Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
SC 2Rồi Mahāpajāpati Gotama (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
SC 4Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama
SC 5—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
SC 6Lần thứ hai, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt. Hãy nhận lấy cho con.
SC 8Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama
SC 9—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng. Và cả Tăng chúng cũng vậy.
SC 10Lần thứ ba, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 11—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt … hãy nhận lấy cho con.
SC 12Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama:
SC 13—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng … và cả tăng chúng cũng vậy.
SC 14Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 15—Thế Tôn hãy nhận cặp y mới cho Mahāpajāpati Gotama! Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn, là thúc mẫu, là dưỡng mẫu, đã nuôi dưỡng Thế Tôn, đã cho Thế Tôn bú sữa, vì rằng sau khi sanh, thân mẫu của Thế Tôn mệnh chung, chính bà đã cho Thế Tôn bú sữa. Bạch Thế Tôn, và Thế Tôn cũng giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotama. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã quy y Phật, quy Pháp, quy y Tăng. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu đem lại. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama có đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, đầy đủ các giới luật làm bậc Thánh hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama không còn nghi ngờ đối với Khổ, không còn nghi ngờ đối với Khổ tập, không còn nghi ngờ đối với Khổ diệt, không còn nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotama.
SC 16—Thật là như vậy, này Ānanda! Thật là như vậy, này Ānanda! Này Ānanda, nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng đậy, chấp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
SC 17Nếu do nhờ một người mà một người khác từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu men, rượu nấu, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 18Này Ānanda, nếu do nhờ một người mà một người khác đầy đủ tịnh tín bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, đầy đủ các giới luật, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 19Này Ānanda, nếu do nhờ một người mà một người khác không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có khi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 20Này Ānanda, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người. Bố thí các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, là cúng dường thứ nhất, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị Ðộc Giác Phật, là cúng dường thứ hai, phân loại theo hạng người. Bố thí các bậc A-la-hán, đệ tử Như Lai, là cúng dường thứ ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả A-la-hán là cúng dường thứ tư, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Bất lai, là cúng dường thứ năm, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Bất lai là cúng dường thứ sáu, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ bảy, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ tám, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ chín, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ mười, phân loại theo hạng người. Bố thí những vị ngoại học (bahiraka) đã ly tham trong các dục vọng là cúng dường thứ mười một, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu gìn giữ giới luật là cúng dường thứ mười hai, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu theo ác giới là cúng dường thứ mười ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các loại bàng sanh là cúng dường thứ mười bốn, phân loại theo hạng người.
SC 21Tại đây, này Ānanda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức. Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức. Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức. Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức. Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?
SC 22Này Ānanda, có bảy loại cúng dường cho Tăng chúng. Bố thí cho cả hai Tăng chúng với đức Phật là vị cầm đầu là cúng dường Tăng chúng thứ nhất. Bố thí cho cả hai Tăng chúng, sau khi đức Phật đã nhập diệt là cúng dường Tăng chúng thứ hai. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo Tăng là cúng dường Tăng chúng thứ ba. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo ni là cúng dường Tăng chúng thứ tư. Bố thí và nói rằng: “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ năm. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ sáu. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho một số Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ bảy.
SC 23Nhưng này Ānanda, trong thời gian tương lai sẽ có những hạng chuyển tánh (gotrabhuno), với những áo cà-sa vàng xung quanh cổ, theo ác giới, ác pháp, và cuộc bố thí đối với chúng Tăng theo ác giới. Nhưng này Ānanda, khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng, thời này Ānanda, Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng.
SC 24Này Ānanda, có bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường. Thế nào là bốn? Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận. Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho. Này Ānanda, có loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận. Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 25Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho giữ giới, theo thiện pháp, còn những người nhận theo ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này Ānanda, là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận.
SC 26Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho? Ở đây, này Ānanda, người cho theo ác giới, theo ác pháp, còn những người nhận giữ giới, theo thiện pháp. Như vậy, này Ānanda, là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho.
SC 27Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho theo ác giới, theo ác pháp, và người nhận cũng theo ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này Ānanda, là sự cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 28Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho giữ giới, theo thiện pháp; và người nhận cũng giữ giới, theo thiện pháp. Như vậy, này Ānanda, là sự cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 29Này Ānanda, như vậy là bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường.
SC 30Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
SC 31Ai đầy đủ giới luật,
Bố thí cho ác giới;
Vật thí được đúng pháp,
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy,
Thanh tịnh bởi người cho.
