Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tu viện Ghosita (Cù-sư-la).
SC 2Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka trú ở hang Pilakka với đại chúng du sĩ, khoảng độ năm trăm du sĩ. Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, và nói với các Tỷ-kheo
SC 3—Chư Hiền, chúng ta hãy đi đến Devakatasobbha để xem hang.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 4Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda. Rồi Tôn giả Ānanda với một số đông Tỷ-kheo đi đến Devakatasobbha. Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka ngồi với đại chúng du sĩ đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về đồ mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương, câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu. Du sĩ Sandaka thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình
SC 5—Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay đệ tử của Sa-môn Gotama, Sa-môn Ānanda đang đến. Khi nào các đệ tử của Sa-môn Gotama trú ở Kosambi, thời Sa-môn Ānanda này là một vị trong những vị ấy. Các Tôn giả ấy ưa mến trầm lặng, tu tập trong trầm lặng, tán thán trầm lặng, nếu biết chúng này trầm lặng, có thể ghé tại đây.
SC 6Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Tôn giả Ānanda đến chỗ du sĩ Sandaka. Du sĩ Sandaka thưa với Tôn giả Ānanda
SC 7—Hãy đến, Tôn giả Ānanda! Thiện lai, Tôn giả Ānanda! Ðã lâu Tôn giả Ānanda mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Tôn giả Ānanda hãy ngồi, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 8Tôn giả Ānanda ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sandaka lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda nói với du sĩ Sandaka đang ngồi một bên
SC 9—Này Sandaka, nay các vị hội họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?
SC 10—Tôn giả Ānanda, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn luận. Lát nữa Tôn giả Ānanda nghe lại cũng không khó khăn gì. Lành thay, nếu được Tôn giả Ānanda thuyết cho pháp thoại vị Ðạo sư của mình.
SC 11—Vậy này Sandaka, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 12Du sĩ Sandaka vâng đáp Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda nói như sau
SC 13—Này Sandaka, bốn pháp phi phạm hạnh trú này, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và bốn pháp bất an phạm hạnh cũng được tuyên bố. Ở đây, người có trí không thể tự mình sống Phạm hạnh và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 14—Tôn giả Ānanda, bốn pháp phi phạm hạnh trú do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống Phạm hạnh, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện; bốn pháp phi phạm hạnh trú ấy là gì?
SC 15—Ở đây, này Sandaka, có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan điểm như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, sau khi đã tự mình giác ngộ với thắng trí tuyên bố về đời này và đời sau. Con người này do bốn đại họp thành, khi mệnh chung, địa đại quy nhập địa giới, thủy đại quy nhập thủy giới, hỏa đại quy nhập hỏa giới, phong đại quy nhập phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người, gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi, đến chỗ hỏa táng và thốt ra những lời kể lể, đặc tánh của người chết. Các xương thành màu xám như chim bồ câu, và những vật cúng dường trở thành tro bụi. Chỉ có người ngu mới tán dương bố thí, lời nói của họ trống không, giả dối, vô ích khi họ chấp thuyết “có sự hiện hữu (Atthikavada)”. Kẻ ngu cũng như người trí, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết”.
SC 16Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này, thuyết lý như vầy, quan điểm như vầy: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh …, không còn tồn tại sau khi chết”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng ta, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị đoạn diệt, tiêu thất, sẽ không hiện hữu sau khi chết”. Thật sự là quá độ hạnh lõa thể, trọc đầu, tinh tấn ngồi chõ hỏ, nhổ lông tóc của vị Tôn sư này; trong khi ta sống trong gia đình được con cái bao bọc đoanh vây, thọ dụng chiên-đàn Kasi, mang dùng vòng hoa, hương liệu phấn sáp, hưởng thọ vàng bạc, và trong đời sau ta sẽ đồng đẳng với vị Tôn sư này về chỗ thọ sanh. Như vậy, ta biết gì, thấy gì mà ta sẽ sống Phạm hạnh dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 17Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ nhất, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 18Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp đoạt, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất này, làm thành một đống thịt, thành một chồng thịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, gây ra tội ác. Nếu đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy có tội ác, gây ra tội ác. Nếu đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy có phước báo, tạo nên phước báo. Bố thí, tự điều phục, tự chế ngự, nói thật không có công đức, không tạo nên công đức”.
SC 19Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này, có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự làm, khiến người làm, …, không tạo nên công đức”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống; nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Hành động của cả hai chúng ta không tạo ra tội ác”. Thật sự là quá độ … mà ta sẽ sống Phạm hạnh dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 20Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ hai, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã tuyên bố và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 21Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư có thuyết lý như vậy, có quan điểm như vầy: “Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình sẽ bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh, không nhân không duyên, các loài hữu tình sẽ được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả chúng sanh, tất cả sanh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Họ bị dắt dẫn chi phối bởi định mệnh, bởi sự trùng hợp, bởi tự tánh. Họ hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu sanh loại”.
SC 22Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Không có nhân, không có duyên, … Họ hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu sanh loại”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng tôi, không có nhân, không có duyên sẽ được thanh tịnh”. Thật sự là quá độ … mà ta sẽ sống theo hạnh ấy dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 23Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ ba, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 24Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Có bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đảnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm hại nhau. Chúng không thể ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Thế nào là bảy? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc, và thứ bảy là mạn. Bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm hại nhau. Chúng không thể ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây, không có người giết hại hoặc người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết, khi có một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi. Có tất cả là 14 trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thêm 60 một trăm và 6 một trăm. Có 5 một trăm loại nghiệp và có 5 nghiệp (theo 5 căn), lại có 3 nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại có toàn nghiệp (thân và khẩu), bán nghiệp (ý), có 62 đạo, 62 trung kiếp, 6 giai cấp, 8 nhân địa; 4900 sanh nghiệp, 4900 kẻ du hành, 4900 chỗ ở của loài Nāga, 2000 căn, 3000 cảnh địa ngục, 36 trần giới, 7 tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7 tiết thai (sanh từ đốt, hay ly hệ thai) 7 loài Thiên, 7 loài Người, 7 loài Quỷ, 7 hồ nước, 7 pavutas (núi hay hồ nhỏ), 7000 pavutas, 700 papatas (vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng có 8.400.000 đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người trí, sau khi lưu chuyển, luân hồi, sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: “Với giới này, với giới cấm này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã được thuần thục, bởi những nhẫn thọ liên tục không thể đo lường, khổ và lạc với những vật đo lường, trong luân hồi không có tăng giảm, không có cao thấp. Ví như cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến một mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người trí, sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ chấm dứt khổ đau”.
SC 25Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Có bảy thân này … sẽ chấm dứt khổ đau”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng tôi, sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ chấm dứt khổ đau”. Thật sự là quá độ hạnh lõa thể, trọc đầu, tinh tấn ngồi chõ hỏ, nhổ lông tóc của vị Tôn sư này, trong khi ta sống trong gia đình, được con cái bao bọc đoanh vây, thọ dụng chiên-đàn Kasi, mang dùng vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, hưởng thọ vàng bạc, và trong đời sau ta sẽ đồng đẳng với vị Tôn sư này về chỗ thọ sanh. Như vậy ta biết gì, ta thấy gì mà ta sẽ sống theo hạnh ấy với vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly theo hạnh ấy và bỏ đi.
SC 26Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ tư, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 27Này Sandaka, bốn phi phạm hạnh trú này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây, người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện.
SC 28—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Bốn phi phạm hạnh trú này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là phi phạm hạnh trú, và ở đây, người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện. Tôn giả Ānanda, thế nào là bốn pháp bất an phạm hạnh được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện?
SC 29Ở đây, này Sandaka, có bậc Ðạo sư nhứt thiết tri, nhứt thiết kiến, tự xem đã chứng được tri kiến hoàn toàn: “Khi ta đi, ta đứng, ta ngủ và ta thức, tri, kiến được an trú ở trong ta, liên tục, không gián đoạn”. Vị ấy đi vào một nhà trống, không nhận được đồ ăn khất thực, và con chó cắn vị ấy, vị ấy gặp voi dữ, gặp người dữ, gặp bò dữ, và vị ấy hỏi tên và họ một người đàn bà, một người đàn ông, và hỏi tên những con đường của làng, của trị trấn. Vị ấy được hỏi: “Sao như thế này?”, và trả lời: “Ta phải vào một nhà trống, do vậy ta đã vào; ta phải không nhận được đồ ăn khất thực, do vậy ta đã không nhận được đồ ăn khất thực. Có người phải bị chó cắn, do vậy ta đã bị chó cắn. Có người phải gặp voi dữ, do vậy ta đã gặp; phải gặp ngựa dữ, do vậy ta đã gặp, phải gặp bò dữ, do vậy ta đã gặp. Có người phải hỏi tên và họ một người đàn bà, một người đàn ông, do vậy ta đã hỏi. Có người phải hỏi tên những con đường của làng, của thị trấn, do vậy ta đã hỏi”.
SC 30Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này là nhất thiết tri, nhứt thiết kiến …, do vậy ta đã hỏi”. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 31Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ nhất, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 32Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị này thuyết pháp theo truyền thuyết, theo tương truyền và truyền thống, theo uy tín Thánh tạng. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị ấy có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ, khi thì như thế này, khi thì như thế khác.
SC 33Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư: “Vị Tôn sư này y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chơn thật, vị này thuyết pháp theo truyền thuyết, theo tương truyền và truyền thống, theo uy tín Thánh tạng. Nếu vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chơn thật, vị ấy có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ, khi thì như thế này, khi thì như thế khác. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 34Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ hai, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 35Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận. Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này thuyết pháp theo nguyên tắc tự mình sáng tác. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận, vị ấy có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận, khi thì như thế này, khi thì như thế khác.
SC 36Ở đây, này Sandaka, người có trí suy nghĩ: “Vị Tôn sư này là nhà lý luận, là nhà suy luận. Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này thuyết pháp theo nguyên tắc tự mình sáng tác. Nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận, vị ấy có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận, khi thì như thế này, khi thì như thế khác. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an” nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 37Này Sandaka đây là bất an phạm hạnh thứ ba, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện.
SC 38Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là người đần độn, là người ngu si. Vì đần độn ngu si, khi được hỏi về vấn đề này, vấn đề khác, vị ấy dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Theo tôi không phải như vậy, theo tôi không phải như kia, theo tôi không khác như thế, theo tôi không phải như thế, theo tôi không không phải như thế”.
SC 39Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư: “Vị Tôn sư này là người đần độn, là người ngu si …, theo tôi không phải như thế”. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 40Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ tư, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 41Này Sandaka, bốn bất an phạm hạnh này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp và chí thiện.
SC 42—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Bốn pháp bất an phạm hạnh này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là bất an phạm hạnh, và ở đây người trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện. Thưa Tôn giả Ānanda, vị Ðạo sư ấy dạy những gì, tuyên bố những gì, mà ở đây, người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống, có thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện?
SC 43—Ở đây, này Sandaka, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 44Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 45Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
SC 46Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 47Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 48Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo y và bình bát. Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
SC 49Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
SC 50Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 51Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
SC 52Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 53Sau khi trừ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Này Sandaka, nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư, thời ở đây người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 54Lại nữa, này Sandaka, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Nhị thiền … chứng đạt và an trú Tam thiền … chứng đạt và an trú Tứ thiền. Này Sandaka, nếu một đệ tử chiếm được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 55Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy, hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời … như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Sandaka, nếu một đệ tử chiếm được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 56Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh … đều do hạnh nghiệp của họ. Này Sandaka nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 57Với tâm định tĩnh thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy như thật biết: “Ðây là Khổ” … vị ấy như thật biết: “Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt”.
SC 58Vị ấy do biết vậy, do thấy vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Này Sandaka, nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một Ðạo sư nào, thời ở đây người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 59—Nhưng, thưa Tôn giả Ānanda, một Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị Tỷ-kheo ấy có thể thọ dụng các dục vọng không?
SC 60—Này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không thể vi phạm năm điều: Vị Tỷ-kheo, các lậu đã tận không có thể cố ý sát hại mạng sống chúng sanh; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể lấy của không cho, được gọi là ăn trộm; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hành dâm dục; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể cố ý nói láo; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hưởng thọ các dục đối với các vật được tàng trữ như trước khi còn tại gia. Này Sandaka, một vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không có thể vi phạm năm điều này.
SC 61—Thưa Tôn giả Ānanda, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, có phải tri kiến vị ấy được an trú một cách liên tục, không gián đoạn: “Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận”?
