Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūta (Linh Thứu), trong hang Sūkarakhata.
SC 2Rồi du sĩ ngoại đạo Dìghanakha (Trường Trảo) đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền đứng một bên. Ðứng một bên, du sĩ ngoại đạo Dighanakha nói với Thế Tôn
SC 3—Tôn giả Gotama, tôi có lý thuyết như sau, tôi có tri kiến như sau: “Tất cả đều không làm cho tôi thích thú”.
SC 4—Này Aggivessana, tri kiến: “Tất cả đều không làm cho tôi thích thú”, tri kiến ấy không làm Ông thích thú?
SC 5—Tôn giả Gotama, nếu tri kiến ấy làm tôi thích thú, thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy.
SC 6—Này Aggivessana, nếu số đông người ở trong đời đã nói như sau: “Thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy”, thời họ không từ bỏ tri kiến ấy, họ chấp thủ một tri kiến khác. Này Aggivessana, nếu thiểu số người ở trong đời đã nói như sau: “Thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy”, thời họ sẽ từ bỏ tri kiến ấy và không chấp thủ một tri kiến khác.
SC 7Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú”. Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ở đây, này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú,” tri kiến này của họ là gần với tham dục, gần với triền phược, gần với hoan lạc, gần với đắm trước, gần với chấp thủ. Ở đây, này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”, tri kiến này của họ là gần với không tham dục, gần với không phiền trược, gần với không hoan lạc, gần với không chấp thủ.
SC 8Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Dighanakha thưa với Thế Tôn
SC 9—Tôn giả Gotama tán dương quan điểm của tôi, Tôn giả Gotama hết sức tán dương quan điểm của tôi.
SC 10—Ở đây, này Aggivessana, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Cái gì trong tri kiến này làm họ thích thú là gần tham dục, gần phiền trược, gần hoan lạc, gần đắm trước, gần chấp thủ. Cái gì trong tri kiến này làm họ không thích thú là gần không tham dục, gần không triền phược, gần không hoan lạc, gần không đắm trước, gần không chấp thủ.
SC 11Ở đây, này Aggivessana, những Sa-môn, Ba la môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm tôi thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Tất cả đều làm tôi thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”, như vậy là đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”, và Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình nên từ bỏ tri kiến này, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 12Ở đây, này Aggivessana, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Tất cả đều làm tôi không thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”, thì như vậy, ta đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú” và Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình, nên từ bỏ tri kiến ấy, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 13Ở đây, này Aggivessana, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật ngoài ra là hư vọng”, thì như vậy, ta đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú” và Sa-môn hay Bà la-môn này có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối, khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch tranh luận, chống đối và bực mình, nên từ bỏ tri kiến ấy, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 14Nhưng này Aggivessana, thân này có sắc, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phân toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, cần phải được quán sát là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Khi vị ấy quán sát thân này là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã, thời thân, thân dục, thân ái, thân phục tòng được đoạn diệt.
SC 15Này Aggivessana, có ba thọ này; lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác khổ thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ chỉ cảm giác lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác khổ thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác khổ thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác khổ thọ, chỉ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
SC 16Này Aggivessana, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, khổ thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.
SC 17Thấy vậy, này Aggivessana, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly lạc thọ, yểm ly khổ thọ, yểm ly bất khổ bất lạc thọ. Do yểm ly, vị ấy không có tham dục. Do không tham dục, vị ấy được giải thoát. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm. Sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”.
SC 18Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỷ-kheo không nói thuận theo một ai, không tranh luận với một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không có chấp thủ (từ ngữ ấy).
SC 19Lúc bấy giờ Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đứng sau lưng Thế Tôn và đang quạt Thế Tôn. Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã thuyết cho chúng ta sự đoạn trừ các pháp ấy nhờ thắng trí. Thiện Thệ đã thuyết cho chúng ta sự tự bỏ các pháp ấy nhờ thắng trí”. Khi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như vậy, tâm (của Tôn giả) được giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
SC 20Còn đối với du sĩ ngoại đạo Dighanakha, pháp nhãn ly trần, vô cấu được khởi lên: “Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy được đoạn diệt”. Rồi du sĩ ngoại đạo Dighanakha thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư, liền bạch Thế Tôn
SC 21—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate sūkarakhatāyaṁ.