SC 32Ai không giữ giới luật,
Bố thí cho thiện giới;
Vật thí không đúng pháp,
Với tâm không hoan hỷ,
Không lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy,
Thanh tịnh bởi người nhận.
SC 33Ai không giữ giới luật,
Bố thí cho ác giới;
Vật thí không đúng pháp,
Với tâm không hoan hỷ,
Không lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy
Cả hai không thanh tịnh.
SC 34Ai đầy đủ giới luật,
Bố thí cho thiện giới;
Vật thí được đúng pháp,
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Ta nói bố thí ấy
Chắc chắn có quả lớn.
SC 35Ai xuất ly tham ái
Bố thí không tham ái,
Vật thí được đúng pháp.
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Ta nói bố thí ấy
Là quảng đại tài thí.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho mahāpajāpati gotamī navaṁ dussayugaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca:
“idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ.
Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca:
“saṅghe, gotami, dehi.
Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Dutiyampi kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca:
“idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ.
Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca:
“saṅghe, gotami, dehi.
Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Tatiyampi kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca:
“idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ.
Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Tatiyampi kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca:
“saṅghe, gotami, dehi.
Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭiggaṇhātu, bhante, bhagavā mahāpajāpatiyā gotamiyā navaṁ dussayugaṁ.
Bahūpakārā, bhante, mahāpajāpati gotamī bhagavato mātucchā āpādikā posikā khīrassa dāyikā;
bhagavantaṁ janettiyā kālaṅkatāya thaññaṁ pāyesi.
Bhagavāpi, bhante, bahūpakāro mahāpajāpatiyā gotamiyā.
Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī buddhaṁ saraṇaṁ gatā, dhammaṁ saraṇaṁ gatā, saṅghaṁ saraṇaṁ gatā.
Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī pāṇātipātā paṭiviratā adinnādānā paṭiviratā kāmesumicchācārā paṭiviratā musāvādā paṭiviratā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā.
Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī buddhe aveccappasādena samannāgatā, dhamme aveccappasādena samannāgatā, saṅghe aveccappasādena samannāgatā ariyakantehi sīlehi samannāgatā.
Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī dukkhe nikkaṅkhā, dukkhasamudaye nikkaṅkhā, dukkhanirodhe nikkaṅkhā, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkhā.
Bhagavāpi, bhante, bahūpakāro mahāpajāpatiyā gotamiyā”ti.
“Evametaṁ, ānanda.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—
abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—
abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhe aveccappasādena samannāgato hoti, dhamme … saṅghe … ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—
abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma dukkhe nikkaṅkho hoti, dukkhasamudaye nikkaṅkho hoti, dukkhanirodhe nikkaṅkho hoti, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkho hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—
abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Cuddasa kho panimānanda, pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Katamā cuddasa?
Tathāgate arahante sammāsambuddhe dānaṁ deti—
ayaṁ paṭhamā pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Paccekasambuddhe dānaṁ deti—
ayaṁ dutiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Tathāgatasāvake arahante dānaṁ deti—
ayaṁ tatiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—
ayaṁ catutthī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Anāgāmissa dānaṁ deti—
ayaṁ pañcamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—
ayaṁ chaṭṭhī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Sakadāgāmissa dānaṁ deti—
ayaṁ sattamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—
ayaṁ aṭṭhamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Sotāpanne dānaṁ deti—
ayaṁ navamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—
ayaṁ dasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Bāhirake kāmesu vītarāge dānaṁ deti—
ayaṁ ekādasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Puthujjanasīlavante dānaṁ deti—
ayaṁ dvādasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Puthujjanadussīle dānaṁ deti—
ayaṁ terasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Tiracchānagate dānaṁ deti—
ayaṁ cuddasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇāti.
Tatrānanda, tiracchānagate dānaṁ datvā sataguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, puthujjanadussīle dānaṁ datvā sahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, puthujjanasīlavante dānaṁ datvā satasahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, bāhirake kāmesu vītarāge dānaṁ datvā koṭisatasahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ datvā asaṅkheyyā appameyyā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, ko pana vādo sotāpanne, ko pana vādo sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo sakadāgāmissa, ko pana vādo anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo anāgāmissa, ko pana vādo arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo arahante, ko pana vādo paccekasambuddhe, ko pana vādo tathāgate arahante sammāsambuddhe.
Satta kho panimānanda, saṅghagatā dakkhiṇā.
Katamā satta?
Buddhappamukhe ubhatosaṅghe dānaṁ deti—
ayaṁ paṭhamā saṅghagatā dakkhiṇā.
