Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn đi du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.
SC 2Rồi Thế Tôn bước xuống bên lề đường, đến tại một địa điểm rồi mỉm cười. Tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười. Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ānanda đắp y về phía một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười.
SC 4—Thuở xưa này Ānanda, tại địa điểm này là một thị trấn tên là Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sống ở đây, dựa vào thị trấn Vebhalinga. Ở đây, này Ānanda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ānanda. Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
SC 5Rồi Tôn giả Ānanda gấp tư y sanghati (tăng-già-lê), trải ra rồi bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn ngồi xuống. Chính tại địa điểm này, hai bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sẽ sử dụng.
SC 7Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 8—Thuở xưa, này Ānanda, tại địa điểm này là thị trấn tên Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã sống dựa vào thị trấn Vebhalinga. Chính tại đây, này Ānanda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
SC 9Này Ānanda, chính tại thị trấn Vebhalinga, có người thợ làm đồ gốm tên là Ghatikara, người này là người đàn tín của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vị đàn tín đệ nhất. Thanh niên Jotipala là người bạn chí thân của thợ gốm Ghatikara. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 10“—Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 11Khi nghe nói vậy, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 12“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 13Lần thứ hai, này Ānanda … Lần thứ ba, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 14“—Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 15Lần thứ ba này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 16“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 17“—Vậy này bạn Jotipala, hãy cầm đồ gãi lưng và bột tắm, chúng ta hãy đi đến sông để tắm”.
“—Thưa bạn, vâng”.
SC 18Này Ānanda, thanh niên Jotipala vâng đáp thợ gốm Ghatikara như vậy.
SC 19Thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala lấy đồ gãi lưng và bột tắm, đi đến sông để tắm. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 20“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 21Khi nghe nói vậy, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 22“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 23Lần thứ hai, này Ānanda, … lần thứ ba này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 24“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 25Lần thứ ba, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 26“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 27Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nắm lấy thanh niên Jotipala ở nơi cổ tay áo và nói:
SC 28“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 29Rồi này Ānanda, sau khi gỡ thoát cổ áo, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 30“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến vị Sa-môn đầu trọc ấy để làm gì?
SC 31Rồi thợ gốm Ghatikara nắm lấy tóc vừa mới tắm xong của thanh niên Jotipala và nói:
SC 32“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala chúng ta hãy đi, chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
SC 33Rồi này Ānanda, thanh niên Jotipala suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu! Thật là hy hữu! Thợ gốm Ghatikara tuy sanh thuộc hạ cấp, lại dám nghĩ có thể nắm lấy tóc của ta, dầu ta vừa mới gội đầu, chắc việc này không phải là tầm thường”, rồi nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 34“—Này bạn Ghatikara, có thật sự là cần thiết không?”
SC 35“—Này bạn Jotipala, thật sự là cần thiết. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
SC 36“—Vậy bạn Ghatikara, hãy thả (tay) ra. Chúng ta sẽ đi”.
SC 37Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala cùng đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, thợ gốm Ghatikara đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Jotipala thời nói lên những lời cháo đón hỏi thăm với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 38“—Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn thuyết pháp cho bạn con”.
SC 39Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với pháp thoại khích lệ làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, phấn khởi, hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 40Rồi này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 41“—Này bạn Ghatikara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia?”
SC 42“—Này bạn Jotipala, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa”.
SC 43“—Vậy này bạn Ghatikara, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
SC 44Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 45“—Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn xuất gia cho bạn con”.
SC 46Và này Ānanda, thanh niên Jotipala được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cho xuất gia, cho thọ đại giới. Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi thanh niên Jotipala xuất gia chưa bao lâu, sau nửa tháng, sau khi ở tại Vebhalinga lâu cho đến khi thấy tự thỏa mãn, liền du hành đi đến Bārāṇāsī. Ngài tuần tự du hành và đến tại Bārāṇāsī (Ba-la-nại). Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chành Ðẳng Giác trú tại Bārāṇāsī, ở Isipatana, vườn Lộc Uyển.
SC 47Này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi được nghe như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến Bārāṇāsī, trú tại Bārāṇāsī, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Ānanda, Kiki, vua nước Kasi cho thắng các cỗ xe tối thù thắng, sau khi tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng với các cỗ xe thù thắng đi ra khỏi thành Bārāṇāsī với đại uy vệ của nhà vua để yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vua đi xe cho đến chỗ nào còn đi được xe, rồi xuống xe đi bộ, đi đến chỗ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vua ngồi xuống một bên. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Kiki, vua xứ Kasi, đang ngồi một bên. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 48“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”.
SC 49Và này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác im lặng nhận lời. Rồi này Ānanda, sau khi được biết Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhận lời, Kiki, vua xứ Kasi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 50Và này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xứ của mình, cho bày biện các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cơm vàng khô, các loại cari, các hột đen được gạn bỏ, và các món ăn gia vị, rồi báo thời giờ cho Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được biết:
SC 51“—Bạch Thế Tôn giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 52Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi tự tay thân hầu và làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, khi Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã ăn xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 53“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con an cư mùa mưa tại Bārāṇāsī; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
SC 54“—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi.”
SC 55Lần thứ hai, này Ānanda, … Lần thứ ba, này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 56“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con, an cư mùa mưa tại Bārāṇāsī; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
SC 57“—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư trong mùa mưa rồi”.
SC 58Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, suy nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Bārāṇāsī”, vì vậy cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 59“—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?”
SC 60“—Ðại vương, có một thị trấn tên là Vebhalinga. Tại đấy có thợ gốm tên là Ghatikara. Người ấy là đàn tín hộ trì của Ta, một đàn tín hộ trì tối thượng. Ðại vương, Ðại vương có nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Bārāṇāsī”, do vậy, Ðại vương cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Nhưng thợ gốm Ghatikara không có như vậy, và không sợ như vậy. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara thành tựu lòng tin bất thối chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái lạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ ngọc và vàng, không có vàng và bạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau: “Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que (mugga), từng nhúm các loại đậu hột (kalaya), và có thể lấy cái gì mình muốn”. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa.
SC 61“Một thời, này Ðại vương, Ta ở tại thị trấn Vabhalinga. Rồi này Ðại vương, Ta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến cha mẹ của thợ gốm Ghatikara, sau khi đến nói với cha mẹ thợ gốm Ghatikara như sau:
SC 62“—Người thợ làm đồ gốm đi đâu?”
SC 63“—Bạch Thế Tôn, người đàn tín hộ trì cho Thế Tôn đã đi khỏi và có dặn như sau: Hãy lấy cháo từ nơi nồi, hãy lấy đồ ăn từ nơi chảo mà dùng”.
SC 64“Rồi Ta, này Ðại vương, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi. Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến, nói với cha mẹ như sau:
SC 65“—Ai đã lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi?”
SC 66“—Này con, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi”.
SC 67“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần (không rời khỏi) cha mẹ (người thợ gốm).
SC 68“Một thời, này Ðại Vương. Ta trú ở thị trấn Vebhalinga, lúc bấy giờ, các cốc bị mưa dột, rồi Ta, này Ðại vương, gọi các Tỷ-kheo:
SC 69“—Hãy đi, này các Tỷ-kheo, và xem tại nhà của thợ gốm Ghatikara có cỏ hay không?
SC 70“Khi được nghe nói vậy, này Ðại vương, các Tỷ-kheo bạch với Ta:
SC 71“—Bạch Thế Tôn, tại nhà của thợ gốm Ghatikara không có cỏ, nhưng nhà người ấy có mái cỏ”.
SC 72“—Này các Tỷ-kheo, hãy đi và rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara.
SC 73“Rồi này Ðại vương, các Tỷ-kheo ấy rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara. Này Ðại vương, cha mẹ thợ gốm Ghatikara nói với các Tỷ-kheo ấy:
SC 74“—Quý vị là ai lại rút cỏ ngôi nhà?”
SC 75“—Này Ðại tỷ, ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột”.