SC 62—Này Sandaka, tôi sẽ cho Ông một ví dụ, nhờ ví dụ ở đây, một số người có trí sẽ biết ý nghĩa câu nói. Ví như, này Sandaka, một người tay chân bị chặt; khi người ấy đi, đứng, ngủ và thức, tay chân bị chặt một cách liên tục, không gián đoạn, và khi người ấy suy tư về vấn đề này, người ấy biết: “Tay chân của ta bị chặt”. Cũng vậy, này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, các lậu hoặc được đoạn tận một cách liên tục, không gián đoạn, và khi vị ấy suy tư về vấn đề này, vị ấy biết: “Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận”.
SC 63—Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, có bao nhiêu vị lãnh đạo tối thắng trong Pháp và Luật này?
SC 64—Này Sandaka, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm, mà còn nhiều vị lãnh đạo tối thắng hơn nữa trong Pháp và Luật này.
SC 65—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Không có sự tự tán thán pháp của mình, không có sự hủy báng pháp của người khác, nhưng cả hai sự thuyết pháp với các hành trì (ayatane) và rất nhiều vị lãnh đạo tối thắng như vậy đã được thấy (ở đây). Còn các tà mạn ngoại đạo này là những đứa con của người mẹ không con, họ tự tán thán, khen mình chê người, và họ chỉ có ba vị lãnh đạo tối thắng, tức là Nanda Vaccha, Kisā Sankicca và Makkhali Gosāla.
SC 66Rồi du sĩ Sandaka nói với đồ chúng của mình
SC 67—Chư Tôn giả, hãy đi và sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama, tuy rằng nay không có dễ gì cho chúng ta từ bỏ quyền lợi, tôn kính và danh tiếng.
SC 68Như vậy, du sĩ Sandaka đã đưa đồ chúng của mình sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena sandako paribbājako pilakkhaguhāyaṁ paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ pañcamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho āyasmā ānando sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
“āyāmāvuso, yena devakatasobbho tenupasaṅkamissāma guhādassanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ.
Atha kho āyasmā ānando sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena devakatasobbho tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena sandako paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā, seyyathidaṁ—
rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho sandako paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi:
“appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha;
ayaṁ samaṇassa gotamassa sāvako āgacchati samaṇo ānando.
Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā kosambiyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro samaṇo ānando.
Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino;
appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Atha kho te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena sandako paribbājako tenupasaṅkami.
Atha kho sandako paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“etu kho bhavaṁ ānando, svāgataṁ bhoto ānandassa.
Cirassaṁ kho bhavaṁ ānando imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya.
Nisīdatu bhavaṁ ānando, idamāsanaṁ paññattan”ti.
Nisīdi kho āyasmā ānando paññatte āsane.
Sandakopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sandakaṁ paribbājakaṁ āyasmā ānando etadavoca:
“kāya nuttha, sandaka, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Tiṭṭhatesā, bho ānanda, kathā yāya mayaṁ etarahi kathāya sannisinnā.
Nesā bhoto ānandassa kathā dullabhā bhavissati pacchāpi savanāya.
Sādhu vata bhavantaṁyeva ānandaṁ paṭibhātu sake ācariyake dhammīkathā”ti.
“Tena hi, sandaka, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho sandako paribbājako āyasmato ānandassa paccassosi.
Āyasmā ānando etadavoca:
“cattārome, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena abrahmacariyavāsā akkhātā cattāri ca anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni, yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Katame pana te, bho ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsā akkhātā, yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti?
“Idha, sandaka, ekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi:
‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paroloko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedenti.
Cātumahābhūtiko ayaṁ puriso yadā kālaṁ karoti, pathavī pathavīkāyaṁ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṁ anupeti anupagacchati, tejo tejokāyaṁ anupeti anupagacchati, vāyo vāyokāyaṁ anupeti anupagacchati, ākāsaṁ indriyāni saṅkamanti.
Āsandipañcamā purisā mataṁ ādāya gacchanti,
yāvāḷāhanā padāni paññāyanti.
Kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti.
Bhassantā āhutiyo;
dattupaññattaṁ yadidaṁ dānaṁ.
Tesaṁ tucchā musā vilāpo ye keci atthikavādaṁ vadanti.
Bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti na honti paraṁ maraṇā’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—
natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paroloko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedenti.
Cātumahābhūtiko ayaṁ puriso yadā kālaṁ karoti, pathavī pathavīkāyaṁ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṁ anupeti anupagacchati, tejo tejokāyaṁ anupeti anupagacchati, vāyo vāyokāyaṁ anupeti anupagacchati, ākāsaṁ indriyāni saṅkamanti.
Āsandipañcamā purisā mataṁ ādāya gacchanti, yāvāḷāhanā padāni paññāyanti.
Kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti.
Bhassantā āhutiyo;
dattupaññattaṁ yadidaṁ dānaṁ.
Tesaṁ tucchā musā vilāpo ye keci atthikavādaṁ vadanti.
Bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti na honti paraṁ maraṇā’ti.
Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ.
Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubho kāyassa bhedā ucchijjissāma, vinassissāma, na bhavissāma paraṁ maraṇā’ti.
Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ.
Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi?
‘So abrahmacariyavāso ayan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi:
‘karoto kārayato chindato chedāpayato pacato pācāpayato socayato socāpayato kilamato kilamāpayato phandato phandāpayato pāṇamatipātayato adinnaṁ ādiyato sandhiṁ chindato nillopaṁ harato ekāgārikaṁ karoto paripanthe tiṭṭhato paradāraṁ gacchato musā bhaṇato karoto na karīyati pāpaṁ.
Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo.
Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento chindanto chedāpento pacanto pacāpento, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo.
Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento yajanto yajāpento, natthi tatonidānaṁ puññaṁ, natthi puññassa āgamo.
Dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamo’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—
karoto kārayato chindato chedāpayato pacato pācāpayato socato socāpayato kilamato kilamāpayato phandato phandāpayato pāṇamatipātayato adinnaṁ ādiyato sandhiṁ chindato nillopaṁ harato ekāgārikaṁ karoto paripanthe tiṭṭhato paradāraṁ gacchato musā bhaṇato karoto na karīyati pāpaṁ khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo.
Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento chindanto chedāpento pacanto pacāpento, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo.
Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento yajanto yajāpento, natthi tatonidānaṁ puññaṁ, natthi puññassa āgamo.
Dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamo’ti.
Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ.
Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubhinnaṁ kurutaṁ na karīyati pāpan’ti.
Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ.
Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi?
‘So abrahmacariyavāso ayan’ti
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi:
‘natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya;
ahetū appaccayā sattā saṅkilissanti;
natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā;
ahetū appaccayā sattā visujjhanti;
natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo;
sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—
natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya, ahetū appaccayā sattā saṅkilissanti.
Natthi hetu natthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā, ahetū appaccayā sattā visujjhanti.
Natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo, sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti.
Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ.
Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubho ahetū appaccayā visujjhissāmā’ti.
Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ.
Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi?
‘So abrahmacariyavāso ayan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi:
‘sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā,
te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Katame satta?
Pathavīkāyo āpokāyo tejokāyo vāyokāyo sukhe dukkhe jīve sattame—
ime sattakāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā.
Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti. Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Tattha natthi hantā vā ghātetā vā sotā vā sāvetā vā viññātā vā viññāpetā vā.
Yopi tiṇhena satthena sīsaṁ chindati, na koci kañci jīvitā voropeti.
Sattannaṁ tveva kāyānamantarena satthaṁ vivaramanupatati.
Cuddasa kho panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni tīṇi ca kammāni, kamme ca aḍḍhakamme ca, dvaṭṭhipaṭipadā, dvaṭṭhantarakappā, chaḷābhijātiyo, aṭṭha purisabhūmiyo, ekūnapaññāsa ājīvakasate, ekūnapaññāsa paribbājakasate, ekūnapaññāsa nāgāvāsasate, vīse indriyasate, tiṁse nirayasate, chattiṁsa rajodhātuyo, satta saññīgabbhā, satta asaññīgabbhā, satta nigaṇṭhigabbhā, satta devā, satta mānusā, satta pesācā, satta sarā, satta pavuṭā, satta papātā, satta papātasatāni, satta supinā, satta supinasatāni, cullāsīti mahākappino satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissanti.
Tattha natthi imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā aparipakkaṁ vā kammaṁ paripācessāmi, paripakkaṁ vā kammaṁ phussa phussa byantiṁ karissāmīti.
Hevaṁ natthi doṇamite sukhadukkhe pariyantakate saṁsāre, natthi hāyanavaḍḍhane, natthi ukkaṁsāvakaṁse.
Seyyathāpi nāma suttaguḷe khitte nibbeṭhiyamānameva paleti;
evameva bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissantī’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—
sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā.
Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti.
Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Katame satta?
Pathavīkāyo āpokāyo tejokāyo vāyokāyo sukhe dukkhe jīve sattame—
ime satta kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā.
Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti.
Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Tattha natthi hantā vā ghātetā vā sotā vā sāvetā vā viññātā vā viññāpetā vā.
Yopi tiṇhena satthena sīsaṁ chindati, na koci kañci jīvitā voropeti.
Sattannaṁ tveva kāyānamantarena satthaṁ vivaramanupatati.
Cuddasa kho panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni tīṇi ca kammāni, kamme ca aḍḍhakamme ca, dvaṭṭhipaṭipadā, dvaṭṭhantarakappā, chaḷābhijātiyo, aṭṭha purisabhūmiyo, ekūnapaññāsa ājīvakasate, ekūnapaññāsa paribbājakasate, ekūnapaññāsa nāgāvāsasate, vīse indriyasate, tiṁse nirayasate, chattiṁsa rajodhātuyo, satta saññīgabbhā, satta asaññīgabbhā, satta nigaṇṭhigabbhā, satta devā, satta mānusā, satta pesācā, satta sarā, satta pavuṭā, satta papātā, satta papātasatāni, satta supinā, satta supinasatāni, cullāsīti mahākappino satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissanti.
Tattha natthi imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā aparipakkaṁ vā kammaṁ paripācessāmi, paripakkaṁ vā kammaṁ phussa phussa byantiṁ karissāmīti, hevaṁ natthi doṇamite sukhadukkhe pariyantakate saṁsāre, natthi hāyanavaḍḍhane, natthi ukkaṁsāvakaṁse.
Seyyathāpi nāma suttaguḷe khitte nibbeṭhiyamānameva paleti;
evameva bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissantī’ti.
Sace pana imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ.
Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubho sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissāmā’ti.
Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ.
Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi?
‘So abrahmacariyavāso ayan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena catuttho abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Ime kho te, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsā akkhātā yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda.
Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsāva samānā ‘abrahmacariyavāsā’ti akkhātā yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalanti.
Katamāni pana tāni, bho ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti?
“Idha, sandaka, ekacco satthā sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti:
‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti.
So suññampi agāraṁ pavisati, piṇḍampi na labhati, kukkuropi ḍaṁsati, caṇḍenapi hatthinā samāgacchati, caṇḍenapi assena samāgacchati, caṇḍenapi goṇena samāgacchati, itthiyāpi purisassapi nāmampi gottampi pucchati, gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchati.
So ‘kimidan’ti puṭṭho samāno ‘suññaṁ me agāraṁ pavisitabbaṁ ahosi’, tena pāvisiṁ; ‘piṇḍampi aladdhabbaṁ ahosi’, tena nālatthaṁ; ‘kukkurena ḍaṁsitabbaṁ ahosi’, tenamhi daṭṭho; ‘caṇḍena hatthinā samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘caṇḍena assena samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘caṇḍena goṇena samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘itthiyāpi purisassapi nāmampi gottampi pucchitabbaṁ ahosi’, tena pucchiṁ; ‘gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchitabbaṁ ahosi’, tena pucchinti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti …pe… ‘gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchitabbaṁ ahosi, tena pucchin’ti.
So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā anussaviko hoti anussavasacco.
So anussavena itihitihaparamparāya piṭakasampadāya dhammaṁ deseti.
Anussavikassa kho pana, sandaka, satthuno anussavasaccassa sussutampi hoti dussutampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā anussaviko anussavasacco so anussavena itihitihaparamparāya piṭakasampadāya dhammaṁ deseti.
Anussavikassa kho pana satthuno anussavasaccassa sussutampi hoti dussutampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti’.
So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā takkī hoti vīmaṁsī.
So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ dhammaṁ deseti.
Takkissa kho pana, sandaka, satthuno vīmaṁsissa sutakkitampi hoti duttakkitampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā takkī vīmaṁsī.
