Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumāra Kassapa trú tại Andhavana.
SC 2Rồi một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ Tôn giả Kumāra Kassapa ở, sau khi đến, bèn đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Kumāra Kassapa:
SC 3“Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng.
SC 4“Một Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm và đào lên”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một then cửa: “Thưa Tôn giả, một then cửa”.
SC 5“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy then cửa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con nhái: “Thưa Tôn giả, một con nhái”.
SC 6“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy đem con nhái lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con đường hai ngã: “Thưa Tôn giả, một con đường hai ngã”.
SC 7“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí hãy lấy con đường hai ngã lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một đồ lọc sữa: “Thưa Tôn giả, một đồ lọc sữa”.
SC 8“Vị Bà-la-môn nói: “Hãy lấy đồ lọc sữa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con rùa: “Thưa Tôn giả, một con rùa”.
SC 9“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con rùa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con dao phay: “Thưa Tôn giả, một con dao phay”.
SC 10“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con dao phay lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một miếng thịt: “Thưa Tôn giả một miếng thịt”.
SC 11“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy miếng thịt lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con rắn hổ: “Thưa Tôn giả, con rắn hổ”.
SC 12“Vị Bà-la-môn nói: “Hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ”.
SC 13“Này Tỷ-kheo, hãy đến chỗ Thế Tôn ở và hỏi những câu hỏi ấy. Thế Tôn trả lời Tôn giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, Ta không thấy ai trên cõi đời, với chư Thiên, các Ma vương, với Phạm thiên, các chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể hướng tâm để trả lời những câu hỏi ấy, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”.
SC 14Vị Thiên ấy nói như vậy. Sau khi nói xong như vậy, vị ấy biến mất ở nơi đây.
SC 15Rồi Tôn giả Kumāra Kassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Kumāra Kassapa bạch Thế Tôn
SC 16—Bạch Thế Tôn, đêm nay, một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ con ở, sau khi đến liền đứng một bên. Khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với con: “Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này, ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng. Một vị Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm đào lên”. Người có trí cầm gươm, đào lên thấy một then cửa … (như trên) … đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”. Bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói như vậy, nói xong liền biến mất tại chỗ ấy.
SC 17Bạch Thế Tôn, gò mối là gì, cái gì phun khói ban đêm, cái gì chiếu sáng ban ngày, ai là Bà-la-môn, ai là người có trí, cái gì là cây gươm, cái gì là đào lên, cái gì là then cửa, cái gì là con nhái, cái gì là con đường hai ngã, cái gì là đồ lọc sữa, cái gì là con rùa, cái gì là con dao phay, cái gì là miếng thịt, cái gì là con rắn hổ?
SC 18—Này Tỷ-kheo, gò mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt.
SC 19Này Tỷ-kheo, cái gì thuộc về công việc ban ngày, ban đêm suy tầm, suy nghĩ, như vậy là ban đêm phun khói.
SC 20Này Tỷ-kheo, cái gì sau khi suy tầm, suy tư ban đêm, ban ngày đem ra thực hành, về thân, về lời nói, về ý, như vậy là ban ngày chói sáng.
SC 21Này Tỷ-kheo, Bà-la-môn là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tỷ-kheo, người có trí là đồng nghĩa với Tỷ-kheo hữu học. Này Tỷ-kheo, cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc Thánh. Này Tỷ-kheo, đào lên là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
SC 22Này Tỷ-kheo, cái then cửa là đồng nghĩa với vô minh; đem then cửa lên là từ bỏ vô minh này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 23Này Tỷ-kheo, con nhái là đồng nghĩa với phẫn nộ hiềm hận; đem con nhái lên là từ bỏ phẫn nộ hiềm hận này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 24Này Tỷ-kheo, con đường hai ngã là đồng nghĩa với nghi hoặc; đem con đường hai ngã lên là từ bỏ nghi hoặc này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 25Này Tỷ-kheo, đồ lọc sữa là đồng nghĩa với năm triền cái: dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi hoặc triền cái; đem đồ lọc sữa lên là từ bỏ năm triền cái này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 26Này Tỷ-kheo, con rùa là đồng nghĩa với năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn; đem con rùa lên là từ bỏ năm thủ uẩn này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 27Này Tỷ-kheo, con dao phay là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng, tức là các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức … Các hương do mũi nhận thức … Các vị do lưỡi nhận thức … Các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; lấy con dao phay lên là từ bỏ năm dục trưởng dưỡng này, kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 28Này Tỷ-kheo, miếng thịt là đồng nghĩa với hỷ tham; lấy miếng thịt lên là từ bỏ hỷ tham này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 29Này Tỷ-kheo, con rắn hổ là đồng nghĩa với vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc; hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ, là ý nghĩa này.