SC 76“—Hãy lấy đi, chư Hiền giả! Hãy lấy đi, chư Hiền giả!”
SC 77“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến thưa với cha mẹ như sau:
SC 78“—Những ai đã rút cỏ khỏi ngôi nhà?”
SC 79“—Này Con, các Tỷ-kheo có nói: Ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột”.
SC 80“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”.
SC 81“Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần, (không rời khỏi) cha mẹ thợ gốm. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Ðại vương, là người thợ gốm Ghatikara.
SC 82“—Lợi ích thay, bạch Thế Tôn, cho thợ gốm Ghatikara; thật khéo lợi ích thay, bạch Thế Tôn cho thợ gốm Ghatikara, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng!”
SC 83Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, cho người đưa đến thợ gốm Ghatikara, khoảng năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn. Rồi này Ānanda, những người nhà vua cử đi đến thợ gốm Ghatikara và nói:
SC 84“—Này Tôn giả, năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn này, do Kiki, vua xứ Kasi, gởi đến cho Tôn giả, mong Tôn giả hãy nhận lấy”.
SC 85“—Nhà vua rất nhiều phận sự, rất nhiều việc cần phải làm. Thật là vừa đủ cho tôi, được nhà vua nghĩ đến như thế này”.
SC 86—Này Ānanda, rất có thể Ông suy nghĩ như sau: “Lúc bây giờ, thanh niên Jotipala có thể là một người khác”. Nhưng này Ānanda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala.
SC 87Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ.
Atha kho bhagavā maggā okkamma aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“ko nu kho hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya?
Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
Atha kho āyasmā ānando ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya?
Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imasmiṁ padese vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo ahosi iddho ceva phīto ca bahujano ākiṇṇamanusso.
Vegaḷiṅgaṁ kho, ānanda, gāmanigamaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho upanissāya vihāsi.
Idha sudaṁ, ānanda, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa ārāmo ahosi.
Idha sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nisinnako bhikkhusaṅghaṁ ovadatī”ti.
Atha kho āyasmā ānando catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“tena hi, bhante, bhagavā nisīdatu ettha.
Ayaṁ bhūmipadeso dvīhi arahantehi sammāsambuddhehi paribhutto bhavissatī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imasmiṁ padese vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo ahosi iddho ceva phīto ca bahujano ākiṇṇamanusso.
Vegaḷiṅgaṁ kho, ānanda, gāmanigamaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho upanissāya vihāsi.
Idha sudaṁ, ānanda, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa ārāmo ahosi.
Idha sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nisinnako bhikkhusaṅghaṁ ovadati.
Vegaḷiṅge kho, ānanda, gāmanigame ghaṭikāro nāma kumbhakāro kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko.
Ghaṭikārassa kho, ānanda, kumbhakārassa jotipālo nāma māṇavo sahāyo ahosi piyasahāyo.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ āmantesi:
‘āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Dutiyampi kho, ānanda …pe…
tatiyampi kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ etadavoca:
‘āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Tatiyampi kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
‘Tena hi, samma jotipāla, sottisināniṁ ādāya nadiṁ gamissāma sināyitun’ti.
‘Evaṁ, sammā’ti kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikārassa kumbhakārassa paccassosi.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo sottisināniṁ ādāya nadiṁ agamaṁsu sināyituṁ.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ āmantesi:
‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo.
Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Dutiyampi kho, ānanda …pe…
tatiyampi kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ etadavoca:
‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo.
Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Tatiyampi kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ ovaṭṭikāyaṁ parāmasitvā etadavoca:
‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo.
Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Atha kho, ānanda, jotipālo māṇavo ovaṭṭikaṁ vinivaṭṭetvā ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ sīsaṁnhātaṁ kesesu parāmasitvā etadavoca:
‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo.
Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Atha kho, ānanda, jotipālassa māṇavassa etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Yatra hi nāmāyaṁ ghaṭikāro kumbhakāro ittarajacco samāno amhākaṁ sīsaṁnhātānaṁ kesesu parāmasitabbaṁ maññissati;
na vatidaṁ kira orakaṁ maññe bhavissatī’ti;
ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘yāvatādohipi, samma ghaṭikārā’ti?
‘Yāvatādohipi, samma jotipāla.
Tathā hi pana me sādhusammataṁ tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
‘Tena hi, samma ghaṭikāra, muñca; gamissāmā’ti.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Jotipālo pana māṇavo kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘ayaṁ me, bhante, jotipālo māṇavo sahāyo piyasahāyo.
Imassa bhagavā dhammaṁ desetū’ti.
Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho ghaṭikārañca kumbhakāraṁ jotipālañca māṇavaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘imaṁ nu tvaṁ, samma ghaṭikāra, dhammaṁ suṇanto atha ca pana agārasmā anagāriyaṁ na pabbajissasī’ti?
‘Nanu maṁ, samma jotipāla, jānāsi, andhe jiṇṇe mātāpitaro posemī’ti?
‘Tena hi, samma ghaṭikāra, ahaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmī’ti.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘ayaṁ me, bhante, jotipālo māṇavo sahāyo piyasahāyo.
Imaṁ bhagavā pabbājetū’ti.
Alattha kho, ānanda, jotipālo māṇavo kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho acirūpasampanne jotipāle māṇave aḍḍhamāsupasampanne vegaḷiṅge yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkāmi.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī tadavasari.
Tatra sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Assosi kho, ānanda, kikī kāsirājā: ‘kassapo kira bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bārāṇasiṁ anuppatto bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye’ti.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi bārāṇasiyā niyyāsi mahaccarājānubhāvena kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya.
Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho, ānanda, kikiṁ kāsirājānaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’ti.
Adhivāsesi kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tuṇhībhāvena.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapassa bhagavato sammāsambuddhassa adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā paṇḍupuṭakassa sālino vigatakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa kālaṁ ārocāpesi:
‘kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan’ti.
Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kikissa kāsirañño nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā bārāṇasiyaṁ vassāvāsaṁ;
evarūpaṁ saṅghassa upaṭṭhānaṁ bhavissatī’ti.
‘Alaṁ, mahārāja.
Adhivuttho me vassāvāso’ti.
Dutiyampi kho, ānanda …
tatiyampi kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā bārāṇasiyaṁ vassāvāsaṁ;
evarūpaṁ saṅghassa upaṭṭhānaṁ bhavissatī’ti.
‘Alaṁ, mahārāja.
Adhivuttho me vassāvāso’ti.
Atha kho, ānanda, kikissa kāsirañño ‘na me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho adhivāseti bārāṇasiyaṁ vassāvāsan’ti ahudeva aññathattaṁ, ahu domanassaṁ.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘atthi nu kho, bhante, añño koci mayā upaṭṭhākataro’ti?
‘Atthi, mahārāja, vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo.
Tattha ghaṭikāro nāma kumbhakāro;
so me upaṭṭhāko aggupaṭṭhāko.
Tuyhaṁ kho pana, mahārāja, na me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho adhivāseti bārāṇasiyaṁ vassāvāsanti attheva aññathattaṁ, atthi domanassaṁ.
Tayidaṁ ghaṭikārassa kumbhakārassa natthi ca na ca bhavissati.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro buddhaṁ saraṇaṁ gato, dhammaṁ saraṇaṁ gato, saṅghaṁ saraṇaṁ gato.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro buddhe aveccappasādena samannāgato, dhamme aveccappasādena samannāgato, saṅghe aveccappasādena samannāgato, ariyakantehi sīlehi samannāgato.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro dukkhe nikkaṅkho, dukkhasamudaye nikkaṅkho, dukkhanirodhe nikkaṅkho, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkho.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro ekabhattiko brahmacārī sīlavā kalyāṇadhammo.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro nikkhittamaṇisuvaṇṇo apetajātarūparajato.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pannamusalo na sahatthā pathaviṁ khaṇati.