So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ dhammaṁ deseti.
Takkissa kho pana satthuno vīmaṁsissa sutakkitampi hoti duttakkitampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti’.
So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā mando hoti momūho.
So mandattā momūhattā tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ:
‘evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā mando momūho.
So mandattā momūhattā tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ—
evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti.
So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena catutthaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Imāni kho tāni, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda.
Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāneva brahmacariyāni anassāsikāni brahmacariyānīti akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
So pana, bho ānanda, satthā kiṁ vādī kiṁ akkhāyī yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Idha, sandaka, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā …pe…
so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe
vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati.
Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Yo pana so, bho ānanda, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññā vimutto paribhuñjeyya so kāme”ti?
“Yo so, sandaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so pañcaṭṭhānāni ajjhācarituṁ.
Abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe agāriyabhūto.
Yo so, sandaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so imāni pañcaṭṭhānāni ajjhācaritun”ti.
“Yo pana so, bho ānanda, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitaṁ:
‘khīṇā me āsavā’”ti?
“Tena hi, sandaka, upamaṁ te karissāmi;
upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, sandaka, purisassa hatthapādā chinnā;
tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ jānāti:
‘chinnā me hatthapādā’ti, udāhu paccavekkhamāno jānāti:
‘chinnā me hatthapādā’”ti?
“Na kho, bho ānanda, so puriso satataṁ samitaṁ jānāti:
‘chinnā me hatthapādā’ti.
Api ca kho pana naṁ paccavekkhamāno jānāti:
‘chinnā me hatthapādā’”ti.
“Evameva kho, sandaka, yo so bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ na paccupaṭṭhitaṁ:
‘khīṇā me āsavā’ti;
api ca kho pana naṁ paccavekkhamāno jānāti:
‘khīṇā me āsavā’”ti.
“Kīvabahukā pana, bho ānanda, imasmiṁ dhammavinaye niyyātāro”ti?
“Na kho, sandaka, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye imasmiṁ dhammavinaye niyyātāro”ti.
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda.
Na ca nāma sadhammokkaṁsanā bhavissati, na paradhammavambhanā, āyatane ca dhammadesanā tāva bahukā ca niyyātāro paññāyissanti.
Ime panājīvakā puttamatāya puttā attānañceva ukkaṁsenti, pare ca vambhenti tayo ceva niyyātāro paññapenti, seyyathidaṁ—
nandaṁ vacchaṁ, kisaṁ saṅkiccaṁ, makkhaliṁ gosālan”ti.
Atha kho sandako paribbājako sakaṁ parisaṁ āmantesi:
“carantu bhonto samaṇe gotame brahmacariyavāso.
Na dāni sukaraṁ amhehi lābhasakkārasiloke pariccajitun”ti.
Iti hidaṁ sandako paribbājako sakaṁ parisaṁ uyyojesi bhagavati brahmacariyeti.
Sandakasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.
Nya 1Thus I heard:
On one occasion the Blessed One was living at Kosambi in Ghosita’s Park.
Nya 2Now on that occasion the Wanderer Sandaka was staying in the Pilakkha-tree Cave with a large assembly of wanderers.
Nya 3Then when it was evening, the venerable Ānanda rose from meditation, and he addressed the bhikkhus thus: “Friends, let us go to the Devakaṭasobbha, the Rain Pool, to see the cave.”
“Yes, friend,” they replied. Then the venerable Ānanda went to the Rain Pool with a number of bhikkhus.
Nya 4Now on that occasion the wanderer Sandaka was seated with a large assembly of wanderers who were shouting, very clamorous and noisy, talking many kinds of vulgar talk, such as talk of kings, robbers, ministers, armies, alarms, battles, food, drink, clothing, beds, garlands, perfumes, relatives, vehicles, villages, towns, cities, countries, women, heroes, streets, wells, the dead, trifles, the origin of the world, the origin of the sea, whether things are or are not.
The wanderer Sandaka saw the venerable Ānanda coming in the distance. Seeing him, he quieted his own assembly thus: “Sirs, be quiet; sirs, make no noise. Here comes the monk Ānanda. If there are any disciples of the monk Gotama staying in Kosambi, this monk Ānanda is one of them. The venerable ones like quiet; they are disciplined in quiet, they commend quiet. Perhaps if he finds our assembly a quiet one, he will think to join us.”
Then the wanderers were silent.
Nya 5The venerable Ānanda went to Sandaka the wanderer, who said to him: “Come, Master Ānanda, welcome, Master Ānanda; it is long since Master Ānanda made an occasion to come here. Let Master Ānanda be seated; this seat is ready.”
The venerable Ānanda sat down on the seat prepared, and Sandaka the wanderer took another, lower, seat and sat down at one side. When he had done so, the venerable Ānanda asked him: “For what talk are you gathered here now, Sandaka? And what was your talk meanwhile which was left unfinished?”
“Let that be, Master Ānanda, let the talk for which we are now gathered here be. Master Ānanda can well hear about that later. It would be good if a talk on the Dhamma in his own Teacher’s doctrine occurred to Master Ānanda.”
“Then Sandaka, listen and attend carefully to what I shall say.”
“Yes, sir,” he replied. The venerable Ānanda said this:
Nya 6“Sandaka, these four ways of life that are no life divine have been declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened; and also these four kinds of life divine without consolation have been declared, wherein a wise man almost certainly would not live the life divine, or while living it, he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.”
“But, Master Ānanda, what are those four ways of life that are no life divine declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man almost certainly would not live the life divine, or, while living it, he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable?”
Nya 7“Here, Sandaka, some teacher’s theory and view is this: ‘There is nothing given, nothing offered, nothing sacrificed, no fruit or ripening of good and bad kammas, no this world, no other world, no mother, no father, no spontaneously born beings, no good and virtuous monks and divines that have themselves realized by direct knowledge and declare this world and the other world. Man consists of four great elements. When he dies, earth returns and goes back to the body of earth, water returns and goes back to the body of water, fire returns and goes back to the body of fire, and air returns and goes back to the body of air, the faculties are transferred to space. Four men with the bier as fifth go with the corpse. The funeral orations last as far as the charnel ground. The bones whiten. Burnt offerings end with ashes. Giving is fools’ doctrine. When anyone makes the assertion that there is giving and the like, it is empty, false prating. Fools and wise men are alike cut off and annihilated with the dissolution of the body; after death they are not.’
Nya 8“About this a wise man considers thus, ‘This good teacher has this theory and view: “There is nothing given… after death they are not”. Now if this good teacher’s words are true, then here in this teaching I have done my duty by not doing it, here I have lived the life divine by not living it; and both of us are exactly equal here in this teaching, both are arrived at equality. But what I do not say is that both of us are cut off and annihilated with the dissolution of the body, that after death we shall not be. But this good teacher’s nakedness, his shavenness, devotion to the squatting position and pulling out of hair and beard, are superfluous, since I, who live in a house crowded with children, using Benares sandalwood, wearing garlands, and unguents, accepting gold and silver, shall reap exactly the same destination as this good teacher. What do I know and see that I should lead the life divine under this teacher?’ So when he finds that this is no life divine, he consequently turns away and leaves it.
Nya 9“This is the first way of life that is no life divine declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man would certainly not live the life divine, or while living it he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 10“Again, Sandaka here some teacher’s theory and view is this: ‘When a man acts or has action done, when he mutilates or has mutilation done, when he tortures or has torturing done, when he inflicts sorrow, when he oppresses, when he threatens or causes threatening, when he slays living beings, takes what is not given, breaks open locks, raids for plunder, commits burglary, ambushes highways, goes with another’s wife, utters falsehood—no evil is done for the doer. If a man with a razor-rimmed wheel makes the living beings on this earth into one mass of meat, into one heap of meat, there is no evil sourcing from it and no outcome of evil. If a man follows the Ganges’ south bank killing and slaughtering, mutilating and having mutilation done, there is no evil sourcing from it and no outcome of evil. If a man follows the Ganges’ north bank giving gifts and having them given, offering sacrifices and having them offered, then there is no merit sourcing from it and no outcome of merit. By giving, by training, by restraint, by speaking truth, there is no merit and no outcome of merit.’
Nya 11“About this a wise man considers thus: ‘This good teacher has this theory and view, “When a man acts… there is no merit and no outcome of merit.” If this good teacher’s words are true, then here in this teaching I have done my duty by not doing it, here I have lived the life divine by not living it; and both of us are exactly equal here in this teaching, both are arrived at equality. But what I do not say is that whatever both of us do, no evil is done. But this good teacher’s nakedness… are superfluous…’ So when he finds that this is no life divine, he consequently turns away and leaves it.
Nya 12“This is the second way of life that is no life divine declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man would certainly not live the life divine, or, while living it, he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 13“Again, Sandaka, here some teacher’s theory and view is this: ‘There is no reason, no condition, for beings’ defilement; beings are defiled without reason or condition. There is no reason, no condition, for beings’ purification; beings are purified without reason or condition. There is no power, no energy, no manly courage, no manly endurance; all creatures, all breathing things, all beings, all souls, are without mastery, power or energy; moulded by fate, coincidence and essence, they experience pleasure and pain in the six species.’
Nya 14“About this a wise man considers thus: ‘This good teacher has this theory and view, “There is no reason… in the six species.” If this good teacher’s words are true, then here in this teaching I have done my duty by not doing it, here I have lived the life divine by not living it; and both of us are exactly equal here in this teaching, both are arrived at equality. But what I do not say is that both of us are purified without reason or condition. But this good teacher’s nakedness… are superfluous…’ So when he finds this is no life divine, he consequently turns away and leaves it.
Nya 15“This is the third way of life that is no life divine declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man would certainly not live the life divine, or, while living it, he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 16“Again, Sandaka, here some teacher’s theory and view is this: ‘There are these seven bodies that are unmade, with no assignment made, uncreated, without a creator, barren, standing like mountain peaks, standing like pillars. They do not move or change or afflict each other. None is able to arouse pleasure or pain, or pleasure and pain, in another. What are the seven? They are the earth body, the water body, the fire body, the air body, pleasure, pain and soul as the seventh. These seven bodies are unmade, with no assignment made, uncreated, without a creator, barren, standing like mountain peaks, standing like pillars. They do not move or change or afflict each other. None is able to arouse pleasure, pain, or pleasure and pain, in another. Herein, there is no killer, no slaughterer, no hearer, no maker of hearing, no cognizer, no intimator. Even those who cut off a head with a sharp knife do not deprive anyone of life, the knife merely passes through the space between the seven bodies. But there are these fourteen-hundred thousand principal kinds of generation, and sixty hundred kinds, and six hundred kinds; then five hundred kinds of kamma, and five kinds of kamma, and kamma and half kamma; then sixty-two ways, sixty-two aeons intervals sub-aeons, six species, eight planes of man, forty-nine hundred kinds of livelihood, forty-nine hundred kinds of going-forth, forty-nine hundred abodes of serpents, twenty hundred faculties, thirty hundred hells, thirty-six elements of dust, seven percipient breeds, seven non-percipient breeds, seven sheathless breeds, seven kinds of gods, seven kinds of men, seven kinds of demons, seven lakes, seven knots, seven kinds of chasms, seven hundred kinds of chasms, seven kinds of dreams, seven hundred kinds of dreams, and there are eighty-four hundred-thousand great aeons wherein, by travelling and trudging through the round of rebirth fools and wise men both will make an end of suffering. “By this virtue or duty or mortification or life divine I shall get unripened kamma to ripen or annihilate ripened kamma as it comes”: there is none of that. Pleasure and pain are meted out. With the end of the round of rebirths there is no loss or increase, no improvement or worsening. Just as a ball of string when thrown goes as far as the string unwinds, so too, by travelling and trudging through the round of rebirths fools and wise men both will make an end of suffering.’
Nya 17“About this a wise man considers thus: ‘This good teacher has this theory and view, “There are these seven bodies… fools and wise men both will make an end of suffering.” If this good teacher’s words are true, then here in this teaching I have done my duty by not doing it, here I have lived the life divine by not living it; and both of us are exactly equal here in this teaching, both are arrived at equality. But what I do not say is that both of us will make an end of suffering by travelling and trudging through the round of rebirths. But this good teacher’s nakedness, his shavenness, devotion to the squatting position and pulling out hair and beard, are superfluous since I, who live in a house crowded with children, using Benares sandalwood, wearing garlands, scents and unguents, accepting gold and silver, shall reap exactly the same destination as this good teacher. What do I know and see that I should lead the life divine under this teacher?’ So when he finds that this is no life divine, he consequently turns and leaves it.