SC 30Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā kumārakassapo andhavane viharati.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ andhavanaṁ obhāsetvā yenāyasmā kumārakassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā āyasmantaṁ kumārakassapaṁ etadavoca:
“Bhikkhu bhikkhu, ayaṁ vammiko rattiṁ dhūmāyati, divā pajjalati.
Brāhmaṇo evamāha:
‘abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa laṅgiṁ
‘laṅgī, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa laṅgiṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa uddhumāyikaṁ.
‘Uddhumāyikā, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa uddhumāyikaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa dvidhāpathaṁ.
‘Dvidhāpatho, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa dvidhāpathaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa caṅgavāraṁ.
‘Caṅgavāro, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa caṅgavāraṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa kummaṁ.
‘Kummo, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa kummaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa asisūnaṁ.
‘Asisūnā, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa asisūnaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa maṁsapesiṁ.
‘Maṁsapesi, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa maṁsapesiṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa nāgaṁ.
‘Nāgo, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṁ ghaṭṭesi; namo karohi nāgassā’ti.
Ime kho tvaṁ, bhikkhu, pañhe bhagavantaṁ upasaṅkamitvā puccheyyāsi, yathā ca te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsi.
Nāhaṁ taṁ, bhikkhu, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya aññatra tathāgatena vā, tathāgatasāvakena vā, ito vā pana sutvā”ti—
Idamavoca sā devatā.
Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
Atha kho āyasmā kumārakassapo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kumārakassapo bhagavantaṁ etadavoca:
“imaṁ, bhante, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ andhavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhante, sā devatā maṁ etadavoca:
‘bhikkhu bhikkhu, ayaṁ vammiko rattiṁ dhūmāyati, divā pajjalati.
Brāhmaṇo evamāha:
“abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā”ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya …pe…
ito vā pana sutvā’ti.
Idamavoca, bhante, sā devatā.
Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
Ko nu kho, bhante, vammiko, kā rattiṁ dhūmāyanā, kā divā pajjalanā, ko brāhmaṇo, ko sumedho, kiṁ satthaṁ, kiṁ abhikkhaṇaṁ, kā laṅgī, kā uddhumāyikā, ko dvidhāpatho, kiṁ caṅgavāraṁ, ko kummo, kā asisūnā, kā maṁsapesi, ko nāgo”ti?
“‘Vammiko’ti kho, bhikkhu, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ, mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
Yaṁ kho, bhikkhu, divā kammante ārabbha rattiṁ anuvitakketi anuvicāreti—
ayaṁ rattiṁ dhūmāyanā.
Yaṁ kho, bhikkhu, rattiṁ anuvitakketvā anuvicāretvā divā kammante payojeti kāyena vācāya manasā—
ayaṁ divā pajjalanā.
‘Brāhmaṇo’ti kho, bhikkhu, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
‘Sumedho’ti kho, bhikkhu, sekkhassetaṁ bhikkhuno adhivacanaṁ.
‘Satthan’ti kho, bhikkhu, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ.
‘Abhikkhaṇan’ti kho, bhikkhu, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Laṅgī’ti kho, bhikkhu, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ.
Ukkhipa laṅgiṁ, pajaha avijjaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Uddhumāyikā’ti kho, bhikkhu, kodhūpāyāsassetaṁ adhivacanaṁ.
Ukkhipa uddhumāyikaṁ, pajaha kodhūpāyāsaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Dvidhāpatho’ti kho, bhikkhu, vicikicchāyetaṁ adhivacanaṁ.
Ukkhipa dvidhāpathaṁ, pajaha vicikicchaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Caṅgavāran’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ nīvaraṇānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
kāmacchandanīvaraṇassa, byāpādanīvaraṇassa, thinamiddhanīvaraṇassa, uddhaccakukkuccanīvaraṇassa, vicikicchānīvaraṇassa.