Yaṁ hoti kūlapaluggaṁ vā mūsikukkaro vā taṁ kājena āharitvā bhājanaṁ karitvā evamāha:
“ettha yo icchati taṇḍulapaṭibhastāni vā muggapaṭibhastāni vā kaḷāyapaṭibhastāni vā nikkhipitvā yaṁ icchati taṁ haratū”ti.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro andhe jiṇṇe mātāpitaro poseti.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro etadavocaṁ:
“handa ko nu kho ayaṁ bhaggavo gato”ti?
“Nikkhanto kho te, bhante, upaṭṭhāko antokumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjā”ti.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca:
“ko kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
“Kassapo, tāta, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ tattheva vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro etadavocaṁ:
“handa ko nu kho ayaṁ bhaggavo gato”ti?
“Nikkhanto kho te, bhante, upaṭṭhāko anto kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjā”ti.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca:
“ko kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
“Kassapo, tāta, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ tattheva vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi.
Tena kho pana samayena kuṭi ovassati.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, bhikkhū āmantesiṁ:
“gacchatha, bhikkhave, ghaṭikārassa kumbhakārassa nivesane tiṇaṁ jānāthā”ti.
Evaṁ vutte, mahārāja, te bhikkhū maṁ etadavocuṁ:
“natthi kho, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa nivesane tiṇaṁ, atthi ca khvāssa āvesane tiṇacchadanan”ti.
“Gacchatha, bhikkhave, ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ uttiṇaṁ karothā”ti.
Atha kho te, mahārāja, bhikkhū ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ uttiṇamakaṁsu.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro te bhikkhū etadavocuṁ:
“ke āvesanaṁ uttiṇaṁ karontī”ti?
“Bhikkhū, bhagini, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa kuṭi ovassatī”ti.
“Haratha, bhante, haratha, bhadramukhā”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca:
“ke āvesanaṁ uttiṇamakaṁsū”ti?
“Bhikkhū, tāta, kassapassa kira bhagavato arahato sammāsambuddhassa kuṭi ovassatī”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
Atha kho, mahārāja, āvesanaṁ sabbantaṁ temāsaṁ ākāsacchadanaṁ aṭṭhāsi, na devotivassi.
Evarūpo ca, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro’ti.
‘Lābhā, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa, suladdhā, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa
yassa bhagavā evaṁ abhivissattho’ti.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā ghaṭikārassa kumbhakārassa pañcamattāni taṇḍulavāhasatāni pāhesi paṇḍupuṭakassa sālino tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Atha kho te, ānanda, rājapurisā ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘imāni kho, bhante, pañcamattāni taṇḍulavāhasatāni kikinā kāsirājena pahitāni paṇḍupuṭakassa sālino tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Tāni, bhante, paṭiggaṇhathā’ti.
‘Rājā kho bahukicco bahukaraṇīyo.
Alaṁ me.
Raññova hotū’ti.
Siyā kho pana te, ānanda, evamassa:
‘añño nūna tena samayena jotipālo māṇavo ahosī’ti.
Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Ahaṁ tena samayena jotipālo māṇavo ahosin”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Ghaṭikārasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.
PTS vp Pali 45 Thus have I heard: At one time the Lord was walking on tour among the Kosalans together with a large Order of monks. Then the Lord, turning aside from the road, smiled (when he came to a) certain place. Then it occurred to the venerable Ānanda: “What is the cause, what the reason that the Lord is smiling? Not without motive do Tathāgatas smile.” Then the venerable Ānanda, having arranged his robe over one shoulder, having saluted the Lord with joined palms, spoke thus to the Lord: “Now, revered sir, what is the cause, what the reason that the Lord is smiling? Not without motive do Tathāgatas smile.”
“Once upon a time, Ānanda, in this district there was a village township called Vebhaḷiṅga, prosperous and wealthy and crowded with people. And, Ānanda, the Lord Kassapa, perfected one, fully Self-Awakened One, lived depending on the village township of Vebhaḷiṅga. At that time, Ānanda, the monastery of the Lord Kassapa … was here. At that time, Ānanda, the Lord Kassapa … instructed an Order of monks while he was seated here.”
Then the venerable Ānanda, having laid down an outer cloak folded into four, spoke thus to the Lord: “Well then, revered sir, let the Lord sit down. This self-same piece of ground will (then) have been made use of by two perfected ones, fully Self-Awakened Ones.” Then the Lord sat down on an appointed seat. As he was seated the Lord spoke thus to the venerable Ānanda:
“Once upon a time, Ānanda, in this district (as above) … PTS vp Pali 46 the Lord Kassapa … instructed an Order of monks while he was seated here. And, Ānanda, in the village township of Vebhaḷiṅga the potter name Ghaṭīkāra was a supporter—the chief supporter—of the Lord Kassapa … And, Ānanda, a brahman youth named Jotipāla was a friend—a dear friend—of the potter Ghaṭīkāra. Then, Ānanda, the potter Ghaṭīkāra addressed the brahman youth Jotipāla, saying: ‘Let us go, dear Jotipāla, we will approach the Lord Kassapa … so as to see him. A sight of this Lord, perfected one, fully Self-Awakened One, would be greatly prized by me.’ When this had been said, Ānanda, the brahman youth Jotipāla spoke thus to the potter Ghaṭīkāra: ‘Yes, dear Ghaṭīkāra, but of what use is it to see this little shaveling recluse?’
And a second time … And a third time, Ānanda, did Ghaṭīkāra the potter speak thus to the brahman youth Jotipāla: ‘Let us go, dear Jotipāla, we will approach the Lord Kassapa …’ … ‘Yes, dear Ghaṭīkāra, but of what use is it to see this little shaveling recluse?’
‘Well then, dear Jotipāla, taking a back-scratcher and bath-powder, we will go to the river to bathe.’ Ānanda, the brahman youth Jotipāla answered the potter Ghaṭīkāra in assent, saying: ‘Yes, dear.’
Then, Ānanda, the potter Ghaṭīkāra and the brahman youth Jotipāla, taking a back-scratcher and bath-powder, went to the river to bathe. Then, Ānanda, the potter Ghaṭīkāra spoke thus to the brahman youth Jotipāla: ‘This, dear Jotipāla, is near the monastery of the Lord Kassapa … Let us go, dear Jotipāla, we will approach the Lord Kassapa … so as to see him. A sight of this Lord, perfected one, fully Self-Awakened One, would be greatly prized by me.’ When this had been said, Ānanda, the brahman youth Jotipāla spoke thus to the potter Ghaṭīkāra: ‘Yes, dear Ghaṭīkāra, but PTS vp Pali 47 of what use is it to see this little shaveling recluse?’
And a second time … And a third time, Ānanda, did Ghaṭīkāra the potter spoke thus to the brahman youth Jotipāla: ‘This, dear Jotipāla, is near the monastery of the Lord Kassapa … A sight of this Lord, perfected one, fully Self-Awakened One, would be greatly prized by me.’ And a third time, Ānanda, did the brahman youth Jotipāla speak thus to the potter Ghaṭīkāra: ‘Yes, dear Ghaṭīkāra, but of what use is it to see this little shaveling recluse?’
Then, Ānanda, the potter Ghaṭīkāra, having laid hold of the brahman youth Jotipāla by the waist-band, spoke thus: ‘This, dear Jotipāla, is near the monastery of the Lord Kassapa … Let us go, dear Jotipāla, we will approach the Lord Kassapa so as to see him. A sight of this Lord, perfected one, fully Self-Awakened One, would be greatly prized by me.’ Then, Ānanda, the brahman youth Jotipāla, having disengaged his waist-band, spoke thus to the potter Ghaṭīkāra: ‘Yes, dear Ghaṭīkāra, but of what use is it to see this little shaveling recluse?’ Then, Ānanda, the potter Ghaṭīkāra, having laid hold of the brahman youth Jotipāla by the hair—he had just performed an ablution of his head—spoke thus: ‘This, dear Jotipāla, is near the monastery of the Lord Kassapa … Let us go … A sight of this Lord, perfected one, fully Self-Awakened One, would be greatly prized by me.’