Atha kho dīghanakho paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho dīghanakho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“ahañhi, bho gotama, evaṁvādī evaṁdiṭṭhi:
‘sabbaṁ me nakkhamatī’”ti.
“Yāpi kho te esā, aggivessana, diṭṭhi:
‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti, esāpi te diṭṭhi nakkhamatī”ti?
“Esā ce me, bho gotama, diṭṭhi khameyya, taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā”ti.
“Ato kho te, aggivessana, bahū hi bahutarā lokasmiṁ ye evamāhaṁsu:
‘taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā’ti.
Te tañceva diṭṭhiṁ nappajahanti aññañca diṭṭhiṁ upādiyanti.
Ato kho te, aggivessana, tanū hi tanutarā lokasmiṁ ye evamāhaṁsu:
‘taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā’ti.
Te tañceva diṭṭhiṁ pajahanti aññañca diṭṭhiṁ na upādiyanti.
Santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sabbaṁ me khamatī’ti;
santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti;
santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me khamatī’ti
tesamayaṁ diṭṭhi sārāgāya santike, saññogāya santike, abhinandanāya santike, ajjhosānāya santike, upādānāya santike;
tatraggivessana ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti
tesamayaṁ diṭṭhi asārāgāya santike, asaññogāya santike, anabhinandanāya santike, anajjhosānāya santike, anupādānāya santike”ti.
Evaṁ vutte, dīghanakho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“ukkaṁseti me bhavaṁ gotamo diṭṭhigataṁ, samukkaṁseti me bhavaṁ gotamo diṭṭhigatan”ti.
“Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti.
Yā hi tesaṁ khamati sāyaṁ diṭṭhi sārāgāya santike, saññogāya santike, abhinandanāya santike, ajjhosānāya santike, upādānāya santike;
yā hi tesaṁ nakkhamati sāyaṁ diṭṭhi asārāgāya santike, asaññogāya santike, anabhinandanāya santike, anajjhosānāya santike, anupādānāya santike.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sabbaṁ me khamatī’ti
tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—
sabbaṁ me khamatīti,
imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—
idameva saccaṁ moghamaññanti;
dvīhi me assa viggaho—
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me nakkhamatīti,
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatīti—
imehi assa dvīhi viggaho.
Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’.
Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati.
Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti
tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—
sabbaṁ me nakkhamatīti,
imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—
idameva saccaṁ moghamaññanti;
dvīhi me assa viggaho—
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me khamatīti,
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—ekaccaṁ me khamati ekaccaṁ me nakkhamatīti—
imehi assa dvīhi viggaho.
Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’.
Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati.
Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti
tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—
ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatīti,
imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—
idameva saccaṁ moghamaññanti;
dvīhi me assa viggaho—
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me khamatīti,
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me nakkhamatīti—
imehi assa dvīhi viggaho.
Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’.
Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati.
Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
Ayaṁ kho panaggivessana, kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo, aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassitabbo.
Tassimaṁ kāyaṁ aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassato yo kāyasmiṁ kāyachando kāyasneho kāyanvayatā sā pahīyati.
Tisso kho imā, aggivessana, vedanā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Yasmiṁ, aggivessana, samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti;
sukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
Yasmiṁ, aggivessana, samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti;
dukkhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
Yasmiṁ, aggivessana, samaye adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, na dukkhaṁ vedanaṁ vedeti;
adukkhamasukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
Sukhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā;
dukkhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā;
adukkhamasukhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā.
Evaṁ passaṁ, aggivessana, sutavā ariyasāvako sukhāyapi vedanāya nibbindati, dukkhāyapi vedanāya nibbindati, adukkhamasukhāyapi vedanāya nibbindati;
nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ, vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Evaṁ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu na kenaci saṁvadati, na kenaci vivadati, yañca loke vuttaṁ tena voharati, aparāmasan”ti.
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno.