Ukkhipa caṅgavāraṁ, pajaha pañca nīvaraṇe;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Kummo’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ upādānakkhandhānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
rūpupādānakkhandhassa, vedanupādānakkhandhassa, saññupādānakkhandhassa, saṅkhārupādānakkhandhassa, viññāṇupādānakkhandhassa.
Ukkhipa kummaṁ, pajaha pañcupādānakkhandhe;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Asisūnā’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ—
cakkhuviññeyyānaṁ rūpānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ,
sotaviññeyyānaṁ saddānaṁ …pe…
ghānaviññeyyānaṁ gandhānaṁ …pe…
jivhāviññeyyānaṁ rasānaṁ …pe…
kāyaviññeyyānaṁ phoṭṭhabbānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ.
Ukkhipa asisūnaṁ, pajaha pañca kāmaguṇe;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Maṁsapesī’ti kho, bhikkhu, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
Ukkhipa maṁsapesiṁ, pajaha nandīrāgaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Nāgo’ti kho, bhikkhu, khīṇāsavassetaṁ bhikkhuno adhivacanaṁ.
Tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṁ ghaṭṭesi; namo karohi nāgassāti ayametassa attho”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā kumārakassapo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Vammikasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.
Nya 1Thus have I heard:
At one time the Lord was staying near Sāvatthī in the Jeta Grove in Anāthapiṇḍika's monastery. Now at that time the venerable Kassapa the Boy was staying in the Blind Men's Grove. Then, when the night was far spent a certain deva with a glorious skin, having illuminated the whole of the Blind Men's Grove, approached the venerable Kassapa the Boy; and having approached stood at one side. While standing at one side this deva spoke thus to the venerable Kassapa the Boy:
Nya 2“Monk, monk, this ant-hill smokes by night, blazes up by day. A brahman speaks thus:
‘Bringing a tool, clever one, dig it up.’
The clever one, digging when he had brought a tool saw a bolt and said:
‘A bolt, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the bolt, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a frog, and said:
‘A frog, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the frog, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a forked path, and said:
‘A forked path, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the forked path, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought PTS vp En 184 a tool, saw a strainer, and said:
‘A strainer, revered one.’
The brahman spoke thus:
PTS vp Pali 1.143‘Take out the strainer, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a tortoise, and said:
‘A tortoise, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the tortoise, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a slaughter-house, and said:
‘A slaughter-house, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the slaughter-house, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a piece of flesh, and said:
‘A piece of flesh, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the piece of flesh, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a cobra, and said:
‘A cobra, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Let the cobra be, do not touch the cobra, do reverence to the cobra.’
If you, monk, having approached the Lord, were to ask him about these questions, then you could remember as the Lord explains to you. I, monk, do not see anyone in the world with its devas, with its Māras, with its Brahmās, in creation, with its recluses and brahmans, its devas and men, who could turn his mind to expounding these questions except a Tathāgata, or a Tathāgata's disciple, or one who has heard (the teaching) from them.”
Thus spoke that deva; and vanished then and there, having said this.
Nya 3Then the venerable Kassapa the Boy approached the Lord towards the end of that night; having approached, having greeted the Lord, he sat down at a respectful distance. As he was sitting down at a respectful distance, the venerable Kassapa the Boy spoke thus to the Lord:
“During this night, Lord, when the night was far spent, a certain deva with a glorious skin, having illumined the whole of the Blind Men's Grove, approached me, and having approached, stood at one side. While standing to one side, Lord, that deva spoke thus to me:
“Monk, monk, this ant-hill smokes by night, blazes up by day. A brahman speaks thus:
‘Bringing a tool, clever one, dig it up.’
The clever one, digging when he had brought a tool saw a bolt and said:
‘A bolt, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the bolt, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a frog, and said:
‘A frog, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the frog, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a forked path, and said:
‘A forked path, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the forked path, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a strainer, and said:
‘A strainer, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the strainer, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a tortoise, and said:
‘A tortoise, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the tortoise, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a slaughter-house, and said:
‘A slaughter-house, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the slaughter-house, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a piece of flesh, and said:
‘A piece of flesh, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Take out the piece of flesh, dig on, clever one, bringing a tool.’