Then, Ānanda, it occurred to the brahman youth Jotipāla: ‘Indeed it is wonderful, indeed it is marvellous, that this potter Ghaṭīkāra, being of lowly birth, should lay hold of my hair although I have performed an ablution of my head,’ and should think: ‘Indeed this surely cannot be insignificant.’ He spoke thus to the potter Ghaṭīkāra: ‘Is it really necessary, dear Ghaṭīkāra?’ ‘It is really necessary, dear Jotipāla, most surely PTS vp Pali 48 a sight of this Lord, perfected one, fully Self-Awakened One, would be greatly prized by me.’
‘Well then, dear Ghaṭīkāra, let go (of my hair); we will get along.’
Then, Ānanda, the potter Ghaṭīkāra and the brahman youth Jotipāla approached the Lord Kassapa … When they had approached, Ghaṭīkāra the potter greeted the Lord Kassapa … and sat down at a respectful distance. But the brahman youth Jotipāla exchanged greetings with the Lord Kassapa … and having conversed in a friendly and courteous way, he sat down at a respectful distance. And Ānanda, as the potter Ghaṭīkāra was sitting down at a respectful distance, he spoke thus to the Lord Kassapa … : ‘Revered sir, this brahman youth Jotipāla is my friend—my dear friend. Let the Lord teach him dhamma.’ Then, Ānanda, the Lord Kassapa … gladdened, roused, incited, delighted the potter Ghaṭīkāra and the brahman youth Jotipāla, with talk on dhamma. Then, Ānanda, the potter Ghaṭīkāra and the brahman youth Jotipāla, gladdened, roused, incited, delighted by the Lord Kassapa’s … talk on dhamma, having rejoiced in what the Lord Kassapa … had said, having given thanks and risen from their seats, greeting the Lord Kassapa … they departed keeping their right sides towards him.
Then, Ānanda, the brahman youth Jotipāla spoke thus to the potter Ghaṭīkāra: ‘How is it that you, dear Ghaṭīkāra, on hearing this dhamma, do not go forth from home into homelessness?’”
‘But, dear Jotipāla, do you not know that I look after my blind and ageing parents?’
‘Well then, dear Ghaṭīkāra, I will go forth from home into homelessness.’
Then, Ānanda, the potter Ghaṭīkāra and the brahman youth Jotipāla approached the Lord Kassapa …; PTS vp Pali 49 having approached and having greeted the Lord Kassapa … they sat down at a respectful distance. And, Ānanda, as Ghaṭīkāra the potter was sitting down at a respectful distance, he spoke thus to the Lord Kassapa …: ‘Revered sir, this brahman youth Jotipāla is my friend—my dear friend. May the Lord let him go forth.’ Ānanda, Jotipāla the brahman youth received the going forth in the presence of the Lord Kassapa …, he received the ordination. Then, Ānanda, not long after the brahman youth Jotipāla had received ordination—half a month after his ordination—the Lord Kassapa …, having stayed at Vebhaḷiṅga for as long as he found suitable, set out on tour for Benares; walking on tour, in due course he arrived at Benares.
While he was there, Ānanda, the Lord Kassapa … stayed near Benares at Isipatana in the deer-park. Ānanda, Kikī, the king of Kāsi, heard that the Lord Kassapa … had arrived at Benares and was staying near Benares at Isipatana in the deer-park. Then, Ānanda, Kikī, the king of Kāsi, having had many lovely vehicles harnessed, having mounted a lovely vehicle, set off for Benares with the many lovely vehicles and with great royal pomp so as to see the Lord Kassapa … For as long as the ground was possible for a vehicle he went in the vehicle, then having dismounted from it, he approached the Lord Kassapa … on foot; having approached and having greeted the Lord Kassapa … he sat down at a respectful distance. Ānanda, as Kikī, the king of Kāsi, was sitting down at a respectful distance, the Lord Kassapa … roused, incited, gladdened and delighted him with talk on dhamma. Then, Ānanda, Kikī, the king of Kāsi, roused … delighted by the Lord Kassapa … with talk on dhamma, spoke thus to the Lord Kassapa …:
PTS vp Pali 50 ‘Revered sir, may the Lord consent to a meal with me on the morrow together with the Order of monks.’ Ānanda, the Lord Kassapa consented by becoming silent. Then, Ānanda, Kikī, the king of Kāsi, having understood the Lord Kassapa’s consent, rising from his seat and greeting the Lord Kassapa, departed keeping his right side towards him. Then, Ānanda, towards the end of that night when Kikī, the king of Kāsi, had had sumptuous foods, solid and soft, prepared in his own dwelling: dry yellow rices, various curries, the black grains removed, and various condiments, he had the time announced to the Lord Kassapa, saying: ‘It is time, revered sir, the meal is ready.’
Then, Ānanda, the Lord Kassapa, having dressed in the morning, taking his bowl and robe, approached the dwelling of Kikī, the king of Kāsi, having approached, he sat down on the appointed seat together with the Order of monks. Then, Ānanda, Kikī, the king of Kāsi, with his own hand served and satisfied with sumptuous foods, solid and soft, the Order of monks with the Awakened One at its head. Then, Ānanda, when the Lord Kassapa had eaten and had withdrawn his hand from the bowl, Kikī, the king of Kāsi, taking a low seat, sat down at a respectful distance. As he was sitting down at a respectful distance, Kikī, the king of Kāsi spoke thus to the Lord Kassapa: ‘Revered sir, may the Lord consent to (accept) my rains-residence in Benares; there will be suitable support for the Order.’
‘No, sire, I have (already) consented to (accept) a rains-residence.’ And a second time … And a third time, Ānanda, did Kikī, the king of Kāsi, speak thus to the Lord Kassapa …: ‘Revered sir, may the Lord consent to (accept) my rains-residence in Benares; there will be suitable support for the Order.’
‘No, sire, I have (already) consented to (accept) a rains-residence.’
Then, Ānanda, Kikī, the king of Kāsi thought: ‘The Lord Kassapa PTS vp Pali 51 … does not consent to (accept) my rains-residence in Benares,’ and he was depressed and grieved. Then, Ānanda, Kikī, the king of Kāsi, spoke thus to the Lord Kassapa …: ‘Then, have you, revered sir, some other supporter than me?’
‘There is, sire, a village township called Vebhaḷiṅga. There is a potter there called Ghaṭīkāra; he is my supporter—the chief supporter. But you, sire, think: The Lord Kassapa … does not consent to (accept) my rains-residence in Benares, and you are depressed and grieved. This is not so with the potter Ghaṭīkāra and nor can it be so. For, sire, the potter Ghaṭīkāra has gone to the Awakened One for refuge, he has gone to dhamma for refuge, he has gone to the Order for refuge. Ghaṭīkāra, the potter, sire, is restrained from onslaught on creatures, restrained from taking what has not been given, restrained from wrong enjoyment of sense-pleasures, restrained from lying speech, restrained from occasions of sloth engendered by strong drink and spirits. Ghaṭīkāra the potter, sire, is possessed of unwavering confidence in the Awakened One … in dhamma … the Order, he is possessed of moral habits that are dear to the ariyans. Ghaṭīkāra the potter, sire, doubts not about anguish … the uprising of anguish … the stopping of anguish, he doubts not about the course leading to the stopping of anguish. Ghaṭīkāra the potter, sire, is a one-meal-man, a Brahma-farer, virtuous, lovely in character. Ghaṭīkāra the potter, sire, is one who has laid aside jewels and wrought gold, who is without gold and silver. Ghaṭīkāra the potter, sire, does not dig the earth either with a spade or with his own hand; willingly he makes a vessel from the soil of a bank that is crumbling or scratched out by rats and dogs, and he speaks thus: “He that likes, if he lays down fragments of husked rice here, fragments of kidney-beans, fragments of chick-peas, may take whatever he likes.” Ghaṭīkāra the potter, sire, looks after his blind PTS vp Pali 52 ageing parents. Ghaṭīkāra the potter, sire, by the destruction of the five fetters binding to this lower (shore), is of spontaneous uprising, he attains final nibbāna there, he is not liable to return from that world.