Nya 18“This is fourth way of life that is no life divine declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man would certainly not live the life divine, or while living it he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 19“These are the four ways of life which are no life divine declared by the Blessed One… the true way that is profitable.”
Nya 20“It is wonderful, Master Ānanda, it is marvellous, how the four ways of life that are no life divine have been declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man certainly would not live the life divine, or while living it he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable! But, Master Ānanda, what are those four kinds of life divine without consolation that have been declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man certainly would not lead the life divine, or while living it he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable?”
Nya 21“Here, Sandaka, some omniscient, all-seeing teacher claims to have complete knowledge and vision thus: ‘Whether I am walking or standing or sleeping or waking, my knowledge and vision are continuously, unceasingly maintained.’ He enters an empty house, gets no alms-food, a dog bites him, he meets with a savage elephant, he meets with a savage horse, he meets with a savage bull, he asks the name and surname of a woman and of a man, he asks the way to a village or town. When he is questioned: ‘How is this?’ he replies: ‘The empty house had to be entered by me, that is why I entered it. Alms-food had not to be got by me, that is why I did not get it. There had to be a biting by a dog, that is why I was bitten. There had to be a meeting with a savage elephant… savage horse… savage bull… that is why I met with it. There had to be an asking of a woman’s and a man’s name and surname, that is why I asked. There had to be an asking the way to a village or town, that I why I asked.’
Nya 22“About this a wise man considers thus: ‘This omniscient all-seeing good teacher claims to have complete knowledge and vision thus… There had to be an asking the way to a village or town, that is why I asked.’
“So when he finds that this life divine is without consolation, he consequently turns away and leaves it.
Nya 23“This is the first life divine without consolation declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man certainly would not live the life divine, or while living it, he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 24“Again, Sandaka, here some teacher depends on oral tradition, his truth is oral tradition, he teaches a Dhamma by oral tradition, by legends handed down, by what has come down in scriptures. But when a teacher depends on oral tradition and his truth is oral tradition, some is well remembered and some is ill remembered, and some is thus and some is otherwise.
Nya 25“About this a wise man considers thus: ‘This good teacher depends on oral tradition… some is thus and some is otherwise.’
“So when he finds that this life divine is without consolation, he consequently turns away and leaves it.
Nya 26“This is the second life divine without consolation… he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 27“Again, Sandaka, here a certain teacher is a rationalist, an enquirer. He teaches a Dhamma hammered out by reasoning, following a line of enquiry as it occurs to him. But when a teacher is a rationalist, an enquirer, some is well reasoned and some is ill reasoned, and some is thus and some is otherwise.
Nya 28“About this a wise man considers thus: ‘This good teacher is a rationalist… some is thus and some is otherwise.’
“So when he finds that this life divine is without consolation, he consequently turns away and leaves it.
Nya 29“This is the third life divine without consolation… he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 30“Again, Sandaka, here a certain teacher is dense and confused. Because he is dense and confused, when he is asked such and such a question he starts verbal wriggling, eel-wriggling: ‘I don’t say it is like this. And I don’t say it is like that. And I don’t say it is otherwise. And I don’t say it not so. And I don’t say it not not so.’
Nya 31“About this a wise man considers thus: ‘This good teacher is dense and confused… And I don’t say it is not not so.’
“So when he finds that this life divine is without consolation he consequently turns away leaves it.
Nya 32“This is the fourth life divine without consolation declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man certainly would not live the life divine, or while living it, he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 33“These are the four kinds of life divine without consolation… he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.”
Nya 34“It is wonderful, Master Ānanda, it is marvellous, how the four kinds of life divine without consolation have been declared by the Blessed One who knows and sees, Arahant and Fully Enlightened, wherein a wise man certainly would not live the life divine, or while living it, he would not succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable!
“But, Master Ānanda, what does he tell, what does he declare, wherein a wise man certainly would live the life divine, and while living it he would succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable?”
Nya 35“Here, Sandaka, a Tathāgata appears in the world, Arahant and Fully Enlightened, perfect in true knowledge and conduct, sublime, knower of worlds, incomparable leader of men to be tamed, teacher of gods and men, enlightened, blessed.
Nya 36“He declares this world with its gods, its Māras and its Brahmā Divinities, this generation with its monks and divines, with its kings, and men, which he has himself realized by direct knowledge.
Nya 37“He teaches Dhamma good in the beginning, good in the middle and good in the end, with the right meaning and phrasing, and he announces a life divine that is utterly perfect and pure.
Nya 38“A householder or householder’s son or one born in some clan hears that Dhamma. On hearing the Dhamma he acquires faith in the Tathāgata. Possessing that faith, he considers thus: ‘House life is crowded and dirty; life gone forth is wide open. It is not possible, living in a household, to lead a life divine as utterly perfect and pure as a polished shell. Suppose I shaved off hair and beard, put on the yellow cloth, and went forth from the home life into homelessness?’
“And on another occasion, abandoning perhaps a small, perhaps a large fortune, abandoning perhaps a small, perhaps a large circle of relatives, he shaves off hair and beard, puts on the yellow cloth, and goes forth from the home life into homelessness.
Nya 39“Being thus gone forth and possessing the bhikkhus’ training and way of life, abandoning killing living beings, he becomes one who abstains from killing living beings, with rod and weapon laid aside, gentle and kindly, he abides compassionate to all beings.
“Abandoning taking what is not given, he becomes one who abstains from taking what is not given, taking only what is given, expecting only what is given, he abides pure in himself by not stealing.
“Abandoning what is not the life divine, he becomes one who lives the life divine, who lives apart abstaining from vulgar lechery.
“Abandoning false speech, he becomes one who abstains from false speech, he speaks truth, cleaves to truth, is trustworthy, reliable and undeceiving of the world.
“Abandoning malicious speech, he becomes one who abstains from malicious speech: as one who is neither a repeater elsewhere of what is heard here for the purpose of causing division from these, nor a repeater to these of what is heard elsewhere for the purpose of causing division from those, who is thus a reuniter of the divided, a promoter of friendships, and enjoying concord, rejoicing in concord, delighting in concord, he becomes a speaker of words that promote concord.
“Abandoning harsh speech, he becomes one who abstains from harsh speech: he becomes a speaker of such words as are innocent, pleasing to the ear and lovable, as go to the heart, are civil, desired of many, and dear to many.
“Abandoning gossip, he becomes one who abstains from gossip: as one who tells in season what is true and beneficial and the Dhamma and Discipline, he becomes a speaker of timely words, worth recalling, reasoned, measured and connected with good.
“He becomes one who abstains from injuring seeds and plants.
“He becomes one who eats in only one part of the day, refusing food at night and late meals.
“He becomes one who abstains from dancing, singing, music and theatrical shows.
“He becomes one who abstains from wearing of garlands, smartening with scent and embellishment with unguents.
“He becomes one who abstains from high and large couches.
“He becomes one who abstains from accepting gold and silver.
“He becomes one who abstains from accepting raw corn.
“He becomes one who abstains from accepting raw meat.
“He becomes one who abstains from accepting women and girls.
“He becomes one who abstains from accepting bondswomen and bondsmen.
“He becomes one who abstains from accepting sheep and goats.
“He becomes one who abstains from accepting poultry and pigs.
“He becomes one who abstains from accepting elephants, cattle, horses and mares.
“He becomes one who abstains from accepting fields and lands.
“He becomes one who abstains from going on errands.
“He becomes one who abstains from buying and selling.
“He becomes one who abstains from false weights, false metal and false measures.
“He becomes one who abstains from cheating, deceiving, defrauding and trickery.
“He becomes one who abstains from wounding, murdering, binding brigandage, plunder and violence.
“He becomes one who is content with robes to keep the body, with alms-food to keep the belly: wherever he goes he takes all with him. Just as wherever a winged bird flies it flies using its own wings, so too he becomes one who is content with robes to keep the body, with alms-food to keep the belly: wherever he goes he takes all with him.
“Possessing this store of Noble Ones’ virtue, he feels in himself pleasure that is blameless.
Nya 40“He becomes one who, on seeing a visible form with the eye, apprehends no signs and features through which, if he left the eye faculty unguarded, evil unprofitable dhammas of covetousness and grief might invade him. He practises the way of restraint, he guards the eye faculty, undertakes the restraint of the eye faculty. On hearing a sound with the ear… On smelling an odour with the nose… On tasting a flavour with the tongue… On touching a tangible with the body… On cognizing a dhamma with the mind… undertakes the restraint of the mind faculty.
“Possessing this Noble Ones’ faculty restraint, he feels in himself pleasure that is blameless.
Nya 41“He becomes one who acts in full awareness when moving forward and moving backward, who acts in full awareness when looking towards and looking away, who acts in full awareness when flexing and extending, who acts in full awareness when wearing the patched cloak, robes and bowl, who acts in full awareness when eating, drinking, chewing and tasting, who acts in full awareness when evacuating the bowels and making water, who acts in full awareness when walking, standing, sitting, waking up, talking and keeping silent.
Nya 42“Possessing this store of the Noble Ones’ virtue, and possessing this Noble Ones’ faculty restraint, and possessing this Noble Ones’ mindfulness and full awareness, he resorts to a secluded resting-place—to the forest, a tree-root, a rock, a ravine, a mountain cave, a charnel ground, a woodland solitude, an open space, a heap of straw.
Nya 43“On return from his alms-round after the meal, he sits down, folding his legs crosswise, setting his body erect, establishing mindfulness before him.
“Abandoning covetousness for the world, he abides with a mind free from covetousness, he purifies mind from covetousness. Abandoning ill-will and hatred, he abides without a mind of ill-will, compassionate for the welfare of all living beings, he purifies mind from ill-will and hatred. Abandoning lethargy and drowsiness, he abides with a mind free from lethargy and drowsiness, percipient of light, mindful and fully aware, he purifies mind from lethargy and drowsiness. Abandoning agitation and worry, he abides unagitated with a mind stilled in himself, he purifies mind from agitation and worry. Abandoning uncertainty, he abides with a mind crossed beyond uncertainty, unquestioning about profitable dhammas, he purifies mind from uncertainty.
Nya 44“Having thus abandoned these five hindrances, defilements of mind that weaken understanding, quite secluded from sensual desires, secluded from unprofitable dhammas he enters upon and abides in the first jhāna which is accompanied by initial application and sustained application, with happiness and bodily pleasure born of seclusion.
Nya 45“When a wise man attains such sublime distinction under any teacher, he certainly would live the life divine under him, and living it, he would succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.
Nya 46“Again, with the stilling of initial and sustained application, he enters upon and abides in the second jhāna, which has self-confidence and singleness of mind, without initial application and without sustained application, with happiness and pleasure born of concentration.
Nya 47“When a wise man attains such sublime distinction…
Nya 48“Again with the fading as well of happiness… ‘He has a pleasant abiding who has equanimity and is mindful.’
Nya 49“When a wise man attains such sublime distinction…
Nya 50“Again, with the abandoning of bodily pleasure… and has purity of mindfulness due to equanimity.
Nya 51“When a wise man attains such sublime distinction…
Nya 52“When his concentrated mind is thus purified, bright, unblemished, rid of imperfection, malleable, wieldy, steady, and attained to imperturbability, he directs, he inclines the mind to knowledge of the recollection of past life, that is to say, one birth, two births… five births, ten births… fifty births, a hundred births, a thousand births, a hundred thousand births, many aeons of world contraction, many aeons of world expansion, many aeons of world contraction and expansion: there he was so-named, of such a race, with such qualities of appearance, such was his nutriment, such his experience of pleasure and pain, such his life-term; and passing away from there, he appeared elsewhere; and there too he was so-named, of such a race, with such qualities of appearance, such was his nutriment, such his experience of pleasure and pain, such his life-term; and passing away from there he appeared here. Thus with details and particulars he recollects his manifold past life.
Nya 53“When a wise man attains such sublime distinction…
Nya 54“When his concentrated mind is thus purified, bright, unblemished, rid of imperfection, malleable, wieldy, steady, and attained to imperturbability, he directs, he inclines the mind to knowledge of the passing away and reappearance of beings.