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“tesaṁ tesaṁ kira no bhagavā dhammānaṁ abhiññā pahānamāha, tesaṁ tesaṁ kira no sugato dhammānaṁ abhiññā paṭinissaggamāhā”ti.
Iti hidaṁ āyasmato sāriputtassa paṭisañcikkhato anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci.
Dīghanakhassa pana paribbājakassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Atha kho dīghanakho paribbājako diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evameva kho bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dīghanakhasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Nya 1Thus I heard:
On one occasion the Blessed One was living at Rājagaha in the Sūkarakhata Cave.
Nya 2Then the wanderer Dīghanakha went to the Blessed One and exchanged greetings with him. When the courteous and amiable talk was finished, he stood at one side, and he said: “Master Gotama, my theory and my view is this: ‘I have no liking for any’.”
“This view of yours, Aggivessana, ‘I have no liking for any’, have you no liking for that too?”
“Even if I had a liking for this view of mine, it would be all the same, Master Gotama, it would be all the same.”
Nya 3“Well, Aggivessana, there are plenty in the world who say: ‘It would be all the same, it would be all the same’ and who yet do not abandon that view and do cling to some other view; and there are few in the world who say: ‘It would be all the same, it would be all the same’ and yet do abandon that view and do not cling to some other view.
Nya 4“Some monks and divines hold the theory and the view: ‘I have a liking for all.’ Some monks and divines hold the theory and the view: ‘I have no liking for any.’ Some monks and divines hold the theory and the view: ‘I have a liking for some, I have no liking for some.’ The monks and divines among these whose theory and view is: ‘I have a liking for all’ have a view that is close to lust, to bondage, to relishing, to acceptance, to clinging; the monks and divines among these whose theory and view is: ‘I have no liking for any’ have a view that is close to non-lust, to non-bondage, to non-relishing, to non-acceptance, to non-clinging.”
Nya 5When this was said, the wanderer Dīghanakha remarked: “Master Gotama commends my field of views, Master Gotama recommends my field of views.”
“Aggivessana, monks and divines among these whose theory and view is: ‘I have a liking for some, I have no liking for some’ have a view that, in what they have a liking for, is close to lust, bondage, relishing, acceptance, clinging, and, in what they have no liking for, is close to non-lust, non-bondage, non-relishing, non-acceptance, non-clinging.
Nya 6“Now a wise man among these monks and divines whose theory and view is: ‘I have a liking for all’ considers thus: ‘If I obstinately misapprehend and insist upon the assertion of this my view: “I have a liking for all” that “only this is true; anything else is wrong”, then I shall clash with the two others, both with the monk or divine whose theory and view is: “I have no liking for any” and with the monk or divine whose theory and view is: “I have a liking for some, I have no liking for some.” I shall clash with these two, and when there is a clash, there are disputes; when there are disputes, there are quarrels; when there are quarrels, there is harm.’ When he foresees for himself this clash, these disputes, these quarrels, and this harm, he abandons that view and does not cling to some other view. This is how there comes to be the abandoning of these views; this is how there comes to be the relinquishing of these views.
Nya 7“A wise man among these monks and divines whose theory and view is: ‘I have no liking for any’ considers thus: ‘If I obstinately misapprehend and insist upon the assertion of this my view: “I have no liking for any” that “only this is true; anything else is wrong”, then I shall clash with the two others, both with the monk or divine whose theory and view is: “I have a liking for all” and with the monk or divine whose theory and view is: “I have a liking for some, I have no liking for some.” I shall clash with these two, and when there is a clash, there are disputes… ’ When he sees for himself this clash, these disputes, these quarrels, this harm, he abandons that view and does not cling to some other view. This is how there comes to be the abandoning of these views, this is how there comes to be the relinquishing of these views.
Nya 8“A wise man among these monks and divines whose theory and view is: ‘I have a liking for some, I have no liking for some’ considers thus: ‘If I obstinately misapprehend and insist upon the assertion of this my view: “I have a liking for some, I have no liking for some” that “only this is true; anything else is wrong”, then I shall clash with the two others, both with the monk or divine whose theory and view is: “I have a liking for all” and with the monk or divine whose theory and view is: “I have no liking for any.” I shall clash with these two, and when there is a clash… ’ That is how there comes to be the relinquishing of these views.