At one time I, sire, was staying in a village township of Vebhaḷiṅga. Then I, sire, having dressed in the morning, taking my bowl and robe, approached the parents of the potter Ghaṭīkāra; having approached, I spoke thus to the parents of the potter Ghaṭīkāra: “Now, where has this potter gone?” “Revered sir, your supporter has gone out, saying: Now, having taken conjey from the pot, having taken curry from the cauldron, enjoy them.” Then I, sire, having taken conjey from the pot, having taken curry from the cauldron, enjoyed them, and rising up from my seat I departed. Then, sire, Ghaṭīkāra the potter approached his parents; having approached, he spoke thus to his parents: “Who is it that, having taken conjey from the pot, having taken curry from the cauldron and having enjoyed them, is going away?” “It is the Lord Kassapa …, dear, that, having taken conjey … is going away.” Then, sire, it occurred to Ghaṭīkāra the potter: “Indeed it is a gain for me, indeed it is well gotten by me that the Lord Kassapa … has such trust in me.” Then, sire, joy and happiness did not leave Ghaṭīkāra the potter for half a month or his parents for seven days.
At one time I, sire, was staying in this very village township of Vebhaḷiṅga. Then I, sire, having dressed in the morning … (as above) … spoke thus to the parents of the potter Ghaṭīkāra: “Now, where has this potter gone?” “Revered sir, your supporter has gone out, saying: Now, having taken boiled rice from the pan, having taken curry from the cauldron, enjoy them.” Then I, sire, having taken boiled rice from the pan, having taken curry from the cauldron, PTS vp Pali 53 enjoyed them, and rising up from my seat I departed. Then, sire, the potter Ghaṭīkāra approached his parents … (as above, reading; having taken boiled rice from the pan, having taken curry from the cauldron) … Then, sire, joy and happiness did not leave the potter Ghaṭīkāra for half a month or his parents for seven days.
At one time I, sire, was staying in this very village township of Vebhaḷiṅga. At that time the hut leaked. So I, sire, addressed the monks, saying: “Go, monks, and find out if there is grass in the dwelling of Ghaṭīkāra the potter.” When this had been said, sire, the monks spoke thus to me: “There is no grass, revered sir, in the dwelling of Ghaṭīkāra the potter, but his house has a grass roof.” “Go, monks, and strip the grass from the house of Ghaṭīkāra the potter.” Then, sire, these monks stripped the grass from the house of Ghaṭīkāra the potter. Then, sire, the parents of Ghaṭīkāra the potter spoke thus to the monks: “Who are they that are stripping the grass from the house?” “Sister,” the monks said, “the Lord Kassapa,’s hut is leaking.” “Take it, revered sirs, take it, my honourable friends.” Then, sire, Ghaṭīkāra the potter approached his parents; having approached, he spoke thus to his parents: “Who are they that have stripped the grass from the house?” “Monks, dear; the hut of the Lord Kassapa … is leaking.” Then, sire, it occurred to Ghaṭīkāra the potter: “Indeed it is a gain for me, indeed it is well gotten by me that the Lord Kassapa … has such trust in me.” Then, sire, joy and happiness did not leave the potter Ghaṭīkāra PTS vp Pali 54 for half a month or his parents for seven days. Then, sire, for a whole three months that house stood with its roof open to the sky, but it did not rain into it. Such a one, sire, is Ghaṭīkāra the potter.’
‘It is a gain, revered sir, it is well gotten, revered sir, by Ghaṭīkāra the potter in whom the Lord has such trust.’
Then, Ānanda, Kikī, the king of Kāsi, sent as many as five hundred cartloads of husked rice to Ghaṭīkāra the potter, dry yellow rices and suitable curries. Then, Ānanda, these kings’ men, having approached Ghaṭīkāra the potter, spoke thus: ‘These five hundred cartloads of husked rice, revered sir, have been sent to you by Kikī, the king of Kāsi, with dry yellow rices and suitable curries. Accept them, revered sir.’ ‘The king is very busy, there is much to be done. I am quite satisfied since this is for me from the king.’
It may be, Ānanda, that this will occur to you: ‘Now, at that time the brahman youth Jotipāla was someone else.’ But this, Ānanda, should not be thought of in this way. I, at that time, was Jotipāla the brahman youth.”
Thus spoke the Lord. Delighted, the venerable Ānanda rejoiced in what the Lord had said.
Discourse on Ghaṭīkāra: The First
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn đi du hành giữa dân chúng Kosala với đại chúng Tỷ-kheo.
SC 2Rồi Thế Tôn bước xuống bên lề đường, đến tại một địa điểm rồi mỉm cười. Tôn giả Ānanda suy nghĩ: “Do nhân gì, do duyên gì, Thế Tôn lại mỉm cười. Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười”. Rồi Tôn giả Ānanda đắp y về phía một bên vai, chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn
SC 3—Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì Thế Tôn lại mỉm cười? Không phải không lý do, Như Lai lại mỉm cười.
SC 4—Thuở xưa này Ānanda, tại địa điểm này là một thị trấn tên là Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sống ở đây, dựa vào thị trấn Vebhalinga. Ở đây, này Ānanda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ānanda. Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
SC 5Rồi Tôn giả Ānanda gấp tư y sanghati (tăng-già-lê), trải ra rồi bạch Thế Tôn
SC 6—Bạch Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn ngồi xuống. Chính tại địa điểm này, hai bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác sẽ sử dụng.
SC 7Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với Tôn giả Ānanda
SC 8—Thuở xưa, này Ānanda, tại địa điểm này là thị trấn tên Vebhalinga, phồn thịnh, giàu có và dân cư đông đúc. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã sống dựa vào thị trấn Vebhalinga. Chính tại đây, này Ānanda, là tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Chính tại đây, này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ngồi giảng dạy cho chúng Tỷ-kheo.
SC 9Này Ānanda, chính tại thị trấn Vebhalinga, có người thợ làm đồ gốm tên là Ghatikara, người này là người đàn tín của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vị đàn tín đệ nhất. Thanh niên Jotipala là người bạn chí thân của thợ gốm Ghatikara. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 10“—Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 11Khi nghe nói vậy, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 12“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 13Lần thứ hai, này Ānanda … Lần thứ ba, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 14“—Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 15Lần thứ ba này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 16“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 17“—Vậy này bạn Jotipala, hãy cầm đồ gãi lưng và bột tắm, chúng ta hãy đi đến sông để tắm”.
“—Thưa bạn, vâng”.
SC 18Này Ānanda, thanh niên Jotipala vâng đáp thợ gốm Ghatikara như vậy.
SC 19Thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala lấy đồ gãi lưng và bột tắm, đi đến sông để tắm. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 20“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được đến yết kiến Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 21Khi nghe nói vậy, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 22“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 23Lần thứ hai, này Ānanda, … lần thứ ba này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nói với thanh niên Jotipala:
SC 24“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 25Lần thứ ba, này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 26“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến Sa-môn trọc đầu như vậy để làm gì?”
SC 27Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara nắm lấy thanh niên Jotipala ở nơi cổ tay áo và nói:
SC 28“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala, chúng ta hãy đi. Chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ấy”.
SC 29Rồi này Ānanda, sau khi gỡ thoát cổ áo, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 30“—Thôi vừa rồi, bạn Ghatikara, yết kiến vị Sa-môn đầu trọc ấy để làm gì?