“With the heavenly eyesight which is purified and surpasses the human, he sees beings passing away and reappearing, inferior and superior, fair and ugly, well-behaved and ill-behaved; he understands how beings pass on according to their kammas, thus: ‘These worthy beings who are ill-conducted in body, speech and mind, revilers of Noble Ones, wrong in their views, giving effect to wrong view in their kammas actions, have, on the dissolution of the body, after death, appeared in a state of deprivation, in perdition, even in hell; but these worthy beings, who are well-conducted in body, speech and mind, not revilers of Noble Ones, right in their views, giving effect to right view in their kammas actions, have, on the dissolution of the body, after death, appeared in a good destination, even in the heavenly world’, thus with heavenly eyesight which is purified and surpasses the human, he sees beings passing away and reappearing, inferior and superior, fair and ugly, well-behaved and ill-behaved. He understands how beings pass on according to their kamma.
Nya 55“When a wise man attains such sublime distinction…
Nya 56“When his concentrated mind is thus purified and bright, unblemished, rid of imperfection, and become malleable, wieldy, steady and attained to unperturbability, he directs, he inclines the mind to knowledge of exhaustion of taints.
“He has direct knowledge thus: ‘This is suffering’; he has direct knowledge thus: ‘This is the origin of suffering’; he has direct knowledge thus: ‘This is the cessation of suffering’; he has direct knowledge thus: ‘This is the way leading to the cessation of suffering.’ He has direct knowledge thus: ‘These are taints’; he has direct knowledge thus: ‘This is the origin of taints’; he has direct knowledge thus: ‘This is the cessation of taints’; he has direct knowledge thus: ‘This is the way leading to the cessation of taints’.
Nya 57“Knowing thus, seeing thus, his mind is liberated from the taint of sensual desire, from the taint of being, and from the taint of ignorance. When liberated, there is the knowledge ‘It is liberated’. He understands: ‘Birth is exhausted, the life divine has been lived out, what can be done is done, there is no more of this to come.’
Nya 58“When a wise man attains such sublime distinction under any teacher, he certainly would live the life divine under him, and living it, he would succeed in the Dhamma belonging to the true way that is profitable.”
Nya 59“But, Master Ānanda, when a bhikkhu is an Arahant with the taints exhausted and he has lived the life, done what was to be done, laid down the burden, reached the highest goal, destroyed the fetters of being, and through right knowledge is liberated, would he indulge in sensual desires?”
“Sandaka, when a bhikkhu is an Arahant with the taints exhausted… and through right knowledge is liberated, he is incapable of transgression in five instances. A bhikkhu whose taints are exhausted is incapable of purposely depriving a living being of life; he is incapable of taking what is not given, in other words, stealing; he is incapable of indulging in sexual intercourse; he is incapable of knowingly speaking falsehood; he is incapable of indulging sensual desires, laying up a store as formerly in lay life. When a bhikkhu is an Arahant with taints exhausted, and has lived the life, done what was to be done, laid down the burden, reached the highest goal, destroyed the fetters of being, and through right knowledge is liberated, he is incapable of transgression in these five instances.”
Nya 60“But, Master Ānanda, when a bhikkhu is Arahant… and with right knowledge is liberated, whether he is walking or standing or sleeping or waking, are his knowledge and vision that his taints are exhausted continuously, unceasingly maintained?”
“As to that, Sandaka, I shall give you a simile, for some wise men understand by means of a simile the meaning of what is said. Suppose a man’s hands and feet were cut off, does he, whether he is walking or standing or sleeping or waking, know: ‘My hands and feet are cut off’, continuously, unceasingly, or does he know: ‘My hands and feet are cut off’ when he reviews the fact?”
“The man, Master Ānanda, does not know: ‘My hands and feet are cut off’ continuously, unceasingly. On the contrary, he knows: ‘My hands and feet are cut off’ when he reviews the fact.”
“So too, Sandaka, when a bhikkhu is an Arahant… and with right knowledge is liberated, whether he is walking or standing or sleeping or waking, his knowledge and vision that his taints are exhausted are not continuously and unceasingly maintained. On the contrary he knows: ‘My taints are exhausted’ when he reviews the fact.”
Nya 61“How many guides are there in this Dhamma and Discipline, Master Ānanda?”
“There are not one hundred, Sandaka, nor two hundred, nor three hundred, nor four hundred, nor five hundred; there are indeed far more than that in this Dhamma and Discipline.”
“It is wonderful, Master, Ānanda, it is marvellous! There is no lauding one’s own Dhamma and disparaging others’ Dhamma and in the range of the Dhamma’s teaching so many guides appear. But these Ājivaka ascetics, these mothers’ dead sons, I mean Nanda Vaccha, Kisa Sankicca, and Makkhali Gosāla, laud themselves and disparage others.”
Nya 62Then the Wanderer Sandaka addressed his own assembly: “Go, sirs; the way of life under the monk Gotama is the life divine. It is not easy for us now to give up gain, honour and renown.”
That is how the Wanderer Sandaka exhorted his own assembly to the life divine under the Blessed One.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi (Kiều-thưởng-di), tại tu viện Ghosita (Cù-sư-la).
SC 2Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka trú ở hang Pilakka với đại chúng du sĩ, khoảng độ năm trăm du sĩ. Rồi Tôn giả Ānanda, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, và nói với các Tỷ-kheo
SC 3—Chư Hiền, chúng ta hãy đi đến Devakatasobbha để xem hang.
—Thưa vâng, Hiền giả.
SC 4Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Ānanda. Rồi Tôn giả Ānanda với một số đông Tỷ-kheo đi đến Devakatasobbha. Lúc bấy giờ, du sĩ Sandaka ngồi với đại chúng du sĩ đang lớn tiếng, cao tiếng, to tiếng bàn luận nhiều vấn đề phù phiếm như câu chuyện về vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần, câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ uống, câu chuyện về đồ mặc, câu chuyện về giường nằm, câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm, câu chuyện về thị trấn, câu chuyện về thành phố, câu chuyện về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường, câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng của thế giới, hiện trạng của đại dương, câu chuyện về hiện hữu và không hiện hữu. Du sĩ Sandaka thấy Tôn giả Ānanda từ xa đi đến, thấy vậy liền khuyến cáo chúng của mình
SC 5—Các Tôn giả hãy nhỏ tiếng! Các Tôn giả hãy lặng tiếng! Nay đệ tử của Sa-môn Gotama, Sa-môn Ānanda đang đến. Khi nào các đệ tử của Sa-môn Gotama trú ở Kosambi, thời Sa-môn Ānanda này là một vị trong những vị ấy. Các Tôn giả ấy ưa mến trầm lặng, tu tập trong trầm lặng, tán thán trầm lặng, nếu biết chúng này trầm lặng, có thể ghé tại đây.
SC 6Rồi các du sĩ ấy đều im lặng. Tôn giả Ānanda đến chỗ du sĩ Sandaka. Du sĩ Sandaka thưa với Tôn giả Ānanda
SC 7—Hãy đến, Tôn giả Ānanda! Thiện lai, Tôn giả Ānanda! Ðã lâu Tôn giả Ānanda mới tạo cơ hội này, nghĩa là đến đây. Tôn giả Ānanda hãy ngồi, đây là chỗ ngồi đã soạn sẵn.
SC 8Tôn giả Ānanda ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Du sĩ Sandaka lấy một ghế thấp khác rồi ngồi xuống một bên. Tôn giả Ānanda nói với du sĩ Sandaka đang ngồi một bên
SC 9—Này Sandaka, nay các vị hội họp nhau ở đây, đang bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các vị bị gián đoạn?
SC 10—Tôn giả Ānanda, hãy gác một bên vấn đề chúng tôi đang hội họp bàn luận. Lát nữa Tôn giả Ānanda nghe lại cũng không khó khăn gì. Lành thay, nếu được Tôn giả Ānanda thuyết cho pháp thoại vị Ðạo sư của mình.
SC 11—Vậy này Sandaka, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ giảng.
—Thưa vâng, Tôn giả.
SC 12Du sĩ Sandaka vâng đáp Tôn giả Ānanda. Tôn giả Ānanda nói như sau
SC 13—Này Sandaka, bốn pháp phi phạm hạnh trú này, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, Bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và bốn pháp bất an phạm hạnh cũng được tuyên bố. Ở đây, người có trí không thể tự mình sống Phạm hạnh và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 14—Tôn giả Ānanda, bốn pháp phi phạm hạnh trú do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống Phạm hạnh, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện; bốn pháp phi phạm hạnh trú ấy là gì?
SC 15—Ở đây, này Sandaka, có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan điểm như sau: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh, không có tế tự, không có quả dị thục các nghiệp thiện ác, không có đời này, không có đời khác, không có mẹ, không có cha, không có loại hóa sanh, ở đời không có những vị Sa-môn, Bà-la-môn chánh hướng, chánh hạnh, sau khi đã tự mình giác ngộ với thắng trí tuyên bố về đời này và đời sau. Con người này do bốn đại họp thành, khi mệnh chung, địa đại quy nhập địa giới, thủy đại quy nhập thủy giới, hỏa đại quy nhập hỏa giới, phong đại quy nhập phong giới, các căn nhập vào hư không. Bốn người, gánh quan tài với người nằm trong quan tài là năm, gánh người chết mang đi, đến chỗ hỏa táng và thốt ra những lời kể lể, đặc tánh của người chết. Các xương thành màu xám như chim bồ câu, và những vật cúng dường trở thành tro bụi. Chỉ có người ngu mới tán dương bố thí, lời nói của họ trống không, giả dối, vô ích khi họ chấp thuyết “có sự hiện hữu (Atthikavada)”. Kẻ ngu cũng như người trí, sau khi thân hoại mạng chung sẽ đoạn diệt, tiêu thất, không còn tồn tại sau khi chết”.
SC 16Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này, thuyết lý như vầy, quan điểm như vầy: “Không có bố thí, không có lễ hy sinh …, không còn tồn tại sau khi chết”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng ta, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị đoạn diệt, tiêu thất, sẽ không hiện hữu sau khi chết”. Thật sự là quá độ hạnh lõa thể, trọc đầu, tinh tấn ngồi chõ hỏ, nhổ lông tóc của vị Tôn sư này; trong khi ta sống trong gia đình được con cái bao bọc đoanh vây, thọ dụng chiên-đàn Kasi, mang dùng vòng hoa, hương liệu phấn sáp, hưởng thọ vàng bạc, và trong đời sau ta sẽ đồng đẳng với vị Tôn sư này về chỗ thọ sanh. Như vậy, ta biết gì, thấy gì mà ta sẽ sống Phạm hạnh dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 17Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ nhất, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 18Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư có thuyết lý như sau, có quan điểm như sau: “Tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn, hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp đoạt, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất này, làm thành một đống thịt, thành một chồng thịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, gây ra tội ác. Nếu đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy có tội ác, gây ra tội ác. Nếu đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy có phước báo, tạo nên phước báo. Bố thí, tự điều phục, tự chế ngự, nói thật không có công đức, không tạo nên công đức”.
SC 19Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này, có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Tự làm, khiến người làm, …, không tạo nên công đức”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống; nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Hành động của cả hai chúng ta không tạo ra tội ác”. Thật sự là quá độ … mà ta sẽ sống Phạm hạnh dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 20Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ hai, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã tuyên bố và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 21Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư có thuyết lý như vậy, có quan điểm như vầy: “Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình sẽ bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh, không nhân không duyên, các loài hữu tình sẽ được thanh tịnh. Không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả chúng sanh, tất cả sanh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Họ bị dắt dẫn chi phối bởi định mệnh, bởi sự trùng hợp, bởi tự tánh. Họ hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu sanh loại”.