Nya 9“Now, Aggivessana, this body that has form consists of the four great elements, it is procreated by a mother and father and built up out of boiled rice and bread, it has the nature of impermanence, of being worn and rubbed away, of dissolution and disintegration. It must be regarded as impermanent, as liable to suffering, as a disease, as a cancer, as a dart, as a calamity, as an affliction, as alien, as falling to pieces, as void, as not self. When a man regards it thus, he abandons his desire for the body, affection for the body, and his habit of treating the body as the basis for all his inferences.
Nya 10“There are three kinds of feeling: pleasant feeling, painful feeling, neither-painful-nor-pleasant feeling. On the occasion when a man feels pleasant feeling he does not feel painful feeling or neither-painful-nor-pleasant feeling on that occasion: he feels only pleasant feeling on that occasion. On the occasion when he feels painful feeling he does not feel pleasant feeling or neither-painful-nor-pleasant feeling on that occasion: he feels only painful feeling on that occasion. On the occasion when he feels neither-painful-nor-pleasant feeling he does not feel pleasant feeling or painful feeling on that occasion: he feels only neither-painful-nor-pleasant feeling on that occasion.
Nya 11“Pleasant feeling is impermanent, conditioned, dependently arisen and has the nature of exhaustion, of fall, of fading, and of ceasing. Also painful feeling is impermanent, conditioned, dependently arisen and has the nature of exhaustion, of fall, of fading, and of ceasing. Also neither-painful-nor-pleasant feeling is impermanent, conditioned, dependently arisen and has the nature of exhaustion, of fall, of fading, and of ceasing.
Nya 12“When a well-taught noble disciple sees thus, he becomes dispassionate towards pleasant feeling, becomes dispassionate towards painful feeling, becomes dispassionate towards neither-painful-nor-pleasant feeling; being dispassionate his lust fades away; with the fading of lust he is liberated. When his mind is liberated, then comes the knowledge: ‘It is liberated.’ He understands: ‘Birth is exhausted, the life divine has been lived, what was to be done is done, there is no more of this to come.’
Nya 13“A bhikkhu whose mind is liberated thus, Aggivessana, sides with none, disputes with none, and he employs, though without misapprehending it, the speech currently used in the world.”
Nya 14Now on that occasion the venerable Sāriputta was standing behind the Blessed One fanning him. Then he thought: “The Blessed One, it seems, speaks of the abandoning of these various dhammas, having directly known them; the Sublime One speaks, it seems, of the relinquishing of these various dhammas, having directly known them.” As he considered thus his mind was liberated from taints through not clinging.
Nya 15But in the Wanderer Dīghanakha the spotless immaculate vision of the Dhamma arose: “All that is subject to arising is subject to cessation.” Then he saw and reached and knew and fathomed the Dhamma; he crossed beyond uncertainty, had done with questioning, gained intrepidity and became independent of others in the Teacher’s Dispensation.
Nya 16He said: “Magnificent, Master Gotama! Magnificent, Master Gotama! The Dhamma has been made clear in many ways by Master Gotama, as though he were righting the overthrown, revealing the hidden, showing the way to one who is lost, holding up a lamp in the darkness for those with eyes to see forms.
“I go to Master Gotama for refuge, and to the Dhamma and to the Sangha of bhikkhus. From today let Master Gotama remember me as a follower who has gone to him for refuge for life.”
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở tại Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūta (Linh Thứu), trong hang Sūkarakhata.
SC 2Rồi du sĩ ngoại đạo Dìghanakha (Trường Trảo) đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm với Thế Tôn, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền đứng một bên. Ðứng một bên, du sĩ ngoại đạo Dighanakha nói với Thế Tôn
SC 3—Tôn giả Gotama, tôi có lý thuyết như sau, tôi có tri kiến như sau: “Tất cả đều không làm cho tôi thích thú”.
SC 4—Này Aggivessana, tri kiến: “Tất cả đều không làm cho tôi thích thú”, tri kiến ấy không làm Ông thích thú?
SC 5—Tôn giả Gotama, nếu tri kiến ấy làm tôi thích thú, thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy.