SC 31Rồi thợ gốm Ghatikara nắm lấy tóc vừa mới tắm xong của thanh niên Jotipala và nói:
SC 32“—Này bạn Jotipala, chỗ này cách tu viện của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không bao xa. Này bạn Jotipala chúng ta hãy đi, chúng ta hãy đi đến yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
SC 33Rồi này Ānanda, thanh niên Jotipala suy nghĩ như sau: “Thật là vi diệu! Thật là hy hữu! Thợ gốm Ghatikara tuy sanh thuộc hạ cấp, lại dám nghĩ có thể nắm lấy tóc của ta, dầu ta vừa mới gội đầu, chắc việc này không phải là tầm thường”, rồi nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 34“—Này bạn Ghatikara, có thật sự là cần thiết không?”
SC 35“—Này bạn Jotipala, thật sự là cần thiết. Thật là tốt lành cho tôi được yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác”.
SC 36“—Vậy bạn Ghatikara, hãy thả (tay) ra. Chúng ta sẽ đi”.
SC 37Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala cùng đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, thợ gốm Ghatikara đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác rồi ngồi xuống một bên. Còn thanh niên Jotipala thời nói lên những lời cháo đón hỏi thăm với Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 38“—Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn thuyết pháp cho bạn con”.
SC 39Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với pháp thoại khích lệ làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala. Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, phấn khởi, hoan hỷ, sau khi hoan hỷ tín thọ lời dạy Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 40Rồi này Ānanda, thanh niên Jotipala nói với thợ gốm Ghatikara:
SC 41“—Này bạn Ghatikara, khi nghe pháp này, vì sao bạn không xuất gia?”
SC 42“—Này bạn Jotipala, bạn không biết tôi sao? Tôi phải nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa”.
SC 43“—Vậy này bạn Ghatikara, tôi sẽ xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
SC 44Rồi này Ānanda, thợ gốm Ghatikara và thanh niên Jotipala đi đến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ānanda, thợ gốm Ghatikara bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 45“—Bạch Thế Tôn, đây là thanh niên Jotipala, bạn của con, bạn thân tình của con. Mong Thế Tôn xuất gia cho bạn con”.
SC 46Và này Ānanda, thanh niên Jotipala được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cho xuất gia, cho thọ đại giới. Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi thanh niên Jotipala xuất gia chưa bao lâu, sau nửa tháng, sau khi ở tại Vebhalinga lâu cho đến khi thấy tự thỏa mãn, liền du hành đi đến Bārāṇāsī. Ngài tuần tự du hành và đến tại Bārāṇāsī (Ba-la-nại). Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chành Ðẳng Giác trú tại Bārāṇāsī, ở Isipatana, vườn Lộc Uyển.
SC 47Này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi được nghe như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã đến Bārāṇāsī, trú tại Bārāṇāsī, Isipatana, vườn Lộc Uyển. Rồi này Ānanda, Kiki, vua nước Kasi cho thắng các cỗ xe tối thù thắng, sau khi tự mình leo lên một cỗ xe thù thắng với các cỗ xe thù thắng đi ra khỏi thành Bārāṇāsī với đại uy vệ của nhà vua để yết kiến Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Vua đi xe cho đến chỗ nào còn đi được xe, rồi xuống xe đi bộ, đi đến chỗ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vua ngồi xuống một bên. Này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ Kiki, vua xứ Kasi, đang ngồi một bên. Rồi Kiki, vua xứ Kasi, sau khi được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác với pháp thoại khích lệ, làm cho thích thú, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 48“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời con mời ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo”.
SC 49Và này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác im lặng nhận lời. Rồi này Ānanda, sau khi được biết Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã nhận lời, Kiki, vua xứ Kasi, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
SC 50Và này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đêm ấy đã mãn, tại trú xứ của mình, cho bày biện các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm, cơm vàng khô, các loại cari, các hột đen được gạn bỏ, và các món ăn gia vị, rồi báo thời giờ cho Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác được biết:
SC 51“—Bạch Thế Tôn giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng”.
SC 52Rồi này Ānanda, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của Kiki, vua xứ Kasi, sau khi đến, liền ngồi trên chỗ đã soạn sẵn cùng với chúng Tỷ-kheo. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi tự tay thân hầu và làm cho thỏa mãn chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị cầm đầu, các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, khi Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã ăn xong, tay đã rời khỏi bát, lấy một ghế thấp rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 53“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con an cư mùa mưa tại Bārāṇāsī; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
SC 54“—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư mùa mưa rồi.”
SC 55Lần thứ hai, này Ānanda, … Lần thứ ba, này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 56“—Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con, an cư mùa mưa tại Bārāṇāsī; sẽ có sự cúng dường như vậy cho chúng Tỷ-kheo”.
SC 57“—Thôi vừa rồi, Ðại vương, Ta đã nhận lời an cư trong mùa mưa rồi”.
SC 58Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, suy nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Bārāṇāsī”, vì vậy cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, bạch Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác:
SC 59“—Bạch Thế Tôn, Thế Tôn có người đàn tín hộ trì hơn con?”
SC 60“—Ðại vương, có một thị trấn tên là Vebhalinga. Tại đấy có thợ gốm tên là Ghatikara. Người ấy là đàn tín hộ trì của Ta, một đàn tín hộ trì tối thượng. Ðại vương, Ðại vương có nghĩ như sau: “Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không nhận lời mời của ta an cư mùa mưa ở Bārāṇāsī”, do vậy, Ðại vương cảm thấy thất vọng, ưu phiền. Nhưng thợ gốm Ghatikara không có như vậy, và không sợ như vậy. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà dâm, từ bỏ nói láo, từ bỏ rượu men, rượu nấu. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara thành tựu lòng tin bất thối chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, thành tựu các giới được bậc Thánh ái lạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có nghi ngờ đối với Khổ, không có nghi ngờ đối với Khổ tập, không có nghi ngờ đối với Khổ diệt, không có nghi ngờ đối với Con Ðường đưa đến khổ diệt. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara, ăn một ngày một bữa, sống Phạm hạnh, có giới hạnh, theo thiện pháp. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara từ bỏ ngọc và vàng, không có vàng và bạc. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara không có tự tay đào đất hay đào với cái cuốc. Vị này vui lòng làm thành ghè bát với đất lấy từ bờ đê bị sập xuống hay do chuột và chó đào lên, và nói như sau: “Ở đây, nếu ai muốn, hãy bỏ vào từng nhúm các loại gạo có vỏ, từng nhúm các loại đậu que (mugga), từng nhúm các loại đậu hột (kalaya), và có thể lấy cái gì mình muốn”. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara nuôi dưỡng cha mẹ già và mù lòa. Này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, nhập Niết-bàn từ chỗ ấy, không phải trở lui đời này nữa.
SC 61“Một thời, này Ðại vương, Ta ở tại thị trấn Vabhalinga. Rồi này Ðại vương, Ta vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến cha mẹ của thợ gốm Ghatikara, sau khi đến nói với cha mẹ thợ gốm Ghatikara như sau:
SC 62“—Người thợ làm đồ gốm đi đâu?”
SC 63“—Bạch Thế Tôn, người đàn tín hộ trì cho Thế Tôn đã đi khỏi và có dặn như sau: Hãy lấy cháo từ nơi nồi, hãy lấy đồ ăn từ nơi chảo mà dùng”.
SC 64“Rồi Ta, này Ðại vương, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi. Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến, nói với cha mẹ như sau:
SC 65“—Ai đã lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi?”
SC 66“—Này con, Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, sau khi lấy cháo từ nơi nồi, lấy đồ ăn từ nơi chảo, ăn xong, từ chỗ ngồi đứng dậy rồi đi”.
SC 67“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”. Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần (không rời khỏi) cha mẹ (người thợ gốm).
SC 68“Một thời, này Ðại Vương. Ta trú ở thị trấn Vebhalinga, lúc bấy giờ, các cốc bị mưa dột, rồi Ta, này Ðại vương, gọi các Tỷ-kheo:
SC 69“—Hãy đi, này các Tỷ-kheo, và xem tại nhà của thợ gốm Ghatikara có cỏ hay không?