The clever one, digging on when he had brought a tool, saw a cobra, and said:
‘A cobra, revered one.’
The brahman spoke thus:
‘Let the cobra be, do not touch the cobra, do reverence to the cobra.’
If you, monk, having approached the Lord, were to ask him about these questions, then you could remember as the Lord explains to you. I, monk, do not see anyone in the world with its devas, with its Māras, with its Brahmās, in creation, with its recluses and brahmans, its devas and men, who could turn his mind to expounding these questions except a Tathāgata, or a Tathāgata's disciple, or one who has heard (the teaching) from them.”
This is what the deva said, Lord, and vanished then and there, having said this.
Now what, Lord is the anthill?
What is smoking by night?
What is blazing up by day?
Who is the brahman?
Who the clever one?
What is the tool?
What the digging up?
What the bolt?
What the frog?
What the forked path?
What the strainer?
What the tortoise?
What the slaughter-house?
What the piece of flesh?
What the cobra?”
Nya 4PTS vp Pali 1.144“The anthill, monk, this is a synonym for the body made of the four great elements, originated from mother and father, nourished on gruel and sour milk, of a nature to be constantly rubbed away, pounded away, broken up and scattered.
Whatever, monk, one thinks upon and ponders upon during the night concerning the day's affairs, this is smoking by night.
Whatever affairs, monk, one sets going by day, whether by body, speech or thought, having pondered and reflected upon them during the night, this is blazing up by day.
Brahman, monk, this is a synonym for the Tathāgata, perfected one, fully self-awakened one.
Clever one, monk, this is a synonym for a monk who is a learner.
The tool, monk, this is a synonym for the Ariyan intuitive wisdom.
Digging, monk, this is a synonym for the output of energy.
The bolt, monk, this is a synonym for ignorance. Take out the bolt, get rid of ignorance, dig, clever one, bringing a tool. This is the meaning of that.
The frog, monk, this is a synonym for the turbulence of wrath. Take out the frog, get rid of the turbulence of wrath, dig, clever one, bringing a tool. This is the meaning of that.
The forked path, monk, this is a synonym for perplexity. Take out the forked path, get rid of perplexity, dig, clever one, bringing a tool. This is the meaning of that.
The strainer, monk, this is a synonym for the five hindrances: for the hindrance of desire for sense-pleasures, for the hindrance of malevolence, for the hindrance of sloth and torpor, for the hindrance of restlessness and worry, for the hindrance of perplexity. Take out the strainer, get rid of the five hindrances, dig, clever one, bringing a tool. This is the meaning of that.
The tortoise, monk, this is a synonym for the five grasping groups, that is to say: for the group of grasping after material shape, for the group of grasping after feeling, for the group of grasping after perception, for the group of grasping after the habitual tendencies, for the group of grasping after consciousness. Take out the tortoise, get rid of the five grasping groups, dig, clever one, bringing a tool. This is the meaning of that.
The slaughter-house, monk, this is a synonym for the five strands of sense-pleasures: (1) for material shapes cognisable by the eye, agreeable, pleasant, liked, enticing, connected with sensual pleasures, alluring; (2) for sounds cognisable by the ear agreeable, pleasant, liked, enticing, connected with sensual pleasures, alluring; (3) for smells cognisable by the nose agreeable, pleasant, liked, enticing, connected with sensual pleasures, alluring; (4) for savours cognisable by the tongue agreeable, pleasant, liked, enticing, connected with sensual pleasures, alluring; (5) for touches cognisable by the body, agreeable, pleasant, liked, enticing, connected with sensual pleasures, PTS vp Pali 1.145alluring. Take out the slaughter-house, get rid of the five strands of sense-pleasures, dig, clever one, bringing a tool. This is the meaning of that.
The piece of flesh, monk, this is a synonym for the passion of delight. Take out the piece of flesh, get rid of the passion of delight, dig, clever one, bringing a tool. This is the meaning of that.
The cobra, monk, this is a synonym for a monk whose cankers are destroyed. Let the cobra be, do not touch the cobra, do reverence to the cobra. This is the meaning of that.”
Nya 5Thus spoke the Lord. Delighted the venerable Kassapa the Boy rejoiced in what the Lord had said.