Tathāgate parinibbute ubhatosaṅghe dānaṁ deti—
ayaṁ dutiyā saṅghagatā dakkhiṇā.
Bhikkhusaṅghe dānaṁ deti—
ayaṁ tatiyā saṅghagatā dakkhiṇā.
Bhikkhunisaṅghe dānaṁ deti—
ayaṁ catutthī saṅghagatā dakkhiṇā.
‘Ettakā me bhikkhū ca bhikkhuniyo ca saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—
ayaṁ pañcamī saṅghagatā dakkhiṇā.
‘Ettakā me bhikkhū saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—
ayaṁ chaṭṭhī saṅghagatā dakkhiṇā.
‘Ettakā me bhikkhuniyo saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—
ayaṁ sattamī saṅghagatā dakkhiṇā.
Bhavissanti kho panānanda, anāgatamaddhānaṁ gotrabhuno kāsāvakaṇṭhā dussīlā pāpadhammā.
Tesu dussīlesu saṅghaṁ uddissa dānaṁ dassanti.
Tadāpāhaṁ, ānanda, saṅghagataṁ dakkhiṇaṁ asaṅkheyyaṁ appameyyaṁ vadāmi.
Na tvevāhaṁ, ānanda, kenaci pariyāyena saṅghagatāya dakkhiṇāya pāṭipuggalikaṁ dānaṁ mahapphalataraṁ vadāmi.
Catasso kho imā, ānanda, dakkhiṇā visuddhiyo.
Katamā catasso?
Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
Atthānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato.
Atthānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca.
Kathañcānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato?
Idhānanda, dāyako hoti sīlavā kalyāṇadhammo, paṭiggāhakā honti dussīlā pāpadhammā—
evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
Kathañcānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato?
Idhānanda, dāyako hoti dussīlo pāpadhammo, paṭiggāhakā honti sīlavanto kalyāṇadhammā—
evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato.
Kathañcānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato?
Idhānanda, dāyako ca hoti dussīlo pāpadhammo, paṭiggāhakā ca honti dussīlā pāpadhammā—
evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
Kathañcānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca?
Idhānanda, dāyako ca hoti sīlavā kalyāṇadhammo, paṭiggāhakā ca honti sīlavanto kalyāṇadhammā—
evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca.
Imā kho, ānanda, catasso dakkhiṇā visuddhiyo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Yo sīlavā dussīlesu dadāti dānaṁ,
Dhammena laddhaṁ supasannacitto;
Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Sā dakkhiṇā dāyakato visujjhati.
Yo dussīlo sīlavantesu dadāti dānaṁ,
Adhammena laddhaṁ appasannacitto;
Anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Sā dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati.
Yo dussīlo dussīlesu dadāti dānaṁ,
Adhammena laddhaṁ appasannacitto;
Anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Na taṁ dānaṁ vipulapphalanti brūmi.
Yo sīlavā sīlavantesu dadāti dānaṁ,
Dhammena laddhaṁ supasannacitto;
Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Taṁ ve dānaṁ vipulapphalanti brūmi.
Yo vītarāgo vītarāgesu dadāti dānaṁ,
Dhammena laddhaṁ supasannacitto;
Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Taṁ ve dānaṁ āmisadānānamaggan”ti.
Dakkhiṇāvibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ dvādasamaṁ.
Vibhaṅgavaggo niṭṭhito catuttho.
Tassuddānaṁ
Bhaddekānandakaccāna,
Lomasakaṅgiyāsubho;
Mahākammasaḷāyatanavibhaṅgā,
Uddesaaraṇā dhātu saccaṁ.
Dakkhiṇāvibhaṅgasuttanti.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying in the land of the Sakyans, near Kapilavatthu in the Banyan Tree Monastery.
Then Mahāpajāpati Gotamī approached the Buddha bringing a new pair of garments. She bowed, sat down to one side, and said to the Buddha,
“Sir, I have spun and woven this new pair of garments specially for the Buddha.
May the Buddha please accept this from me out of sympathy.”
When she said this, the Buddha said to her,
“Give it to the Saṅgha, Gotamī.
When you give to the Saṅgha, both the Saṅgha and I will be honored.”
For a second time …
For a third time, Mahāpajāpati Gotamī said to the Buddha,
“Sir, I have spun and woven this new pair of garments specially for the Buddha.
May the Buddha please accept this from me out of sympathy.”
And for a third time, the Buddha said to her,
“Give it to the Saṅgha, Gotamī.
When you give to the Saṅgha, both the Saṅgha and I will be honored.”
