệ thuộc xả ấy và thủ trước xả ấy. Có thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo không chứng cứu cánh Niết-bàn.
SC 15—Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo ấy thủ trước là thủ trước chỗ nào?
SC 16—Này Ānanda, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
SC 17—Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng?
SC 18—Này Ānanda, Vị Tỷ-kheo ấy thủ trước, thủ trước như vậy là thủ trước tối thượng. Này Ānanda, đây là thủ trước tối thượng, tức là Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo hành trì như vậy và suy nghĩ: “Nếu (trước) không có như vậy thời có thể không là của ta. Nếu (nay) không có như vậy, thời có thể không là của ta. Ta đoạn trừ những gì hiện có và những gì đã có”. Như vậy, vị ấy được xả, vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không chấp trước xả ấy. Do vị ấy không hoan hỷ trong xả ấy, không hoan nghênh, không thủ trước xả ấy, thức không lệ thuộc xả ấy và không thủ trước xả ấy. Không thủ trước, này Ānanda, vị Tỷ-kheo chứng cứu cánh Niết-bàn.
SC 19—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Chính mười y cứ sự này sự kia, bạch Thế Tôn, sự vượt thoát dòng nước mạnh đã được Thế Tôn nói lên. Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là Thánh giải thoát?
SC 20—Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những Bất động tưởng, những Vô sở hữu xứ tưởng, và những Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, cái gì thuộc tự thân, là tự thân. Ðây là bất tử tức là tâm giải thoát không thủ trước”. Này Ānanda, đây là đạo lộ về lợi ích Bất động được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Vô sở hữu xứ được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ được Ta thuyết giảng, là sự vượt qua dòng nước mạnh do y cứ sự này sự kia được Ta thuyết giảng, Thánh giải thoát được Ta thuyết giảng.
SC 21Những gì, này Ānanda, vị Ðạo sư cần phải làm, vì lòng từ mẫn mưu tìm hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đã được Ta làm, vì lòng từ mẫn của Ta đối với Ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hãy tu Thiền, này Ānanda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời dạy của Ta cho Ông.
SC 22Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kurūsu viharati kammāsadhammaṁ nāma kurūnaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi:
“bhikkhavo”ti.
“Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Aniccā, bhikkhave, kāmā tucchā musā mosadhammā.
Māyākatametaṁ, bhikkhave, bālalāpanaṁ.
Ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā—
ubhayametaṁ māradheyyaṁ, mārassesa visayo, mārassesa nivāpo, mārassesa gocaro.
Etthete pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi saṁvattanti.
Teva ariyasāvakassa idhamanusikkhato antarāyāya sambhavanti.
Tatra, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā—
ubhayametaṁ māradheyyaṁ, mārassesa visayo, mārassesa nivāpo, mārassesa gocaro.
Etthete pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi saṁvattanti,
teva ariyasāvakassa idhamanusikkhato antarāyāya sambhavanti.
Yannūnāhaṁ vipulena mahaggatena cetasā vihareyyaṁ abhibhuyya lokaṁ adhiṭṭhāya manasā.
Vipulena hi me mahaggatena cetasā viharato abhibhuyya lokaṁ adhiṭṭhāya manasā ye pāpakā akusalā mānasā abhijjhāpi byāpādāpi sārambhāpi te na bhavissanti.
Tesaṁ pahānā aparittañca me cittaṁ bhavissati appamāṇaṁ subhāvitan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
yaṁ kiñci rūpaṁ sabbaṁ rūpaṁ cattāri ca mahābhūtāni, catunnañca mahābhūtānaṁ upādāyarūpan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā;
yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā—
ubhayametaṁ aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ nālaṁ abhinandituṁ, nālaṁ abhivadituṁ, nālaṁ ajjhositun’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā āneñjaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa āneñjūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyā āneñjasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā;
yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā;
yā ca āneñjasaññā—
sabbā saññā.
Yatthetā aparisesā nirujjhanti etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ—
yadidaṁ ākiñcaññāyatanan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, paṭhamā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati:
‘suññamidaṁ attena vā attaniyena vā’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, dutiyā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘nāhaṁ kvacani kassaci kiñcanatasmiṁ, na ca mama kvacani kismiñci kiñcanaṁ natthī’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā ākiñcaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa ākiñcaññāyatanūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, tatiyā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyati.