SC 6—Này Aggivessana, nếu số đông người ở trong đời đã nói như sau: “Thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy”, thời họ không từ bỏ tri kiến ấy, họ chấp thủ một tri kiến khác. Này Aggivessana, nếu thiểu số người ở trong đời đã nói như sau: “Thời đây cũng giống như vậy, thời đây cũng giống như vậy”, thời họ sẽ từ bỏ tri kiến ấy và không chấp thủ một tri kiến khác.
SC 7Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú”. Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ở đây, này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú,” tri kiến này của họ là gần với tham dục, gần với triền phược, gần với hoan lạc, gần với đắm trước, gần với chấp thủ. Ở đây, này Aggivessana, một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”, tri kiến này của họ là gần với không tham dục, gần với không phiền trược, gần với không hoan lạc, gần với không chấp thủ.
SC 8Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Dighanakha thưa với Thế Tôn
SC 9—Tôn giả Gotama tán dương quan điểm của tôi, Tôn giả Gotama hết sức tán dương quan điểm của tôi.
SC 10—Ở đây, này Aggivessana, những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Cái gì trong tri kiến này làm họ thích thú là gần tham dục, gần phiền trược, gần hoan lạc, gần đắm trước, gần chấp thủ. Cái gì trong tri kiến này làm họ không thích thú là gần không tham dục, gần không triền phược, gần không hoan lạc, gần không đắm trước, gần không chấp thủ.
SC 11Ở đây, này Aggivessana, những Sa-môn, Ba la môn có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm tôi thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Tất cả đều làm tôi thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”, như vậy là đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”, và Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình nên từ bỏ tri kiến này, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 12Ở đây, này Aggivessana, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Tất cả đều làm tôi không thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật, ngoài ra là hư vọng”, thì như vậy, ta đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú” và Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối; khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch, tranh luận, chống đối và bực mình, nên từ bỏ tri kiến ấy, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 13Ở đây, này Aggivessana, nếu có những Sa-môn, Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”. Ở đây, người có trí suy nghĩ như sau: “Nếu ta nói tri kiến này của ta: “Một phần làm tôi thích thú, một phần làm tôi không thích thú”, và nếu ta cố chấp, kiên chấp tri kiến này và nói: “Ðây là sự thật ngoài ra là hư vọng”, thì như vậy, ta đối nghịch với hai hạng người: Sa-môn hay Bà-la-môn nào có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi thích thú” và Sa-môn hay Bà la-môn này có lý thuyết như sau, có tri kiến như sau: “Tất cả đều làm cho tôi không thích thú”. Ta sẽ đối nghịch với hai hạng người này. Khi nào có đối nghịch thời có tranh luận; khi nào có tranh luận thời có chống đối, khi nào có chống đối thời có bực mình”. Như vậy, vị này vì thấy sự đối nghịch tranh luận, chống đối và bực mình, nên từ bỏ tri kiến ấy, không chấp thủ tri kiến khác. Như vậy là sự đoạn trừ những tri kiến này, như vậy là sự hủy bỏ những tri kiến này.
SC 14Nhưng này Aggivessana, thân này có sắc, do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phân toái, đoạn tuyệt, hoại diệt, cần phải được quán sát là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã. Khi vị ấy quán sát thân này là vô thường, khổ, như bệnh, như cục bướu, như mũi tên, như điều bất hạnh, như bệnh chướng, như kẻ địch, như phá hoại, là không, là vô ngã, thời thân, thân dục, thân ái, thân phục tòng được đoạn diệt.
SC 15Này Aggivessana, có ba thọ này; lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác khổ thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ chỉ cảm giác lạc thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác khổ thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chỉ cảm giác khổ thọ. Này Aggivessana, trong khi cảm giác bất khổ bất lạc thọ, chính khi ấy không cảm giác lạc thọ, không cảm giác khổ thọ, chỉ cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
SC 16Này Aggivessana, lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, khổ thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hại, bị suy tàn, bị tiêu diệt. Này Aggivessana, bất khổ bất lạc thọ là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, bị đoạn diệt, bị hủy hoại, bị suy tàn, bị tiêu diệt.