When he said this, Venerable Ānanda said to the Buddha,
“Sir, please accept the new pair of garments from Mahāpajāpati Gotamī.
Sir, Mahāpajāpati was very helpful to the Buddha. As his aunt, she raised him, nurtured him, and gave him her milk.
When the Buddha’s birth mother passed away, she nurtured him at her own breast.
And the Buddha has been very helpful to Mahāpajāpati.
It is owing to the Buddha that Mahāpajāpati has gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha.
It’s owing to the Buddha that she refrains from killing living creatures, stealing, committing sexual misconduct, lying, and consuming beer, wine, and liquor intoxicants.
It’s owing to the Buddha that she has experiential confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and has the ethics loved by the noble ones.
It’s owing to the Buddha that she is free of doubt regarding suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation.
The Buddha has been very helpful to Mahāpajāpati.”
“That’s so true, Ānanda.
When someone has enabled you to go for refuge, it’s not easy to repay them
by bowing down to them, rising up for them, greeting them with joined palms, and observing proper etiquette for them; or by providing them with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
When someone has enabled you to refrain from killing, stealing, sexual misconduct, lying, and beer, wine, and liquor intoxicants, it’s not easy to repay them …
When someone has enabled you to have experiential confidence in the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, and the ethics loved by the noble ones, it’s not easy to repay them …
When someone has enabled you to be free of doubt regarding suffering, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation, it’s not easy to repay them
by bowing down to them, rising up for them, greeting them with joined palms, and observing proper etiquette for them; or by providing them with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
Ānanda, there are these fourteen religious donations to individuals.
What fourteen?
One gives a gift to the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha.
This is the first religious donation to an individual.
One gives a gift to an independent Buddha.
This is the second religious donation to an individual.
One gives a gift to a perfected one.
This is the third religious donation to an individual.
One gives a gift to someone practicing to realize the fruit of perfection.
This is the fourth religious donation to an individual.
One gives a gift to a non-returner.
This is the fifth religious donation to an individual.
One gives a gift to someone practicing to realize the fruit of non-return.
This is the sixth religious donation to an individual.
One gives a gift to a once-returner.
This is the seventh religious donation to an individual.
One gives a gift to someone practicing to realize the fruit of once-return.
This is the eighth religious donation to an individual.
One gives a gift to a stream-enterer.
This is the ninth religious donation to an individual.
One gives a gift to someone practicing to realize the fruit of stream-entry.
This is the tenth religious donation to an individual.
One gives a gift to an outsider who is free of desire for sensual pleasures.
This is the eleventh religious donation to an individual.
One gives a gift to an ordinary person who has good ethical conduct.
This is the twelfth religious donation to an individual.
One gives a gift to an ordinary person who has bad ethical conduct.
This is the thirteenth religious donation to an individual.
One gives a gift to an animal.
This is the fourteenth religious donation to an individual.
Now, Ānanda, gifts to the following persons may be expected to yield the following returns. To an animal, a hundred times. To an unethical ordinary person, a thousand. To an ethical ordinary person, a hundred thousand. To an outsider free of desire for sensual pleasures, 10,000,000,000. But a gift to someone practicing to realize the fruit of stream-entry may be expected to yield incalculable, immeasurable returns. How much more so a gift to a stream-enterer, someone practicing to realize the fruit of once-return, a once-returner, someone practicing to realize the fruit of non-return, a non-returner, someone practicing to realize the fruit of perfection, a perfected one, or an independent Buddha? How much more so a Realized One, a perfected one, a fully awakened Buddha?
But there are, Ānanda, seven religious donations bestowed on a Saṅgha.
What seven?
One gives a gift to the communities of both monks and nuns headed by the Buddha.
This is the first religious donation bestowed on a Saṅgha.
One gives a gift to the communities of both monks and nuns after the Buddha has finally become quenched.
This is the second religious donation bestowed on a Saṅgha.
One gives a gift to the Saṅgha of monks.
This is the third religious donation bestowed on a Saṅgha.
One gives a gift to the Saṅgha of nuns.
This is the fourth religious donation bestowed on a Saṅgha.
One gives a gift, thinking: ‘Appoint this many monks and nuns for me from the Saṅgha.’
This is the fifth religious donation bestowed on a Saṅgha.
One gives a gift, thinking: ‘Appoint this many monks for me from the Saṅgha.’
This is the sixth religious donation bestowed on a Saṅgha.
One gives a gift, thinking: ‘Appoint this many nuns for me from the Saṅgha.’