Puna caparaṁ, bhikkhave, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā;
yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā;
yā ca āneñjasaññā, yā ca ākiñcaññāyatanasaññā—
sabbā saññā.
Yatthetā aparisesā nirujjhanti etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ—
yadidaṁ nevasaññānāsaññāyatanan’ti.
Tassa evaṁpaṭipannassa tabbahulavihārino āyatane cittaṁ pasīdati.
Sampasāde sati etarahi vā nevasaññānāsaññāyatanaṁ samāpajjati paññāya vā adhimuccati.
Kāyassa bhedā paraṁ maraṇā, ṭhānametaṁ vijjati yaṁ taṁsaṁvattanikaṁ viññāṇaṁ assa nevasaññānāsaññāyatanūpagaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, nevasaññānāsaññāyatanasappāyā paṭipadā akkhāyatī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“idha, bhante, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi yaṁ, bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti.
Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati.
Parinibbāyeyya nu kho so, bhante, bhikkhu na vā parinibbāyeyyā”ti?
“Apetthekacco, ānanda, bhikkhu parinibbāyeyya, apetthekacco bhikkhu na parinibbāyeyyā”ti.
“Ko nu kho, bhante, hetu ko paccayo yenapetthekacco bhikkhu parinibbāyeyya, apetthekacco bhikkhu na parinibbāyeyyā”ti?
“Idhānanda, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi, yaṁ bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti.
Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati.
So taṁ upekkhaṁ abhinandati, abhivadati, ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ upekkhaṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato tannissitaṁ hoti viññāṇaṁ tadupādānaṁ.
Saupādāno, ānanda, bhikkhu na parinibbāyatī”ti.
“Kahaṁ pana so, bhante, bhikkhu upādiyamāno upādiyatī”ti?
“Nevasaññānāsaññāyatanaṁ, ānandā”ti.
“Upādānaseṭṭhaṁ kira so, bhante, bhikkhu upādiyamāno upādiyatī”ti?
“Upādānaseṭṭhañhi so, ānanda, bhikkhu upādiyamāno upādiyati.
Upādānaseṭṭhañhetaṁ, ānanda, yadidaṁ—
nevasaññānāsaññāyatanaṁ.
Idhānanda, bhikkhu evaṁ paṭipanno hoti:
‘no cassa, no ca me siyā; na bhavissati, na me bhavissati; yadatthi, yaṁ bhūtaṁ—taṁ pajahāmī’ti.
Evaṁ upekkhaṁ paṭilabhati.
So taṁ upekkhaṁ nābhinandati, nābhivadati, na ajjhosāya tiṭṭhati.
Tassa taṁ upekkhaṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato na tannissitaṁ hoti viññāṇaṁ na tadupādānaṁ.
Anupādāno, ānanda, bhikkhu parinibbāyatī”ti.
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante.
Nissāya nissāya kira no, bhante, bhagavatā oghassa nittharaṇā akkhātā.
Katamo pana, bhante, ariyo vimokkho”ti?
“Idhānanda, bhikkhu ariyasāvako iti paṭisañcikkhati:
‘ye ca diṭṭhadhammikā kāmā, ye ca samparāyikā kāmā;
yā ca diṭṭhadhammikā kāmasaññā, yā ca samparāyikā kāmasaññā;
ye ca diṭṭhadhammikā rūpā, ye ca samparāyikā rūpā;
yā ca diṭṭhadhammikā rūpasaññā, yā ca samparāyikā rūpasaññā;
yā ca āneñjasaññā, yā ca ākiñcaññāyatanasaññā, yā ca nevasaññānāsaññāyatanasaññā—
esa sakkāyo yāvatā sakkāyo.
Etaṁ amataṁ yadidaṁ anupādā cittassa vimokkho.
Iti, kho, ānanda, desitā mayā āneñjasappāyā paṭipadā, desitā ākiñcaññāyatanasappāyā paṭipadā, desitā nevasaññānāsaññāyatanasappāyā paṭipadā, desitā nissāya nissāya oghassa nittharaṇā, desito ariyo vimokkho.
Yaṁ kho, ānanda, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā.
Etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni. Jhāyathānanda, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī’”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Āneñjasappāyasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.