SC 17Thấy vậy, này Aggivessana, vị Ða văn Thánh đệ tử yểm ly lạc thọ, yểm ly khổ thọ, yểm ly bất khổ bất lạc thọ. Do yểm ly, vị ấy không có tham dục. Do không tham dục, vị ấy được giải thoát. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã diệt, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm. Sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa”.
SC 18Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỷ-kheo không nói thuận theo một ai, không tranh luận với một ai, chỉ nói theo từ ngữ đã được dùng ở đời, không có chấp thủ (từ ngữ ấy).
SC 19Lúc bấy giờ Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) đứng sau lưng Thế Tôn và đang quạt Thế Tôn. Rồi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như sau: “Thế Tôn đã thuyết cho chúng ta sự đoạn trừ các pháp ấy nhờ thắng trí. Thiện Thệ đã thuyết cho chúng ta sự tự bỏ các pháp ấy nhờ thắng trí”. Khi Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như vậy, tâm (của Tôn giả) được giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ.
SC 20Còn đối với du sĩ ngoại đạo Dighanakha, pháp nhãn ly trần, vô cấu được khởi lên: “Phàm pháp gì được khởi lên, tất cả pháp ấy được đoạn diệt”. Rồi du sĩ ngoại đạo Dighanakha thấy pháp, chứng pháp, ngộ pháp, thể nhập vào pháp, nghi ngờ tiêu trừ, do dự diệt tận, chứng được tự tín, không y cứ nơi người khác đối với đạo pháp của đức Bổn sư, liền bạch Thế Tôn
SC 21—Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati gijjhakūṭe pabbate sūkarakhatāyaṁ.
Atha kho dīghanakho paribbājako yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhito kho dīghanakho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“ahañhi, bho gotama, evaṁvādī evaṁdiṭṭhi:
‘sabbaṁ me nakkhamatī’”ti.
“Yāpi kho te esā, aggivessana, diṭṭhi:
‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti, esāpi te diṭṭhi nakkhamatī”ti?
“Esā ce me, bho gotama, diṭṭhi khameyya, taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā”ti.
“Ato kho te, aggivessana, bahū hi bahutarā lokasmiṁ ye evamāhaṁsu:
‘taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā’ti.
Te tañceva diṭṭhiṁ nappajahanti aññañca diṭṭhiṁ upādiyanti.
Ato kho te, aggivessana, tanū hi tanutarā lokasmiṁ ye evamāhaṁsu:
‘taṁpassa tādisameva, taṁpassa tādisamevā’ti.
Te tañceva diṭṭhiṁ pajahanti aññañca diṭṭhiṁ na upādiyanti.
Santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sabbaṁ me khamatī’ti;
santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti;
santaggivessana, eke samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me khamatī’ti
tesamayaṁ diṭṭhi sārāgāya santike, saññogāya santike, abhinandanāya santike, ajjhosānāya santike, upādānāya santike;
tatraggivessana ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino: ‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti
tesamayaṁ diṭṭhi asārāgāya santike, asaññogāya santike, anabhinandanāya santike, anajjhosānāya santike, anupādānāya santike”ti.
Evaṁ vutte, dīghanakho paribbājako bhagavantaṁ etadavoca:
“ukkaṁseti me bhavaṁ gotamo diṭṭhigataṁ, samukkaṁseti me bhavaṁ gotamo diṭṭhigatan”ti.
“Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti.
Yā hi tesaṁ khamati sāyaṁ diṭṭhi sārāgāya santike, saññogāya santike, abhinandanāya santike, ajjhosānāya santike, upādānāya santike;
yā hi tesaṁ nakkhamati sāyaṁ diṭṭhi asārāgāya santike, asaññogāya santike, anabhinandanāya santike, anajjhosānāya santike, anupādānāya santike.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sabbaṁ me khamatī’ti
tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—
sabbaṁ me khamatīti,
imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—
idameva saccaṁ moghamaññanti;
dvīhi me assa viggaho—
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me nakkhamatīti,
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatīti—
imehi assa dvīhi viggaho.
Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’.
Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati.
Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘sabbaṁ me nakkhamatī’ti
tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—
sabbaṁ me nakkhamatīti,
imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—
idameva saccaṁ moghamaññanti;
dvīhi me assa viggaho—
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me khamatīti,
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—ekaccaṁ me khamati ekaccaṁ me nakkhamatīti—
imehi assa dvīhi viggaho.
Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’.
Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati.
Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
Tatraggivessana, ye te samaṇabrāhmaṇā evaṁvādino evaṁdiṭṭhino:
‘ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatī’ti
tattha viññū puriso iti paṭisañcikkhati:
‘yā kho me ayaṁ diṭṭhi—
ekaccaṁ me khamati, ekaccaṁ me nakkhamatīti,
imañce ahaṁ diṭṭhiṁ thāmasā parāmāsā abhinivissa vohareyyaṁ—
idameva saccaṁ moghamaññanti;
dvīhi me assa viggaho—
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me khamatīti,
yo cāyaṁ samaṇo vā brāhmaṇo vā evaṁvādī evaṁdiṭṭhi—sabbaṁ me nakkhamatīti—
imehi assa dvīhi viggaho.
Iti viggahe sati vivādo, vivāde sati vighāto, vighāte sati vihesā’.
Iti so viggahañca vivādañca vighātañca vihesañca attani sampassamāno tañceva diṭṭhiṁ pajahati aññañca diṭṭhiṁ na upādiyati.
Evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ pahānaṁ hoti, evametāsaṁ diṭṭhīnaṁ paṭinissaggo hoti.
Ayaṁ kho panaggivessana, kāyo rūpī cātumahābhūtiko mātāpettikasambhavo odanakummāsūpacayo aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammo, aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassitabbo.
Tassimaṁ kāyaṁ aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato samanupassato yo kāyasmiṁ kāyachando kāyasneho kāyanvayatā sā pahīyati.
Tisso kho imā, aggivessana, vedanā—
sukhā vedanā, dukkhā vedanā, adukkhamasukhā vedanā.
Yasmiṁ, aggivessana, samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti;
sukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
Yasmiṁ, aggivessana, samaye dukkhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, na adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti;
dukkhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
Yasmiṁ, aggivessana, samaye adukkhamasukhaṁ vedanaṁ vedeti, neva tasmiṁ samaye sukhaṁ vedanaṁ vedeti, na dukkhaṁ vedanaṁ vedeti;
adukkhamasukhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti.
Sukhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā;
dukkhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā;
adukkhamasukhāpi kho, aggivessana, vedanā aniccā saṅkhatā paṭiccasamuppannā khayadhammā vayadhammā virāgadhammā nirodhadhammā.
Evaṁ passaṁ, aggivessana, sutavā ariyasāvako sukhāyapi vedanāya nibbindati, dukkhāyapi vedanāya nibbindati, adukkhamasukhāyapi vedanāya nibbindati;
nibbindaṁ virajjati, virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ, vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Evaṁ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu na kenaci saṁvadati, na kenaci vivadati, yañca loke vuttaṁ tena voharati, aparāmasan”ti.
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto bhagavato piṭṭhito ṭhito hoti bhagavantaṁ bījayamāno.
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“tesaṁ tesaṁ kira no bhagavā dhammānaṁ abhiññā pahānamāha, tesaṁ tesaṁ kira no sugato dhammānaṁ abhiññā paṭinissaggamāhā”ti.
Iti hidaṁ āyasmato sāriputtassa paṭisañcikkhato anupādāya āsavehi cittaṁ vimucci.
Dīghanakhassa pana paribbājakassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi:
“yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti.
Atha kho dīghanakho paribbājako diṭṭhadhammo pattadhammo viditadhammo pariyogāḷhadhammo tiṇṇavicikiccho vigatakathaṅkatho vesārajjappatto aparappaccayo satthusāsane bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Seyyathāpi, bho gotama, nikkujjitaṁ vā ukkujjeyya, paṭicchannaṁ vā vivareyya, mūḷhassa vā maggaṁ ācikkheyya, andhakāre vā telapajjotaṁ dhāreyya: ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti; evameva kho bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito.
Esāhaṁ bhavantaṁ gotamaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.
Upāsakaṁ maṁ bhavaṁ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dīghanakhasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.