SC 22Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Không có nhân, không có duyên, … Họ hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu sanh loại”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng tôi, không có nhân, không có duyên sẽ được thanh tịnh”. Thật sự là quá độ … mà ta sẽ sống theo hạnh ấy dưới vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 23Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ ba, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 24Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư có thuyết lý như vầy, có quan điểm như vầy: “Có bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đảnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm hại nhau. Chúng không thể ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Thế nào là bảy? Ðịa thân, thủy thân, hỏa thân, phong thân, khổ, lạc, và thứ bảy là mạn. Bảy thân này không bị làm ra, không làm ra, không bị sáng tạo, không sáng tạo, không sanh sản, thường tại như đỉnh núi, đứng thẳng như trụ đá. Chúng bất động, không chuyển biến, không xâm hại nhau. Chúng không thể ảnh hưởng đến lạc hay khổ với nhau, hoặc cả khổ và lạc. Ở đây, không có người giết hại hoặc người bị giết hại, người nghe hoặc người nói, người biết hoặc người khiến cho biết, khi có một ai dùng lưỡi kiếm sắc bén chém đầu, thời không ai tước đoạt sanh mạng của ai cả, lưỡi kiếm chỉ rơi vào giữa bảy thân mà thôi. Có tất cả là 14 trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thêm 60 một trăm và 6 một trăm. Có 5 một trăm loại nghiệp và có 5 nghiệp (theo 5 căn), lại có 3 nghiệp (về thân, khẩu, ý), lại có toàn nghiệp (thân và khẩu), bán nghiệp (ý), có 62 đạo, 62 trung kiếp, 6 giai cấp, 8 nhân địa; 4900 sanh nghiệp, 4900 kẻ du hành, 4900 chỗ ở của loài Nāga, 2000 căn, 3000 cảnh địa ngục, 36 trần giới, 7 tưởng thai, 7 vô tưởng thai, 7 tiết thai (sanh từ đốt, hay ly hệ thai) 7 loài Thiên, 7 loài Người, 7 loài Quỷ, 7 hồ nước, 7 pavutas (núi hay hồ nhỏ), 7000 pavutas, 700 papatas (vực thẳm), 7 mộng, 700 mộng có 8.400.000 đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người trí, sau khi lưu chuyển, luân hồi, sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: “Với giới này, với giới cấm này, với khổ hạnh này, hay với Phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã được thuần thục, bởi những nhẫn thọ liên tục không thể đo lường, khổ và lạc với những vật đo lường, trong luân hồi không có tăng giảm, không có cao thấp. Ví như cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến một mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người trí, sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ chấm dứt khổ đau”.
SC 25Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này có lý thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: “Có bảy thân này … sẽ chấm dứt khổ đau”. Nếu vị Tôn sư này nói đúng sự thật, thời cái gì đã làm ở đây không phải ta làm, cái gì được sống ở đây không phải ta sống, nhưng cả hai chúng ta ở đây đều đồng đẳng khi chứng Sa-môn quả, và ta không có nói: “Cả hai chúng tôi, sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ chấm dứt khổ đau”. Thật sự là quá độ hạnh lõa thể, trọc đầu, tinh tấn ngồi chõ hỏ, nhổ lông tóc của vị Tôn sư này, trong khi ta sống trong gia đình, được con cái bao bọc đoanh vây, thọ dụng chiên-đàn Kasi, mang dùng vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, hưởng thọ vàng bạc, và trong đời sau ta sẽ đồng đẳng với vị Tôn sư này về chỗ thọ sanh. Như vậy ta biết gì, ta thấy gì mà ta sẽ sống theo hạnh ấy với vị Ðạo sư này?” Vị ấy sau khi biết phi phạm hạnh trú này, yểm ly theo hạnh ấy và bỏ đi.
SC 26Như vậy, này Sandaka, là phi phạm hạnh trú thứ tư, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 27Này Sandaka, bốn phi phạm hạnh trú này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây, người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện.
SC 28—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Bốn phi phạm hạnh trú này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là phi phạm hạnh trú, và ở đây, người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện. Tôn giả Ānanda, thế nào là bốn pháp bất an phạm hạnh được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện?
SC 29Ở đây, này Sandaka, có bậc Ðạo sư nhứt thiết tri, nhứt thiết kiến, tự xem đã chứng được tri kiến hoàn toàn: “Khi ta đi, ta đứng, ta ngủ và ta thức, tri, kiến được an trú ở trong ta, liên tục, không gián đoạn”. Vị ấy đi vào một nhà trống, không nhận được đồ ăn khất thực, và con chó cắn vị ấy, vị ấy gặp voi dữ, gặp người dữ, gặp bò dữ, và vị ấy hỏi tên và họ một người đàn bà, một người đàn ông, và hỏi tên những con đường của làng, của trị trấn. Vị ấy được hỏi: “Sao như thế này?”, và trả lời: “Ta phải vào một nhà trống, do vậy ta đã vào; ta phải không nhận được đồ ăn khất thực, do vậy ta đã không nhận được đồ ăn khất thực. Có người phải bị chó cắn, do vậy ta đã bị chó cắn. Có người phải gặp voi dữ, do vậy ta đã gặp; phải gặp ngựa dữ, do vậy ta đã gặp, phải gặp bò dữ, do vậy ta đã gặp. Có người phải hỏi tên và họ một người đàn bà, một người đàn ông, do vậy ta đã hỏi. Có người phải hỏi tên những con đường của làng, của thị trấn, do vậy ta đã hỏi”.
SC 30Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư như sau: “Vị Tôn sư này là nhất thiết tri, nhứt thiết kiến …, do vậy ta đã hỏi”. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 31Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ nhất, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 32Lại nữa, này Sandaka, ở đây, có vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị này thuyết pháp theo truyền thuyết, theo tương truyền và truyền thống, theo uy tín Thánh tạng. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chân thật, vị ấy có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ, khi thì như thế này, khi thì như thế khác.
SC 33Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư: “Vị Tôn sư này y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chơn thật, vị này thuyết pháp theo truyền thuyết, theo tương truyền và truyền thống, theo uy tín Thánh tạng. Nếu vị Ðạo sư y cứ truyền thuyết, xem truyền thuyết là chơn thật, vị ấy có phần khéo nhớ, có phần không khéo nhớ, khi thì như thế này, khi thì như thế khác. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 34Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ hai, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thời không thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 35Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận. Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này thuyết pháp theo nguyên tắc tự mình sáng tác. Này Sandaka, nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận, vị ấy có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận, khi thì như thế này, khi thì như thế khác.
SC 36Ở đây, này Sandaka, người có trí suy nghĩ: “Vị Tôn sư này là nhà lý luận, là nhà suy luận. Do sự đả phá của lý luận và y cứ theo suy luận, vị này thuyết pháp theo nguyên tắc tự mình sáng tác. Nếu vị Ðạo sư là nhà lý luận, là nhà suy luận, vị ấy có phần khéo lý luận, có phần không khéo lý luận, khi thì như thế này, khi thì như thế khác. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an” nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 37Này Sandaka đây là bất an phạm hạnh thứ ba, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện.
SC 38Lại nữa, này Sandaka, ở đây có vị Ðạo sư là người đần độn, là người ngu si. Vì đần độn ngu si, khi được hỏi về vấn đề này, vấn đề khác, vị ấy dùng những lời ngụy biện trườn uốn như con lươn: “Theo tôi không phải như vậy, theo tôi không phải như kia, theo tôi không khác như thế, theo tôi không phải như thế, theo tôi không không phải như thế”.
SC 39Ở đây, này Sandaka, người có trí suy tư: “Vị Tôn sư này là người đần độn, là người ngu si …, theo tôi không phải như thế”. Vị ấy sau khi biết: “Hạnh này là bất an”, nên yểm ly hạnh ấy và bỏ đi.
SC 40Này Sandaka, đây là bất an phạm hạnh thứ tư, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 41Này Sandaka, bốn bất an phạm hạnh này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố, và ở đây người có trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp và chí thiện.
SC 42—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Bốn pháp bất an phạm hạnh này đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố là bất an phạm hạnh, và ở đây người trí không thể tự mình sống theo hạnh ấy, và nếu sống, thì không thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện. Thưa Tôn giả Ānanda, vị Ðạo sư ấy dạy những gì, tuyên bố những gì, mà ở đây, người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống, có thể thành đạt chánh lý, pháp, và chí thiện?
SC 43—Ở đây, này Sandaka, Như Lai xuất hiện ở đời là bậc A-la-hán, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Như Lai sau khi riêng tự chứng ngộ với thượng trí, thế giới này là Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, gồm cả thế giới này với Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Nhơn, lại tuyên bố điều Ngài đã chứng ngộ. Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, đầy đủ văn nghĩa, Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh.
SC 44Người gia trưởng hay con người gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nghe pháp ấy, sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, người ấy suy nghĩ: “Ðời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật không dễ gì cho một người sống ở gia đình có thể sống theo Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”. Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ, hay bỏ tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ, hay bỏ bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, và xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
SC 45Vị ấy xuất gia như vậy, hành trì các học giới và hạnh sống các Tỷ-kheo, từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết xấu hổ, sợ hãi, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Vị ấy từ bỏ lấy của không cho, tránh xa lấy của không cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cướp. Vị ấy từ bỏ đời sống không Phạm hạnh, sống theo Phạm hạnh, sống đời sống viễn ly, tránh xa dâm dục hạ liệt.
SC 46Vị ấy từ bỏ nói láo, nói những lời chân thật, liên hệ đến sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không lường gạt đời. Vị ấy từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến chỗ kia nói để sanh chia rẽ ở những người này; nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chuyện chia rẽ ở những người kia. Như vậy, vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thích thú trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói độc ác, tránh xa lời nói độc ác, nói những lời nói dịu hiền, đẹp tai, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người; vị ấy nói những lời nói như vậy. Vị ấy từ bỏ lời nói phù phiếm, tránh xa lời nói phù phiếm, nói đúng thời, nói chân thật, nói có ý nghĩa, nói pháp, nói luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, hợp lý, có mạch lạc hệ thống, có ích lợi.
SC 47Vị ấy từ bỏ không làm hại đến các hạt giống và các loại cây cỏ, dùng một ngày một bữa, không ăn ban đêm; từ bỏ các món ăn phi thời; từ bỏ không đi xem múa, hát, nhạc, các cuộc trình diễn; từ bỏ không dùng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa, trang sức, và các thời trang; từ bỏ không dùng giường cao và giường lớn; từ bỏ không nhận vàng và bạc; từ bỏ không nhận các hạt sống; từ bỏ không nhận thịt sống, từ bỏ không nhận đàn bà con gái; từ bỏ không nhận nô tỳ gái và trai; từ bỏ không nhận cừu và dê; từ bỏ không nhận gia cầm và heo; từ bỏ không nhận voi, bò, ngựa và ngựa cái; từ bỏ không nhận ruộng nương đất đai; từ bỏ không dùng người làm môi giới hoặc tự mình làm môi giới; từ bỏ không buôn bán; từ bỏ các sự gian lận bằng cân, tiền bạc và đo lường; từ bỏ các tà hạnh như hối lộ, gian trá, lừa đảo; từ bỏ không làm thương tổn, sát hại, câu thúc, bức đoạt, trộm cắp, cướp phá.
SC 48Vị ấy sống biết đủ, bằng lòng với tấm y để che thân với đồ ăn khất thực để nuôi sống, đi tại chỗ nào cũng mang theo y và bình bát. Như con chim bay đến chỗ nào cũng mang theo hai cánh, cũng vậy, Tỷ-kheo bằng lòng với tấm y để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo. Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, nội tâm hưởng lạc thọ không khuyết phạm.
SC 49Khi mắt thấy sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự các nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng … mũi ngửi hương … lưỡi nếm vị … thân cảm xúc … ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn. Vị ấy thành tựu Thánh hộ trì các căn này, nội tâm hưởng lạc thọ không uế nhiễm.
SC 50Vị ấy khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác.
SC 51Vị ấy thành tựu Thánh giới uẩn này, thành tựu Thánh hộ trì các căn này, thành tựu Thánh chánh niệm tỉnh giác này, lựa một trú xứ thanh vắng, như khu rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây ngoài trời, đống rơm.
SC 52Sau khi ăn xong và đi khất thực trở về, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên, và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ dục tham ở đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử, hối quá, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử, hối quá. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với thiện pháp.
SC 53Sau khi trừ bỏ năm triền cái này, các pháp làm tâm cấu uế, làm trí tuệ trở thành yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú Sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Này Sandaka, nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư, thời ở đây người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 54Lại nữa, này Sandaka, vị Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng đạt và an trú Nhị thiền … chứng đạt và an trú Tam thiền … chứng đạt và an trú Tứ thiền. Này Sandaka, nếu một đệ tử chiếm được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 55Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy, hướng tâm đến túc mạng trí. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời … như vậy, vị ấy nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Sandaka, nếu một đệ tử chiếm được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 56Với tâm định tĩnh, thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh … đều do hạnh nghiệp của họ. Này Sandaka nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một vị Ðạo sư … thành đạt chánh đạo, pháp và chí thiện.
SC 57Với tâm định tĩnh thanh tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn, dễ sử dụng, vững chắc, bất động như vậy, vị ấy hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy như thật biết: “Ðây là Khổ” … vị ấy như thật biết: “Ðây là con đường đưa đến lậu hoặc diệt”.
SC 58Vị ấy do biết vậy, do thấy vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”. Này Sandaka, nếu một đệ tử chứng được ưu thắng đặc thù như vậy dưới một Ðạo sư nào, thời ở đây người có trí có thể tự mình sống Phạm hạnh, và khi sống có thể thành đạt chánh đạo, pháp, và chí thiện.