This is the seventh religious donation bestowed on a Saṅgha.
In times to come there will be lambs of the flock wearing a scrap of ocher cloth, unethical and of bad character.
People will give gifts to those unethical people in the name of the Saṅgha.
Then too, I say, a religious donation bestowed on the Saṅgha is incalculable and immeasurable.
But in any case, there is no way a personal offering can be more fruitful than one bestowed on a Saṅgha, I say.
Ānanda, there are these four ways of purifying a religious donation.
What four?
There’s a religious donation that’s purified by the giver, not the recipient.
There’s a religious donation that’s purified by the recipient, not the giver.
There’s a religious donation that’s purified by neither the giver nor the recipient.
There’s a religious donation that’s purified by both the giver and the recipient.
And how is a religious donation purified by the giver, not the recipient?
It’s when the giver is ethical, of good character, but the recipient is unethical, of bad character.
And how is a religious donation purified by the recipient, not the giver?
It’s when the giver is unethical, of bad character, but the recipient is ethical, of good character.
And how is a religious donation purified by neither the giver nor the recipient?
It’s when both the giver and the recipient are unethical, of bad character.
And how is a religious donation purified by both the giver and the recipient?
It’s when both the giver and the recipient are ethical, of good character.
These are the four ways of purifying a religious donation.”
That is what the Buddha said.
Then the Holy One, the Teacher, went on to say:
“When an ethical person with trusting heart
gives a proper gift to unethical persons,
trusting in the ample fruit of deeds,
that offering is purified by the giver.
When an unethical and untrusting person,
gives an improper gift to ethical persons,
not trusting in the ample fruit of deeds,
that offering is purified by the receivers.
When an unethical and untrusting person,
gives an improper gift to unethical persons,
not trusting in the ample fruit of deeds,
I declare that gift is not very fruitful.
When an ethical person with trusting heart
gives a proper gift to ethical persons,
trusting in the ample fruit of deeds,
I declare that gift is abundantly fruitful.
But when a passionless one gives to the passionless
a proper gift with trusting heart,
trusting in the ample fruit of deeds,
that’s truly the best of material gifts.”
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời, Thế Tôn trú giữa dòng họ Sakka (Thích-Ca), ở Kapilavatthu (Ca-ty-la-vệ), tại tinh xá Nigrodha (Ni-câu-luật Thọ Viên).
SC 2Rồi Mahāpajāpati Gotama (Củ đàm Nữ Ma-ha-ba-xà-bà-đề), đem theo một cặp y mới, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con.
SC 4Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama
SC 5—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
SC 6Lần thứ hai, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 7—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt. Hãy nhận lấy cho con.
SC 8Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama
SC 9—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng. Và cả Tăng chúng cũng vậy.
SC 10Lần thứ ba, Mahāpajāpati Gotama bạch Thế Tôn
SC 11—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt … hãy nhận lấy cho con.
SC 12Lần thứ ba, Thế Tôn nói với Mahāpajāpati Gotama:
SC 13—Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng … và cả tăng chúng cũng vậy.
SC 14Khi được nghe nói vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn
SC 15—Thế Tôn hãy nhận cặp y mới cho Mahāpajāpati Gotama! Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn, là thúc mẫu, là dưỡng mẫu, đã nuôi dưỡng Thế Tôn, đã cho Thế Tôn bú sữa, vì rằng sau khi sanh, thân mẫu của Thế Tôn mệnh chung, chính bà đã cho Thế Tôn bú sữa. Bạch Thế Tôn, và Thế Tôn cũng giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotama. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã quy y Phật, quy Pháp, quy y Tăng. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu đem lại. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama có đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với Pháp, đầy đủ lòng tịnh tín bất động đối với chúng Tăng, đầy đủ các giới luật làm bậc Thánh hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, chính nhờ Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama không còn nghi ngờ đối với Khổ, không còn nghi ngờ đối với Khổ tập, không còn nghi ngờ đối với Khổ diệt, không còn nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn cũng đã giúp ích nhiều cho Mahāpajāpati Gotama.
SC 16—Thật là như vậy, này Ānanda! Thật là như vậy, này Ānanda! Này Ānanda, nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng đậy, chấp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
SC 17Nếu do nhờ một người mà một người khác từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say các loại rượu men, rượu nấu, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 18Này Ānanda, nếu do nhờ một người mà một người khác đầy đủ tịnh tín bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, đầy đủ các giới luật, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 19Này Ānanda, nếu do nhờ một người mà một người khác không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có khi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia … dược phẩm trị bệnh.