The Discourse on the Ant-hill: The Third
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika. Lúc bấy giờ, Tôn giả Kumāra Kassapa trú tại Andhavana.
SC 2Rồi một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ Tôn giả Kumāra Kassapa ở, sau khi đến, bèn đứng một bên. Sau khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với Tôn giả Kumāra Kassapa:
SC 3“Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng.
SC 4“Một Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm và đào lên”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một then cửa: “Thưa Tôn giả, một then cửa”.
SC 5“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy then cửa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con nhái: “Thưa Tôn giả, một con nhái”.
SC 6“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy đem con nhái lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con đường hai ngã: “Thưa Tôn giả, một con đường hai ngã”.
SC 7“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí hãy lấy con đường hai ngã lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một đồ lọc sữa: “Thưa Tôn giả, một đồ lọc sữa”.
SC 8“Vị Bà-la-môn nói: “Hãy lấy đồ lọc sữa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con rùa: “Thưa Tôn giả, một con rùa”.
SC 9“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con rùa lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một con dao phay: “Thưa Tôn giả, một con dao phay”.
SC 10“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy con dao phay lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy một miếng thịt: “Thưa Tôn giả một miếng thịt”.
SC 11“Vị Bà-la-môn nói: “Này kẻ trí, hãy lấy miếng thịt lên, cầm gươm đào thêm”. Người có trí cầm gươm đào lên, thấy con rắn hổ: “Thưa Tôn giả, con rắn hổ”.
SC 12“Vị Bà-la-môn nói: “Hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ”.
SC 13“Này Tỷ-kheo, hãy đến chỗ Thế Tôn ở và hỏi những câu hỏi ấy. Thế Tôn trả lời Tôn giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì. Này Tỷ-kheo, Ta không thấy ai trên cõi đời, với chư Thiên, các Ma vương, với Phạm thiên, các chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người có thể hướng tâm để trả lời những câu hỏi ấy, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”.
SC 14Vị Thiên ấy nói như vậy. Sau khi nói xong như vậy, vị ấy biến mất ở nơi đây.
SC 15Rồi Tôn giả Kumāra Kassapa, sau khi đêm ấy đã mãn, đến tại chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến xong, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Kumāra Kassapa bạch Thế Tôn
SC 16—Bạch Thế Tôn, đêm nay, một vị Thiên, đêm đã gần tàn, với hào quang rực rỡ chiếu sáng toàn thể Andhavana, đến chỗ con ở, sau khi đến liền đứng một bên. Khi đứng một bên, vị Thiên ấy nói với con: “Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này, ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng. Một vị Bà-la-môn nói như sau: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm đào lên”. Người có trí cầm gươm, đào lên thấy một then cửa … (như trên) … đệ tử Như Lai hay những ai đã được nghe hai vị này”. Bạch Thế Tôn, vị Thiên ấy nói như vậy, nói xong liền biến mất tại chỗ ấy.
SC 17Bạch Thế Tôn, gò mối là gì, cái gì phun khói ban đêm, cái gì chiếu sáng ban ngày, ai là Bà-la-môn, ai là người có trí, cái gì là cây gươm, cái gì là đào lên, cái gì là then cửa, cái gì là con nhái, cái gì là con đường hai ngã, cái gì là đồ lọc sữa, cái gì là con rùa, cái gì là con dao phay, cái gì là miếng thịt, cái gì là con rắn hổ?
SC 18—Này Tỷ-kheo, gò mối là đồng nghĩa với cái thân do bốn đại thành, do cha mẹ sanh, nhờ cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, phấn toái, đoạn tuyệt, hoại diệt.
SC 19Này Tỷ-kheo, cái gì thuộc về công việc ban ngày, ban đêm suy tầm, suy nghĩ, như vậy là ban đêm phun khói.
SC 20Này Tỷ-kheo, cái gì sau khi suy tầm, suy tư ban đêm, ban ngày đem ra thực hành, về thân, về lời nói, về ý, như vậy là ban ngày chói sáng.