SC 70“Khi được nghe nói vậy, này Ðại vương, các Tỷ-kheo bạch với Ta:
SC 71“—Bạch Thế Tôn, tại nhà của thợ gốm Ghatikara không có cỏ, nhưng nhà người ấy có mái cỏ”.
SC 72“—Này các Tỷ-kheo, hãy đi và rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara.
SC 73“Rồi này Ðại vương, các Tỷ-kheo ấy rút cỏ từ ngôi nhà thợ gốm Ghatikara. Này Ðại vương, cha mẹ thợ gốm Ghatikara nói với các Tỷ-kheo ấy:
SC 74“—Quý vị là ai lại rút cỏ ngôi nhà?”
SC 75“—Này Ðại tỷ, ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột”.
SC 76“—Hãy lấy đi, chư Hiền giả! Hãy lấy đi, chư Hiền giả!”
SC 77“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara đi đến cha mẹ, sau khi đến thưa với cha mẹ như sau:
SC 78“—Những ai đã rút cỏ khỏi ngôi nhà?”
SC 79“—Này Con, các Tỷ-kheo có nói: Ngôi nhà của Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bị mưa dột”.
SC 80“Rồi này Ðại vương, thợ gốm Ghatikara suy nghĩ như sau: “Thật là lợi ích cho ta, thật là khéo lợi ích cho ta đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng ta như vậy”.
SC 81“Rồi này Ðại vương, cho đến nửa tháng, hỷ lạc không rời khỏi thợ gốm Ghatikara, hay cho đến một tuần, (không rời khỏi) cha mẹ thợ gốm. Rồi suốt cả ba tháng trời, ngôi nhà đứng lấy bầu trời làm mái, nhưng không có mưa rơi vào. Và như vậy, này Ðại vương, là người thợ gốm Ghatikara.
SC 82“—Lợi ích thay, bạch Thế Tôn, cho thợ gốm Ghatikara; thật khéo lợi ích thay, bạch Thế Tôn cho thợ gốm Ghatikara, đã được Thế Tôn Kassapa, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tin tưởng!”
SC 83Rồi này Ānanda, Kiki, vua xứ Kasi, cho người đưa đến thợ gốm Ghatikara, khoảng năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn. Rồi này Ānanda, những người nhà vua cử đi đến thợ gốm Ghatikara và nói:
SC 84“—Này Tôn giả, năm trăm xe gạo có vỏ, gạo vàng khô và các món đồ ăn này, do Kiki, vua xứ Kasi, gởi đến cho Tôn giả, mong Tôn giả hãy nhận lấy”.
SC 85“—Nhà vua rất nhiều phận sự, rất nhiều việc cần phải làm. Thật là vừa đủ cho tôi, được nhà vua nghĩ đến như thế này”.
SC 86—Này Ānanda, rất có thể Ông suy nghĩ như sau: “Lúc bây giờ, thanh niên Jotipala có thể là một người khác”. Nhưng này Ānanda, chớ có nghĩ như vậy. Lúc bấy giờ, Ta chính là thanh niên Jotipala.
SC 87Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosalesu cārikaṁ carati mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ.
Atha kho bhagavā maggā okkamma aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi.
Atha kho āyasmato ānandassa etadahosi:
“ko nu kho hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya?
Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
Atha kho āyasmā ānando ekaṁsaṁ cīvaraṁ katvā yena bhagavā tenañjaliṁ paṇāmetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo bhagavato sitassa pātukammāya?
Na akāraṇena tathāgatā sitaṁ pātukarontī”ti.
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imasmiṁ padese vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo ahosi iddho ceva phīto ca bahujano ākiṇṇamanusso.
Vegaḷiṅgaṁ kho, ānanda, gāmanigamaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho upanissāya vihāsi.
Idha sudaṁ, ānanda, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa ārāmo ahosi.
Idha sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nisinnako bhikkhusaṅghaṁ ovadatī”ti.
Atha kho āyasmā ānando catugguṇaṁ saṅghāṭiṁ paññapetvā bhagavantaṁ etadavoca:
“tena hi, bhante, bhagavā nisīdatu ettha.
Ayaṁ bhūmipadeso dvīhi arahantehi sammāsambuddhehi paribhutto bhavissatī”ti.
Nisīdi bhagavā paññatte āsane.
Nisajja kho bhagavā āyasmantaṁ ānandaṁ āmantesi:
“Bhūtapubbaṁ, ānanda, imasmiṁ padese vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo ahosi iddho ceva phīto ca bahujano ākiṇṇamanusso.
Vegaḷiṅgaṁ kho, ānanda, gāmanigamaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho upanissāya vihāsi.
Idha sudaṁ, ānanda, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa ārāmo ahosi.
Idha sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho nisinnako bhikkhusaṅghaṁ ovadati.
Vegaḷiṅge kho, ānanda, gāmanigame ghaṭikāro nāma kumbhakāro kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa upaṭṭhāko ahosi aggupaṭṭhāko.
Ghaṭikārassa kho, ānanda, kumbhakārassa jotipālo nāma māṇavo sahāyo ahosi piyasahāyo.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ āmantesi:
‘āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Dutiyampi kho, ānanda …pe…
tatiyampi kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ etadavoca:
‘āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Tatiyampi kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
‘Tena hi, samma jotipāla, sottisināniṁ ādāya nadiṁ gamissāma sināyitun’ti.
‘Evaṁ, sammā’ti kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikārassa kumbhakārassa paccassosi.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo sottisināniṁ ādāya nadiṁ agamaṁsu sināyituṁ.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ āmantesi:
‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo.
Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Evaṁ vutte, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Dutiyampi kho, ānanda …pe…
tatiyampi kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ etadavoca:
‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo.
Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Tatiyampi kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ ovaṭṭikāyaṁ parāmasitvā etadavoca:
‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo.
Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Atha kho, ānanda, jotipālo māṇavo ovaṭṭikaṁ vinivaṭṭetvā ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘alaṁ, samma ghaṭikāra.
Kiṁ pana tena muṇḍakena samaṇakena diṭṭhenā’ti?
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro jotipālaṁ māṇavaṁ sīsaṁnhātaṁ kesesu parāmasitvā etadavoca:
‘ayaṁ, samma jotipāla, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa avidūre ārāmo.
Āyāma, samma jotipāla, kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya upasaṅkamissāma.
Sādhusammatañhi me tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
Atha kho, ānanda, jotipālassa māṇavassa etadahosi:
‘acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Yatra hi nāmāyaṁ ghaṭikāro kumbhakāro ittarajacco samāno amhākaṁ sīsaṁnhātānaṁ kesesu parāmasitabbaṁ maññissati;
na vatidaṁ kira orakaṁ maññe bhavissatī’ti;
ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘yāvatādohipi, samma ghaṭikārā’ti?
‘Yāvatādohipi, samma jotipāla.
Tathā hi pana me sādhusammataṁ tassa bhagavato dassanaṁ arahato sammāsambuddhassā’ti.
‘Tena hi, samma ghaṭikāra, muñca; gamissāmā’ti.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Jotipālo pana māṇavo kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena saddhiṁ sammodi. Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘ayaṁ me, bhante, jotipālo māṇavo sahāyo piyasahāyo.
Imassa bhagavā dhammaṁ desetū’ti.
Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho ghaṭikārañca kumbhakāraṁ jotipālañca māṇavaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassitā samādapitā samuttejitā sampahaṁsitā kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkamiṁsu.
Atha kho, ānanda, jotipālo māṇavo ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ etadavoca:
‘imaṁ nu tvaṁ, samma ghaṭikāra, dhammaṁ suṇanto atha ca pana agārasmā anagāriyaṁ na pabbajissasī’ti?
‘Nanu maṁ, samma jotipāla, jānāsi, andhe jiṇṇe mātāpitaro posemī’ti?
‘Tena hi, samma ghaṭikāra, ahaṁ agārasmā anagāriyaṁ pabbajissāmī’ti.