SC 20Này Ānanda, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người. Bố thí các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, là cúng dường thứ nhất, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị Ðộc Giác Phật, là cúng dường thứ hai, phân loại theo hạng người. Bố thí các bậc A-la-hán, đệ tử Như Lai, là cúng dường thứ ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả A-la-hán là cúng dường thứ tư, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Bất lai, là cúng dường thứ năm, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Bất lai là cúng dường thứ sáu, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ bảy, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Nhất lai là cúng dường thứ tám, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ chín, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị trên con đường chứng quả Dự lưu là cúng dường thứ mười, phân loại theo hạng người. Bố thí những vị ngoại học (bahiraka) đã ly tham trong các dục vọng là cúng dường thứ mười một, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu gìn giữ giới luật là cúng dường thứ mười hai, phân loại theo hạng người. Bố thí những phàm phu theo ác giới là cúng dường thứ mười ba, phân loại theo hạng người. Bố thí các loại bàng sanh là cúng dường thứ mười bốn, phân loại theo hạng người.
SC 21Tại đây, này Ānanda, sau khi bố thí cho các loại bàng sanh, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm phần công đức. Sau khi bố thí cho những phàm phu theo ác giới, cúng dường này có hy vọng đem lại ngàn phần công đức. Sau khi bố thí cho các phàm phu gìn giữ giới luật, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn lần công đức. Sau khi bố thí cho các người ngoại học đã ly tham trong các dục vọng, cúng dường này có hy vọng đem lại trăm ngàn ức lần công đức. Sau khi bố thí cho các vị trên con đường chứng quả Dự lưu, cúng dường này có hy vọng đem lại vô số vô lượng công đức. Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Dự lưu? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Nhất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả Bất lai? Còn nói gì đến những vị trên con đường chứng quả A-la-hán? Còn nói gì đến những vị đã chứng quả A-la-hán, đệ tử Như Lai? Còn nói gì đến những vị Ðộc Giác Phật? Còn nói gì đến các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác?
SC 22Này Ānanda, có bảy loại cúng dường cho Tăng chúng. Bố thí cho cả hai Tăng chúng với đức Phật là vị cầm đầu là cúng dường Tăng chúng thứ nhất. Bố thí cho cả hai Tăng chúng, sau khi đức Phật đã nhập diệt là cúng dường Tăng chúng thứ hai. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo Tăng là cúng dường Tăng chúng thứ ba. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo ni là cúng dường Tăng chúng thứ tư. Bố thí và nói rằng: “Mong Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ năm. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho tôi một số Tỷ-kheo như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ sáu. Bố thí và nói rằng: “Mong rằng Tăng chúng chỉ định cho một số Tỷ-kheo ni như vậy”, là cúng dường Tăng chúng thứ bảy.
SC 23Nhưng này Ānanda, trong thời gian tương lai sẽ có những hạng chuyển tánh (gotrabhuno), với những áo cà-sa vàng xung quanh cổ, theo ác giới, ác pháp, và cuộc bố thí đối với chúng Tăng theo ác giới. Nhưng này Ānanda, khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng, thời này Ānanda, Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng.
SC 24Này Ānanda, có bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường. Thế nào là bốn? Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận. Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho. Này Ānanda, có loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận. Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 25Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho giữ giới, theo thiện pháp, còn những người nhận theo ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này Ānanda, là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận.
SC 26Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho? Ở đây, này Ānanda, người cho theo ác giới, theo ác pháp, còn những người nhận giữ giới, theo thiện pháp. Như vậy, này Ānanda, là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho.
SC 27Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho theo ác giới, theo ác pháp, và người nhận cũng theo ác giới, theo ác pháp. Như vậy, này Ānanda, là sự cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 28Và này Ānanda, thế nào là loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận? Ở đây, này Ānanda, người cho giữ giới, theo thiện pháp; và người nhận cũng giữ giới, theo thiện pháp. Như vậy, này Ānanda, là sự cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
SC 29Này Ānanda, như vậy là bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường.
SC 30Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Bậc Thiện Thệ sau khi nói như vậy, bậc Ðạo sư lại nói thêm:
SC 31Ai đầy đủ giới luật,
Bố thí cho ác giới;
Vật thí được đúng pháp,
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy,
Thanh tịnh bởi người cho.
SC 32Ai không giữ giới luật,
Bố thí cho thiện giới;
Vật thí không đúng pháp,
Với tâm không hoan hỷ,
Không lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy,
Thanh tịnh bởi người nhận.