SC 21Này Tỷ-kheo, Bà-la-môn là đồng nghĩa với Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tỷ-kheo, người có trí là đồng nghĩa với Tỷ-kheo hữu học. Này Tỷ-kheo, cái gươm là đồng nghĩa với trí tuệ của bậc Thánh. Này Tỷ-kheo, đào lên là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
SC 22Này Tỷ-kheo, cái then cửa là đồng nghĩa với vô minh; đem then cửa lên là từ bỏ vô minh này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 23Này Tỷ-kheo, con nhái là đồng nghĩa với phẫn nộ hiềm hận; đem con nhái lên là từ bỏ phẫn nộ hiềm hận này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 24Này Tỷ-kheo, con đường hai ngã là đồng nghĩa với nghi hoặc; đem con đường hai ngã lên là từ bỏ nghi hoặc này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 25Này Tỷ-kheo, đồ lọc sữa là đồng nghĩa với năm triền cái: dục tham triền cái, sân triền cái, hôn trầm thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi hoặc triền cái; đem đồ lọc sữa lên là từ bỏ năm triền cái này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 26Này Tỷ-kheo, con rùa là đồng nghĩa với năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn; đem con rùa lên là từ bỏ năm thủ uẩn này; kẻ có trí cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 27Này Tỷ-kheo, con dao phay là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng, tức là các sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức … Các hương do mũi nhận thức … Các vị do lưỡi nhận thức … Các xúc do thân cảm xúc, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn; lấy con dao phay lên là từ bỏ năm dục trưởng dưỡng này, kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 28Này Tỷ-kheo, miếng thịt là đồng nghĩa với hỷ tham; lấy miếng thịt lên là từ bỏ hỷ tham này; kẻ có trí, cầm gươm đào lên là ý nghĩa này.
SC 29Này Tỷ-kheo, con rắn hổ là đồng nghĩa với vị Tỷ-kheo đã diệt trừ các lậu hoặc; hãy để con rắn hổ yên, chớ đụng chạm con rắn hổ, hãy đảnh lễ con rắn hổ, là ý nghĩa này.
SC 30Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Tena kho pana samayena āyasmā kumārakassapo andhavane viharati.
Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ andhavanaṁ obhāsetvā yenāyasmā kumārakassapo tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho sā devatā āyasmantaṁ kumārakassapaṁ etadavoca:
“Bhikkhu bhikkhu, ayaṁ vammiko rattiṁ dhūmāyati, divā pajjalati.
Brāhmaṇo evamāha:
‘abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa laṅgiṁ
‘laṅgī, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa laṅgiṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa uddhumāyikaṁ.
‘Uddhumāyikā, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa uddhumāyikaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa dvidhāpathaṁ.
‘Dvidhāpatho, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa dvidhāpathaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa caṅgavāraṁ.
‘Caṅgavāro, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa caṅgavāraṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa kummaṁ.
‘Kummo, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa kummaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa asisūnaṁ.
‘Asisūnā, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa asisūnaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa maṁsapesiṁ.
‘Maṁsapesi, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘ukkhipa maṁsapesiṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā’ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya addasa nāgaṁ.
‘Nāgo, bhadante’ti.
Brāhmaṇo evamāha:
‘tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṁ ghaṭṭesi; namo karohi nāgassā’ti.
Ime kho tvaṁ, bhikkhu, pañhe bhagavantaṁ upasaṅkamitvā puccheyyāsi, yathā ca te bhagavā byākaroti tathā naṁ dhāreyyāsi.
Nāhaṁ taṁ, bhikkhu, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, yo imesaṁ pañhānaṁ veyyākaraṇena cittaṁ ārādheyya aññatra tathāgatena vā, tathāgatasāvakena vā, ito vā pana sutvā”ti—
Idamavoca sā devatā.
Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
Atha kho āyasmā kumārakassapo tassā rattiyā accayena yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kumārakassapo bhagavantaṁ etadavoca:
“imaṁ, bhante, rattiṁ aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṁ andhavanaṁ obhāsetvā yenāhaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā ekamantaṁ aṭṭhāsi. Ekamantaṁ ṭhitā kho, bhante, sā devatā maṁ etadavoca:
‘bhikkhu bhikkhu, ayaṁ vammiko rattiṁ dhūmāyati, divā pajjalati.
Brāhmaṇo evamāha:
“abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyā”ti.
Abhikkhaṇanto sumedho satthaṁ ādāya …pe…
ito vā pana sutvā’ti.
Idamavoca, bhante, sā devatā.
Idaṁ vatvā tatthevantaradhāyi.