SC 59—Nhưng, thưa Tôn giả Ānanda, một Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị Tỷ-kheo ấy có thể thọ dụng các dục vọng không?
SC 60—Này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không thể vi phạm năm điều: Vị Tỷ-kheo, các lậu đã tận không có thể cố ý sát hại mạng sống chúng sanh; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể lấy của không cho, được gọi là ăn trộm; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hành dâm dục; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể cố ý nói láo; vị Tỷ-kheo các lậu đã tận không có thể hưởng thọ các dục đối với các vật được tàng trữ như trước khi còn tại gia. Này Sandaka, một vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, vị ấy không có thể vi phạm năm điều này.
SC 61—Thưa Tôn giả Ānanda, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, có phải tri kiến vị ấy được an trú một cách liên tục, không gián đoạn: “Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận”?
SC 62—Này Sandaka, tôi sẽ cho Ông một ví dụ, nhờ ví dụ ở đây, một số người có trí sẽ biết ý nghĩa câu nói. Ví như, này Sandaka, một người tay chân bị chặt; khi người ấy đi, đứng, ngủ và thức, tay chân bị chặt một cách liên tục, không gián đoạn, và khi người ấy suy tư về vấn đề này, người ấy biết: “Tay chân của ta bị chặt”. Cũng vậy, này Sandaka, vị Tỷ-kheo nào là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, đã giải thoát nhờ chánh trí, khi vị ấy đi, đứng, ngủ và thức, các lậu hoặc được đoạn tận một cách liên tục, không gián đoạn, và khi vị ấy suy tư về vấn đề này, vị ấy biết: “Các lậu hoặc của ta đã được đoạn tận”.
SC 63—Nhưng thưa Tôn giả Ānanda, có bao nhiêu vị lãnh đạo tối thắng trong Pháp và Luật này?
SC 64—Này Sandaka, không phải chỉ có một trăm, hai trăm, ba trăm, bốn trăm, năm trăm, mà còn nhiều vị lãnh đạo tối thắng hơn nữa trong Pháp và Luật này.
SC 65—Thật vi diệu thay, Tôn giả Ānanda! Thật hy hữu thay, Tôn giả Ānanda! Không có sự tự tán thán pháp của mình, không có sự hủy báng pháp của người khác, nhưng cả hai sự thuyết pháp với các hành trì (ayatane) và rất nhiều vị lãnh đạo tối thắng như vậy đã được thấy (ở đây). Còn các tà mạn ngoại đạo này là những đứa con của người mẹ không con, họ tự tán thán, khen mình chê người, và họ chỉ có ba vị lãnh đạo tối thắng, tức là Nanda Vaccha, Kisā Sankicca và Makkhali Gosāla.
SC 66Rồi du sĩ Sandaka nói với đồ chúng của mình
SC 67—Chư Tôn giả, hãy đi và sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama, tuy rằng nay không có dễ gì cho chúng ta từ bỏ quyền lợi, tôn kính và danh tiếng.
SC 68Như vậy, du sĩ Sandaka đã đưa đồ chúng của mình sống Phạm hạnh dưới Sa-môn Gotama.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena sandako paribbājako pilakkhaguhāyaṁ paṭivasati mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ pañcamattehi paribbājakasatehi.
Atha kho āyasmā ānando sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito bhikkhū āmantesi:
“āyāmāvuso, yena devakatasobbho tenupasaṅkamissāma guhādassanāyā”ti.
“Evamāvuso”ti kho te bhikkhū āyasmato ānandassa paccassosuṁ.
Atha kho āyasmā ānando sambahulehi bhikkhūhi saddhiṁ yena devakatasobbho tenupasaṅkami.
Tena kho pana samayena sandako paribbājako mahatiyā paribbājakaparisāya saddhiṁ nisinno hoti unnādiniyā uccāsaddamahāsaddāya anekavihitaṁ tiracchānakathaṁ kathentiyā, seyyathidaṁ—
rājakathaṁ corakathaṁ mahāmattakathaṁ senākathaṁ bhayakathaṁ yuddhakathaṁ annakathaṁ pānakathaṁ vatthakathaṁ sayanakathaṁ mālākathaṁ gandhakathaṁ ñātikathaṁ yānakathaṁ gāmakathaṁ nigamakathaṁ nagarakathaṁ janapadakathaṁ itthikathaṁ sūrakathaṁ visikhākathaṁ kumbhaṭṭhānakathaṁ pubbapetakathaṁ nānattakathaṁ lokakkhāyikaṁ samuddakkhāyikaṁ itibhavābhavakathaṁ iti vā.
Addasā kho sandako paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna sakaṁ parisaṁ saṇṭhāpesi:
“appasaddā bhonto hontu, mā bhonto saddamakattha;
ayaṁ samaṇassa gotamassa sāvako āgacchati samaṇo ānando.
Yāvatā kho pana samaṇassa gotamassa sāvakā kosambiyaṁ paṭivasanti, ayaṁ tesaṁ aññataro samaṇo ānando.
Appasaddakāmā kho pana te āyasmanto appasaddavinītā appasaddassa vaṇṇavādino;
appeva nāma appasaddaṁ parisaṁ viditvā upasaṅkamitabbaṁ maññeyyā”ti.
Atha kho te paribbājakā tuṇhī ahesuṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena sandako paribbājako tenupasaṅkami.
Atha kho sandako paribbājako āyasmantaṁ ānandaṁ etadavoca:
“etu kho bhavaṁ ānando, svāgataṁ bhoto ānandassa.
Cirassaṁ kho bhavaṁ ānando imaṁ pariyāyamakāsi yadidaṁ idhāgamanāya.
Nisīdatu bhavaṁ ānando, idamāsanaṁ paññattan”ti.
Nisīdi kho āyasmā ānando paññatte āsane.
Sandakopi kho paribbājako aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho sandakaṁ paribbājakaṁ āyasmā ānando etadavoca:
“kāya nuttha, sandaka, etarahi kathāya sannisinnā, kā ca pana vo antarākathā vippakatā”ti?
“Tiṭṭhatesā, bho ānanda, kathā yāya mayaṁ etarahi kathāya sannisinnā.
Nesā bhoto ānandassa kathā dullabhā bhavissati pacchāpi savanāya.
Sādhu vata bhavantaṁyeva ānandaṁ paṭibhātu sake ācariyake dhammīkathā”ti.
“Tena hi, sandaka, suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bho”ti kho sandako paribbājako āyasmato ānandassa paccassosi.
Āyasmā ānando etadavoca:
“cattārome, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena abrahmacariyavāsā akkhātā cattāri ca anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni, yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Katame pana te, bho ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsā akkhātā, yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti?
“Idha, sandaka, ekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi:
‘natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paroloko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedenti.
Cātumahābhūtiko ayaṁ puriso yadā kālaṁ karoti, pathavī pathavīkāyaṁ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṁ anupeti anupagacchati, tejo tejokāyaṁ anupeti anupagacchati, vāyo vāyokāyaṁ anupeti anupagacchati, ākāsaṁ indriyāni saṅkamanti.
Āsandipañcamā purisā mataṁ ādāya gacchanti,
yāvāḷāhanā padāni paññāyanti.
Kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti.
Bhassantā āhutiyo;
dattupaññattaṁ yadidaṁ dānaṁ.
Tesaṁ tucchā musā vilāpo ye keci atthikavādaṁ vadanti.
Bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti na honti paraṁ maraṇā’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—
natthi dinnaṁ, natthi yiṭṭhaṁ, natthi hutaṁ, natthi sukatadukkaṭānaṁ kammānaṁ phalaṁ vipāko, natthi ayaṁ loko, natthi paroloko, natthi mātā, natthi pitā, natthi sattā opapātikā, natthi loke samaṇabrāhmaṇā sammaggatā sammāpaṭipannā ye imañca lokaṁ parañca lokaṁ sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedenti.
Cātumahābhūtiko ayaṁ puriso yadā kālaṁ karoti, pathavī pathavīkāyaṁ anupeti anupagacchati, āpo āpokāyaṁ anupeti anupagacchati, tejo tejokāyaṁ anupeti anupagacchati, vāyo vāyokāyaṁ anupeti anupagacchati, ākāsaṁ indriyāni saṅkamanti.
Āsandipañcamā purisā mataṁ ādāya gacchanti, yāvāḷāhanā padāni paññāyanti.
Kāpotakāni aṭṭhīni bhavanti.
Bhassantā āhutiyo;
dattupaññattaṁ yadidaṁ dānaṁ.
Tesaṁ tucchā musā vilāpo ye keci atthikavādaṁ vadanti.
Bāle ca paṇḍite ca kāyassa bhedā ucchijjanti vinassanti na honti paraṁ maraṇā’ti.
Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ.
Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubho kāyassa bhedā ucchijjissāma, vinassissāma, na bhavissāma paraṁ maraṇā’ti.
Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ.
Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi?
‘So abrahmacariyavāso ayan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi:
‘karoto kārayato chindato chedāpayato pacato pācāpayato socayato socāpayato kilamato kilamāpayato phandato phandāpayato pāṇamatipātayato adinnaṁ ādiyato sandhiṁ chindato nillopaṁ harato ekāgārikaṁ karoto paripanthe tiṭṭhato paradāraṁ gacchato musā bhaṇato karoto na karīyati pāpaṁ.
Khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo.
Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento chindanto chedāpento pacanto pacāpento, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo.
Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento yajanto yajāpento, natthi tatonidānaṁ puññaṁ, natthi puññassa āgamo.
Dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamo’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—
karoto kārayato chindato chedāpayato pacato pācāpayato socato socāpayato kilamato kilamāpayato phandato phandāpayato pāṇamatipātayato adinnaṁ ādiyato sandhiṁ chindato nillopaṁ harato ekāgārikaṁ karoto paripanthe tiṭṭhato paradāraṁ gacchato musā bhaṇato karoto na karīyati pāpaṁ khurapariyantena cepi cakkena yo imissā pathaviyā pāṇe ekaṁ maṁsakhalaṁ ekaṁ maṁsapuñjaṁ kareyya, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo.
Dakkhiṇañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya hananto ghātento chindanto chedāpento pacanto pacāpento, natthi tatonidānaṁ pāpaṁ, natthi pāpassa āgamo.
Uttarañcepi gaṅgāya tīraṁ gaccheyya dadanto dāpento yajanto yajāpento, natthi tatonidānaṁ puññaṁ, natthi puññassa āgamo.
Dānena damena saṁyamena saccavajjena natthi puññaṁ, natthi puññassa āgamo’ti.
Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ.
Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubhinnaṁ kurutaṁ na karīyati pāpan’ti.
Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ.
Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi?
‘So abrahmacariyavāso ayan’ti
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi:
‘natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya;
ahetū appaccayā sattā saṅkilissanti;
natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā;
ahetū appaccayā sattā visujjhanti;
natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo;
sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—
natthi hetu, natthi paccayo sattānaṁ saṅkilesāya, ahetū appaccayā sattā saṅkilissanti.
Natthi hetu natthi paccayo sattānaṁ visuddhiyā, ahetū appaccayā sattā visujjhanti.
Natthi balaṁ, natthi vīriyaṁ, natthi purisathāmo, natthi purisaparakkamo, sabbe sattā sabbe pāṇā sabbe bhūtā sabbe jīvā avasā abalā avīriyā niyatisaṅgatibhāvapariṇatā chasvevābhijātīsu sukhadukkhaṁ paṭisaṁvedentī’ti.
Sace imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ.
Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubho ahetū appaccayā visujjhissāmā’ti.
Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ.
Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi?
‘So abrahmacariyavāso ayan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyo abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā evaṁvādī hoti evaṁdiṭṭhi:
‘sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā,
te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Katame satta?
Pathavīkāyo āpokāyo tejokāyo vāyokāyo sukhe dukkhe jīve sattame—
ime sattakāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā.
Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti. Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Tattha natthi hantā vā ghātetā vā sotā vā sāvetā vā viññātā vā viññāpetā vā.
Yopi tiṇhena satthena sīsaṁ chindati, na koci kañci jīvitā voropeti.
Sattannaṁ tveva kāyānamantarena satthaṁ vivaramanupatati.
Cuddasa kho panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni tīṇi ca kammāni, kamme ca aḍḍhakamme ca, dvaṭṭhipaṭipadā, dvaṭṭhantarakappā, chaḷābhijātiyo, aṭṭha purisabhūmiyo, ekūnapaññāsa ājīvakasate, ekūnapaññāsa paribbājakasate, ekūnapaññāsa nāgāvāsasate, vīse indriyasate, tiṁse nirayasate, chattiṁsa rajodhātuyo, satta saññīgabbhā, satta asaññīgabbhā, satta nigaṇṭhigabbhā, satta devā, satta mānusā, satta pesācā, satta sarā, satta pavuṭā, satta papātā, satta papātasatāni, satta supinā, satta supinasatāni, cullāsīti mahākappino satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissanti.