SC 33Ai không giữ giới luật,
Bố thí cho ác giới;
Vật thí không đúng pháp,
Với tâm không hoan hỷ,
Không lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Sự cúng dường như vậy
Cả hai không thanh tịnh.
SC 34Ai đầy đủ giới luật,
Bố thí cho thiện giới;
Vật thí được đúng pháp,
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Ta nói bố thí ấy
Chắc chắn có quả lớn.
SC 35Ai xuất ly tham ái
Bố thí không tham ái,
Vật thí được đúng pháp.
Với tâm khéo hoan hỷ,
Với lòng tin vững vàng,
Vào quả lớn của nghiệp,
Ta nói bố thí ấy
Là quảng đại tài thí.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sakkesu viharati kapilavatthusmiṁ nigrodhārāme.
Atha kho mahāpajāpati gotamī navaṁ dussayugaṁ ādāya yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnā kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca:
“idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ.
Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Evaṁ vutte, bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca:
“saṅghe, gotami, dehi.
Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Dutiyampi kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca:
“idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ.
Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Dutiyampi kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca:
“saṅghe, gotami, dehi.
Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Tatiyampi kho mahāpajāpati gotamī bhagavantaṁ etadavoca:
“idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ.
Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti.
Tatiyampi kho bhagavā mahāpajāpatiṁ gotamiṁ etadavoca:
“saṅghe, gotami, dehi.
Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṁ etadavoca:
“paṭiggaṇhātu, bhante, bhagavā mahāpajāpatiyā gotamiyā navaṁ dussayugaṁ.
Bahūpakārā, bhante, mahāpajāpati gotamī bhagavato mātucchā āpādikā posikā khīrassa dāyikā;
bhagavantaṁ janettiyā kālaṅkatāya thaññaṁ pāyesi.
Bhagavāpi, bhante, bahūpakāro mahāpajāpatiyā gotamiyā.
Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī buddhaṁ saraṇaṁ gatā, dhammaṁ saraṇaṁ gatā, saṅghaṁ saraṇaṁ gatā.
Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī pāṇātipātā paṭiviratā adinnādānā paṭiviratā kāmesumicchācārā paṭiviratā musāvādā paṭiviratā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā.
Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī buddhe aveccappasādena samannāgatā, dhamme aveccappasādena samannāgatā, saṅghe aveccappasādena samannāgatā ariyakantehi sīlehi samannāgatā.
Bhagavantaṁ, bhante, āgamma mahāpajāpati gotamī dukkhe nikkaṅkhā, dukkhasamudaye nikkaṅkhā, dukkhanirodhe nikkaṅkhā, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkhā.
Bhagavāpi, bhante, bahūpakāro mahāpajāpatiyā gotamiyā”ti.
“Evametaṁ, ānanda.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—
abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma pāṇātipātā paṭivirato hoti, adinnādānā paṭivirato hoti, kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, musāvādā paṭivirato hoti, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—
abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhe aveccappasādena samannāgato hoti, dhamme … saṅghe … ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—
abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma dukkhe nikkaṅkho hoti, dukkhasamudaye nikkaṅkho hoti, dukkhanirodhe nikkaṅkho hoti, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkho hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—
abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Cuddasa kho panimānanda, pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Katamā cuddasa?
Tathāgate arahante sammāsambuddhe dānaṁ deti—
ayaṁ paṭhamā pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Paccekasambuddhe dānaṁ deti—
ayaṁ dutiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Tathāgatasāvake arahante dānaṁ deti—
ayaṁ tatiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—
ayaṁ catutthī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Anāgāmissa dānaṁ deti—
ayaṁ pañcamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—
ayaṁ chaṭṭhī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Sakadāgāmissa dānaṁ deti—
ayaṁ sattamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—
ayaṁ aṭṭhamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Sotāpanne dānaṁ deti—
ayaṁ navamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ deti—
ayaṁ dasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Bāhirake kāmesu vītarāge dānaṁ deti—
ayaṁ ekādasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Puthujjanasīlavante dānaṁ deti—
ayaṁ dvādasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Puthujjanadussīle dānaṁ deti—
ayaṁ terasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇā.
Tiracchānagate dānaṁ deti—
ayaṁ cuddasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇāti.