Ko nu kho, bhante, vammiko, kā rattiṁ dhūmāyanā, kā divā pajjalanā, ko brāhmaṇo, ko sumedho, kiṁ satthaṁ, kiṁ abhikkhaṇaṁ, kā laṅgī, kā uddhumāyikā, ko dvidhāpatho, kiṁ caṅgavāraṁ, ko kummo, kā asisūnā, kā maṁsapesi, ko nāgo”ti?
“‘Vammiko’ti kho, bhikkhu, imassetaṁ cātumahābhūtikassa kāyassa adhivacanaṁ, mātāpettikasambhavassa odanakummāsūpacayassa aniccucchādanaparimaddanabhedanaviddhaṁsanadhammassa.
Yaṁ kho, bhikkhu, divā kammante ārabbha rattiṁ anuvitakketi anuvicāreti—
ayaṁ rattiṁ dhūmāyanā.
Yaṁ kho, bhikkhu, rattiṁ anuvitakketvā anuvicāretvā divā kammante payojeti kāyena vācāya manasā—
ayaṁ divā pajjalanā.
‘Brāhmaṇo’ti kho, bhikkhu, tathāgatassetaṁ adhivacanaṁ arahato sammāsambuddhassa.
‘Sumedho’ti kho, bhikkhu, sekkhassetaṁ bhikkhuno adhivacanaṁ.
‘Satthan’ti kho, bhikkhu, ariyāyetaṁ paññāya adhivacanaṁ.
‘Abhikkhaṇan’ti kho, bhikkhu, vīriyārambhassetaṁ adhivacanaṁ.
‘Laṅgī’ti kho, bhikkhu, avijjāyetaṁ adhivacanaṁ.
Ukkhipa laṅgiṁ, pajaha avijjaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Uddhumāyikā’ti kho, bhikkhu, kodhūpāyāsassetaṁ adhivacanaṁ.
Ukkhipa uddhumāyikaṁ, pajaha kodhūpāyāsaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Dvidhāpatho’ti kho, bhikkhu, vicikicchāyetaṁ adhivacanaṁ.
Ukkhipa dvidhāpathaṁ, pajaha vicikicchaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Caṅgavāran’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ nīvaraṇānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
kāmacchandanīvaraṇassa, byāpādanīvaraṇassa, thinamiddhanīvaraṇassa, uddhaccakukkuccanīvaraṇassa, vicikicchānīvaraṇassa.
Ukkhipa caṅgavāraṁ, pajaha pañca nīvaraṇe;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Kummo’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ upādānakkhandhānaṁ adhivacanaṁ, seyyathidaṁ—
rūpupādānakkhandhassa, vedanupādānakkhandhassa, saññupādānakkhandhassa, saṅkhārupādānakkhandhassa, viññāṇupādānakkhandhassa.
Ukkhipa kummaṁ, pajaha pañcupādānakkhandhe;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Asisūnā’ti kho, bhikkhu, pañcannetaṁ kāmaguṇānaṁ adhivacanaṁ—
cakkhuviññeyyānaṁ rūpānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ,
sotaviññeyyānaṁ saddānaṁ …pe…
ghānaviññeyyānaṁ gandhānaṁ …pe…
jivhāviññeyyānaṁ rasānaṁ …pe…
kāyaviññeyyānaṁ phoṭṭhabbānaṁ iṭṭhānaṁ kantānaṁ manāpānaṁ piyarūpānaṁ kāmūpasaṁhitānaṁ rajanīyānaṁ.
Ukkhipa asisūnaṁ, pajaha pañca kāmaguṇe;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Maṁsapesī’ti kho, bhikkhu, nandīrāgassetaṁ adhivacanaṁ.
Ukkhipa maṁsapesiṁ, pajaha nandīrāgaṁ;
abhikkhaṇa, sumedha, satthaṁ ādāyāti ayametassa attho.
‘Nāgo’ti kho, bhikkhu, khīṇāsavassetaṁ bhikkhuno adhivacanaṁ.
Tiṭṭhatu nāgo, mā nāgaṁ ghaṭṭesi; namo karohi nāgassāti ayametassa attho”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā kumārakassapo bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Vammikasuttaṁ niṭṭhitaṁ tatiyaṁ.