Tattha natthi imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā aparipakkaṁ vā kammaṁ paripācessāmi, paripakkaṁ vā kammaṁ phussa phussa byantiṁ karissāmīti.
Hevaṁ natthi doṇamite sukhadukkhe pariyantakate saṁsāre, natthi hāyanavaḍḍhane, natthi ukkaṁsāvakaṁse.
Seyyathāpi nāma suttaguḷe khitte nibbeṭhiyamānameva paleti;
evameva bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissantī’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—
sattime kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā.
Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti.
Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Katame satta?
Pathavīkāyo āpokāyo tejokāyo vāyokāyo sukhe dukkhe jīve sattame—
ime satta kāyā akaṭā akaṭavidhā animmitā animmātā vañjhā kūṭaṭṭhā esikaṭṭhāyiṭṭhitā.
Te na iñjanti na vipariṇamanti na aññamaññaṁ byābādhenti.
Nālaṁ aññamaññassa sukhāya vā dukkhāya vā sukhadukkhāya vā.
Tattha natthi hantā vā ghātetā vā sotā vā sāvetā vā viññātā vā viññāpetā vā.
Yopi tiṇhena satthena sīsaṁ chindati, na koci kañci jīvitā voropeti.
Sattannaṁ tveva kāyānamantarena satthaṁ vivaramanupatati.
Cuddasa kho panimāni yonipamukhasatasahassāni saṭṭhi ca satāni cha ca satāni pañca ca kammuno satāni pañca ca kammāni tīṇi ca kammāni, kamme ca aḍḍhakamme ca, dvaṭṭhipaṭipadā, dvaṭṭhantarakappā, chaḷābhijātiyo, aṭṭha purisabhūmiyo, ekūnapaññāsa ājīvakasate, ekūnapaññāsa paribbājakasate, ekūnapaññāsa nāgāvāsasate, vīse indriyasate, tiṁse nirayasate, chattiṁsa rajodhātuyo, satta saññīgabbhā, satta asaññīgabbhā, satta nigaṇṭhigabbhā, satta devā, satta mānusā, satta pesācā, satta sarā, satta pavuṭā, satta papātā, satta papātasatāni, satta supinā, satta supinasatāni, cullāsīti mahākappino satasahassāni, yāni bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissanti.
Tattha natthi imināhaṁ sīlena vā vatena vā tapena vā brahmacariyena vā aparipakkaṁ vā kammaṁ paripācessāmi, paripakkaṁ vā kammaṁ phussa phussa byantiṁ karissāmīti, hevaṁ natthi doṇamite sukhadukkhe pariyantakate saṁsāre, natthi hāyanavaḍḍhane, natthi ukkaṁsāvakaṁse.
Seyyathāpi nāma suttaguḷe khitte nibbeṭhiyamānameva paleti;
evameva bāle ca paṇḍite ca sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissantī’ti.
Sace pana imassa bhoto satthuno saccaṁ vacanaṁ, akatena me ettha kataṁ, avusitena me ettha vusitaṁ.
Ubhopi mayaṁ ettha samasamā sāmaññaṁ pattā, yo cāhaṁ na vadāmi ‘ubho sandhāvitvā saṁsaritvā dukkhassantaṁ karissāmā’ti.
Atirekaṁ kho panimassa bhoto satthuno naggiyaṁ muṇḍiyaṁ ukkuṭikappadhānaṁ kesamassulocanaṁ, yohaṁ puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasanto kāsikacandanaṁ paccanubhonto mālāgandhavilepanaṁ dhārento jātarūparajataṁ sādiyanto iminā bhotā satthārā samasamagatiko bhavissāmi abhisamparāyaṁ.
Sohaṁ kiṁ jānanto kiṁ passanto imasmiṁ satthari brahmacariyaṁ carissāmi?
‘So abrahmacariyavāso ayan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Ayaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena catuttho abrahmacariyavāso akkhāto yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Ime kho te, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsā akkhātā yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda.
Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāro abrahmacariyavāsāva samānā ‘abrahmacariyavāsā’ti akkhātā yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalanti.
Katamāni pana tāni, bho ānanda, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti?
“Idha, sandaka, ekacco satthā sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti:
‘carato ca me tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitan’ti.
So suññampi agāraṁ pavisati, piṇḍampi na labhati, kukkuropi ḍaṁsati, caṇḍenapi hatthinā samāgacchati, caṇḍenapi assena samāgacchati, caṇḍenapi goṇena samāgacchati, itthiyāpi purisassapi nāmampi gottampi pucchati, gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchati.
So ‘kimidan’ti puṭṭho samāno ‘suññaṁ me agāraṁ pavisitabbaṁ ahosi’, tena pāvisiṁ; ‘piṇḍampi aladdhabbaṁ ahosi’, tena nālatthaṁ; ‘kukkurena ḍaṁsitabbaṁ ahosi’, tenamhi daṭṭho; ‘caṇḍena hatthinā samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘caṇḍena assena samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘caṇḍena goṇena samāgantabbaṁ ahosi’, tena samāgamiṁ; ‘itthiyāpi purisassapi nāmampi gottampi pucchitabbaṁ ahosi’, tena pucchiṁ; ‘gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchitabbaṁ ahosi’, tena pucchinti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānāti …pe… ‘gāmassapi nigamassapi nāmampi maggampi pucchitabbaṁ ahosi, tena pucchin’ti.
So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena paṭhamaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā anussaviko hoti anussavasacco.
So anussavena itihitihaparamparāya piṭakasampadāya dhammaṁ deseti.
Anussavikassa kho pana, sandaka, satthuno anussavasaccassa sussutampi hoti dussutampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā anussaviko anussavasacco so anussavena itihitihaparamparāya piṭakasampadāya dhammaṁ deseti.
Anussavikassa kho pana satthuno anussavasaccassa sussutampi hoti dussutampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti’.
So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena dutiyaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā takkī hoti vīmaṁsī.
So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ dhammaṁ deseti.
Takkissa kho pana, sandaka, satthuno vīmaṁsissa sutakkitampi hoti duttakkitampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā takkī vīmaṁsī.
So takkapariyāhataṁ vīmaṁsānucaritaṁ sayampaṭibhānaṁ dhammaṁ deseti.
Takkissa kho pana satthuno vīmaṁsissa sutakkitampi hoti duttakkitampi hoti tathāpi hoti aññathāpi hoti’.
So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena tatiyaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, idhekacco satthā mando hoti momūho.
So mandattā momūhattā tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ:
‘evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti.
Tatra, sandaka, viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘ayaṁ kho bhavaṁ satthā mando momūho.
So mandattā momūhattā tattha tattha pañhaṁ puṭṭho samāno vācāvikkhepaṁ āpajjati amarāvikkhepaṁ—
evantipi me no, tathātipi me no, aññathātipi me no, notipi me no, no notipi me no’ti.
So ‘anassāsikaṁ idaṁ brahmacariyan’ti—
iti viditvā tasmā brahmacariyā nibbijja pakkamati.
Idaṁ kho, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena catutthaṁ anassāsikaṁ brahmacariyaṁ akkhātaṁ yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Imāni kho tāni, sandaka, tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāni brahmacariyāni akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda.
Yāvañcidaṁ tena bhagavatā jānatā passatā arahatā sammāsambuddhena cattāri anassāsikāneva brahmacariyāni anassāsikāni brahmacariyānīti akkhātāni yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ na vaseyya, vasanto ca nārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
So pana, bho ānanda, satthā kiṁ vādī kiṁ akkhāyī yattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Idha, sandaka, tathāgato loke uppajjati arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā …pe…
so ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe
vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, bhikkhu vitakkavicārānaṁ vūpasamā …pe… dutiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, bhikkhu pītiyā ca virāgā upekkhako ca viharati …pe… tatiyaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
Puna caparaṁ, sandaka, bhikkhu sukhassa ca pahānā …pe… catutthaṁ jhānaṁ upasampajja viharati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte pubbenivāsānussatiñāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati, seyyathidaṁ—ekampi jātiṁ dvepi jātiyo …pe… iti sākāraṁ sauddesaṁ anekavihitaṁ pubbenivāsaṁ anussarati.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte sattānaṁ cutūpapātañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So dibbena cakkhunā visuddhena atikkantamānusakena satte passati cavamāne upapajjamāne hīne paṇīte suvaṇṇe dubbaṇṇe sugate duggate …pe… yathākammūpage satte pajānāti.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalaṁ.
So evaṁ samāhite citte parisuddhe pariyodāte anaṅgaṇe vigatūpakkilese mudubhūte kammaniye ṭhite āneñjappatte āsavānaṁ khayañāṇāya cittaṁ abhininnāmeti.
So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti;
‘ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati.
Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Yasmiṁ kho, sandaka, satthari sāvako evarūpaṁ uḷāravisesaṁ adhigacchati tattha viññū puriso sasakkaṁ brahmacariyaṁ vaseyya, vasanto ca ārādheyya ñāyaṁ dhammaṁ kusalan”ti.
“Yo pana so, bho ānanda, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññā vimutto paribhuñjeyya so kāme”ti?
“Yo so, sandaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so pañcaṭṭhānāni ajjhācarituṁ.
Abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sañcicca pāṇaṁ jīvitā voropetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu adinnaṁ theyyasaṅkhātaṁ ādātuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu methunaṁ dhammaṁ paṭisevetuṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sampajānamusā bhāsituṁ, abhabbo khīṇāsavo bhikkhu sannidhikārakaṁ kāme paribhuñjituṁ, seyyathāpi pubbe agāriyabhūto.
Yo so, sandaka, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto, abhabbo so imāni pañcaṭṭhānāni ajjhācaritun”ti.
“Yo pana so, bho ānanda, bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ paccupaṭṭhitaṁ:
‘khīṇā me āsavā’”ti?
“Tena hi, sandaka, upamaṁ te karissāmi;
upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, sandaka, purisassa hatthapādā chinnā;
tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ jānāti:
‘chinnā me hatthapādā’ti, udāhu paccavekkhamāno jānāti:
‘chinnā me hatthapādā’”ti?
“Na kho, bho ānanda, so puriso satataṁ samitaṁ jānāti:
‘chinnā me hatthapādā’ti.
Api ca kho pana naṁ paccavekkhamāno jānāti:
‘chinnā me hatthapādā’”ti.
“Evameva kho, sandaka, yo so bhikkhu arahaṁ khīṇāsavo vusitavā katakaraṇīyo ohitabhāro anuppattasadattho parikkhīṇabhavasaṁyojano sammadaññāvimutto tassa carato ceva tiṭṭhato ca suttassa ca jāgarassa ca satataṁ samitaṁ ñāṇadassanaṁ na paccupaṭṭhitaṁ:
‘khīṇā me āsavā’ti;
api ca kho pana naṁ paccavekkhamāno jānāti:
‘khīṇā me āsavā’”ti.
“Kīvabahukā pana, bho ānanda, imasmiṁ dhammavinaye niyyātāro”ti?
“Na kho, sandaka, ekaṁyeva sataṁ na dve satāni na tīṇi satāni na cattāri satāni na pañca satāni, atha kho bhiyyova ye imasmiṁ dhammavinaye niyyātāro”ti.
“Acchariyaṁ, bho ānanda, abbhutaṁ, bho ānanda.
Na ca nāma sadhammokkaṁsanā bhavissati, na paradhammavambhanā, āyatane ca dhammadesanā tāva bahukā ca niyyātāro paññāyissanti.
Ime panājīvakā puttamatāya puttā attānañceva ukkaṁsenti, pare ca vambhenti tayo ceva niyyātāro paññapenti, seyyathidaṁ—
nandaṁ vacchaṁ, kisaṁ saṅkiccaṁ, makkhaliṁ gosālan”ti.
Atha kho sandako paribbājako sakaṁ parisaṁ āmantesi:
“carantu bhonto samaṇe gotame brahmacariyavāso.
Na dāni sukaraṁ amhehi lābhasakkārasiloke pariccajitun”ti.
Iti hidaṁ sandako paribbājako sakaṁ parisaṁ uyyojesi bhagavati brahmacariyeti.
Sandakasuttaṁ niṭṭhitaṁ chaṭṭhaṁ.