Tatrānanda, tiracchānagate dānaṁ datvā sataguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, puthujjanadussīle dānaṁ datvā sahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, puthujjanasīlavante dānaṁ datvā satasahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, bāhirake kāmesu vītarāge dānaṁ datvā koṭisatasahassaguṇā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, sotāpattiphalasacchikiriyāya paṭipanne dānaṁ datvā asaṅkheyyā appameyyā dakkhiṇā pāṭikaṅkhitabbā, ko pana vādo sotāpanne, ko pana vādo sakadāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo sakadāgāmissa, ko pana vādo anāgāmiphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo anāgāmissa, ko pana vādo arahattaphalasacchikiriyāya paṭipanne, ko pana vādo arahante, ko pana vādo paccekasambuddhe, ko pana vādo tathāgate arahante sammāsambuddhe.
Satta kho panimānanda, saṅghagatā dakkhiṇā.
Katamā satta?
Buddhappamukhe ubhatosaṅghe dānaṁ deti—
ayaṁ paṭhamā saṅghagatā dakkhiṇā.
Tathāgate parinibbute ubhatosaṅghe dānaṁ deti—
ayaṁ dutiyā saṅghagatā dakkhiṇā.
Bhikkhusaṅghe dānaṁ deti—
ayaṁ tatiyā saṅghagatā dakkhiṇā.
Bhikkhunisaṅghe dānaṁ deti—
ayaṁ catutthī saṅghagatā dakkhiṇā.
‘Ettakā me bhikkhū ca bhikkhuniyo ca saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—
ayaṁ pañcamī saṅghagatā dakkhiṇā.
‘Ettakā me bhikkhū saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—
ayaṁ chaṭṭhī saṅghagatā dakkhiṇā.
‘Ettakā me bhikkhuniyo saṅghato uddissathā’ti dānaṁ deti—
ayaṁ sattamī saṅghagatā dakkhiṇā.
Bhavissanti kho panānanda, anāgatamaddhānaṁ gotrabhuno kāsāvakaṇṭhā dussīlā pāpadhammā.
Tesu dussīlesu saṅghaṁ uddissa dānaṁ dassanti.
Tadāpāhaṁ, ānanda, saṅghagataṁ dakkhiṇaṁ asaṅkheyyaṁ appameyyaṁ vadāmi.
Na tvevāhaṁ, ānanda, kenaci pariyāyena saṅghagatāya dakkhiṇāya pāṭipuggalikaṁ dānaṁ mahapphalataraṁ vadāmi.
Catasso kho imā, ānanda, dakkhiṇā visuddhiyo.
Katamā catasso?
Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
Atthānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato.
Atthānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca.
Kathañcānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato?
Idhānanda, dāyako hoti sīlavā kalyāṇadhammo, paṭiggāhakā honti dussīlā pāpadhammā—
evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
Kathañcānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato?
Idhānanda, dāyako hoti dussīlo pāpadhammo, paṭiggāhakā honti sīlavanto kalyāṇadhammā—
evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato.
Kathañcānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato?
Idhānanda, dāyako ca hoti dussīlo pāpadhammo, paṭiggāhakā ca honti dussīlā pāpadhammā—
evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato.
Kathañcānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca?
Idhānanda, dāyako ca hoti sīlavā kalyāṇadhammo, paṭiggāhakā ca honti sīlavanto kalyāṇadhammā—
evaṁ kho, ānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca.
Imā kho, ānanda, catasso dakkhiṇā visuddhiyo”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Yo sīlavā dussīlesu dadāti dānaṁ,
Dhammena laddhaṁ supasannacitto;
Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Sā dakkhiṇā dāyakato visujjhati.
Yo dussīlo sīlavantesu dadāti dānaṁ,
Adhammena laddhaṁ appasannacitto;
Anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Sā dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati.
Yo dussīlo dussīlesu dadāti dānaṁ,
Adhammena laddhaṁ appasannacitto;
Anabhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Na taṁ dānaṁ vipulapphalanti brūmi.
Yo sīlavā sīlavantesu dadāti dānaṁ,
Dhammena laddhaṁ supasannacitto;
Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Taṁ ve dānaṁ vipulapphalanti brūmi.
Yo vītarāgo vītarāgesu dadāti dānaṁ,
Dhammena laddhaṁ supasannacitto;
Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ,
Taṁ ve dānaṁ āmisadānānamaggan”ti.
Dakkhiṇāvibhaṅgasuttaṁ niṭṭhitaṁ dvādasamaṁ.
Vibhaṅgavaggo niṭṭhito catuttho.
Tassuddānaṁ
Bhaddekānandakaccāna,
Lomasakaṅgiyāsubho;
Mahākammasaḷāyatanavibhaṅgā,
Uddesaaraṇā dhātu saccaṁ.
Dakkhiṇāvibhaṅgasuttanti.