Atha kho, ānanda, ghaṭikāro ca kumbhakāro jotipālo ca māṇavo yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, ghaṭikāro kumbhakāro kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘ayaṁ me, bhante, jotipālo māṇavo sahāyo piyasahāyo.
Imaṁ bhagavā pabbājetū’ti.
Alattha kho, ānanda, jotipālo māṇavo kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa santike pabbajjaṁ, alattha upasampadaṁ.
Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho acirūpasampanne jotipāle māṇave aḍḍhamāsupasampanne vegaḷiṅge yathābhirantaṁ viharitvā yena bārāṇasī tena cārikaṁ pakkāmi.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena bārāṇasī tadavasari.
Tatra sudaṁ, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye.
Assosi kho, ānanda, kikī kāsirājā: ‘kassapo kira bhagavā arahaṁ sammāsambuddho bārāṇasiṁ anuppatto bārāṇasiyaṁ viharati isipatane migadāye’ti.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā bhadrāni bhadrāni yānāni yojāpetvā bhadraṁ yānaṁ abhiruhitvā bhadrehi bhadrehi yānehi bārāṇasiyā niyyāsi mahaccarājānubhāvena kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ dassanāya.
Yāvatikā yānassa bhūmi yānena gantvā yānā paccorohitvā pattikova yena kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho, ānanda, kikiṁ kāsirājānaṁ kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapena bhagavatā arahatā sammāsambuddhena dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā svātanāya bhattaṁ saddhiṁ bhikkhusaṅghenā’ti.
Adhivāsesi kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho tuṇhībhāvena.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapassa bhagavato sammāsambuddhassa adhivāsanaṁ viditvā uṭṭhāyāsanā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā tassā rattiyā accayena sake nivesane paṇītaṁ khādanīyaṁ bhojanīyaṁ paṭiyādāpetvā paṇḍupuṭakassa sālino vigatakāḷakaṁ anekasūpaṁ anekabyañjanaṁ, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa kālaṁ ārocāpesi:
‘kālo, bhante, niṭṭhitaṁ bhattan’ti.
Atha kho, ānanda, kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena kikissa kāsirañño nivesanaṁ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi saddhiṁ bhikkhusaṅghena.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā buddhappamukhaṁ bhikkhusaṅghaṁ paṇītena khādanīyena bhojanīyena sahatthā santappesi sampavāresi.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ bhuttāviṁ onītapattapāṇiṁ aññataraṁ nīcaṁ āsanaṁ gahetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinno kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā bārāṇasiyaṁ vassāvāsaṁ;
evarūpaṁ saṅghassa upaṭṭhānaṁ bhavissatī’ti.
‘Alaṁ, mahārāja.
Adhivuttho me vassāvāso’ti.
Dutiyampi kho, ānanda …
tatiyampi kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘adhivāsetu me, bhante, bhagavā bārāṇasiyaṁ vassāvāsaṁ;
evarūpaṁ saṅghassa upaṭṭhānaṁ bhavissatī’ti.
‘Alaṁ, mahārāja.
Adhivuttho me vassāvāso’ti.
Atha kho, ānanda, kikissa kāsirañño ‘na me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho adhivāseti bārāṇasiyaṁ vassāvāsan’ti ahudeva aññathattaṁ, ahu domanassaṁ.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā kassapaṁ bhagavantaṁ arahantaṁ sammāsambuddhaṁ etadavoca:
‘atthi nu kho, bhante, añño koci mayā upaṭṭhākataro’ti?
‘Atthi, mahārāja, vegaḷiṅgaṁ nāma gāmanigamo.
Tattha ghaṭikāro nāma kumbhakāro;
so me upaṭṭhāko aggupaṭṭhāko.
Tuyhaṁ kho pana, mahārāja, na me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho adhivāseti bārāṇasiyaṁ vassāvāsanti attheva aññathattaṁ, atthi domanassaṁ.
Tayidaṁ ghaṭikārassa kumbhakārassa natthi ca na ca bhavissati.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro buddhaṁ saraṇaṁ gato, dhammaṁ saraṇaṁ gato, saṅghaṁ saraṇaṁ gato.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pāṇātipātā paṭivirato, adinnādānā paṭivirato, kāmesumicchācārā paṭivirato, musāvādā paṭivirato, surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭivirato.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro buddhe aveccappasādena samannāgato, dhamme aveccappasādena samannāgato, saṅghe aveccappasādena samannāgato, ariyakantehi sīlehi samannāgato.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro dukkhe nikkaṅkho, dukkhasamudaye nikkaṅkho, dukkhanirodhe nikkaṅkho, dukkhanirodhagāminiyā paṭipadāya nikkaṅkho.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro ekabhattiko brahmacārī sīlavā kalyāṇadhammo.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro nikkhittamaṇisuvaṇṇo apetajātarūparajato.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pannamusalo na sahatthā pathaviṁ khaṇati.
Yaṁ hoti kūlapaluggaṁ vā mūsikukkaro vā taṁ kājena āharitvā bhājanaṁ karitvā evamāha:
“ettha yo icchati taṇḍulapaṭibhastāni vā muggapaṭibhastāni vā kaḷāyapaṭibhastāni vā nikkhipitvā yaṁ icchati taṁ haratū”ti.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro andhe jiṇṇe mātāpitaro poseti.
Ghaṭikāro kho, mahārāja, kumbhakāro pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro etadavocaṁ:
“handa ko nu kho ayaṁ bhaggavo gato”ti?
“Nikkhanto kho te, bhante, upaṭṭhāko antokumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjā”ti.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca:
“ko kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
“Kassapo, tāta, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kumbhiyā odanaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ tattheva vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, pubbaṇhasamayaṁ nivāsetvā pattacīvaramādāya yena ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro tenupasaṅkamiṁ; upasaṅkamitvā ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro etadavocaṁ:
“handa ko nu kho ayaṁ bhaggavo gato”ti?
“Nikkhanto kho te, bhante, upaṭṭhāko anto kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjā”ti.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkamiṁ.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca:
“ko kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti?
“Kassapo, tāta, bhagavā arahaṁ sammāsambuddho kaḷopiyā kummāsaṁ gahetvā pariyogā sūpaṁ gahetvā paribhuñjitvā uṭṭhāyāsanā pakkanto”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
Ekamidāhaṁ, mahārāja, samayaṁ tattheva vegaḷiṅge nāma gāmanigame viharāmi.
Tena kho pana samayena kuṭi ovassati.
Atha khvāhaṁ, mahārāja, bhikkhū āmantesiṁ:
“gacchatha, bhikkhave, ghaṭikārassa kumbhakārassa nivesane tiṇaṁ jānāthā”ti.
Evaṁ vutte, mahārāja, te bhikkhū maṁ etadavocuṁ:
“natthi kho, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa nivesane tiṇaṁ, atthi ca khvāssa āvesane tiṇacchadanan”ti.
“Gacchatha, bhikkhave, ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ uttiṇaṁ karothā”ti.
Atha kho te, mahārāja, bhikkhū ghaṭikārassa kumbhakārassa āvesanaṁ uttiṇamakaṁsu.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa mātāpitaro te bhikkhū etadavocuṁ:
“ke āvesanaṁ uttiṇaṁ karontī”ti?
“Bhikkhū, bhagini, kassapassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa kuṭi ovassatī”ti.
“Haratha, bhante, haratha, bhadramukhā”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro yena mātāpitaro tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā mātāpitaro etadavoca:
“ke āvesanaṁ uttiṇamakaṁsū”ti?
“Bhikkhū, tāta, kassapassa kira bhagavato arahato sammāsambuddhassa kuṭi ovassatī”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikārassa kumbhakārassa etadahosi:
“lābhā vata me, suladdhaṁ vata me,
yassa me kassapo bhagavā arahaṁ sammāsambuddho evaṁ abhivissattho”ti.
Atha kho, mahārāja, ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ aḍḍhamāsaṁ pītisukhaṁ na vijahati, sattāhaṁ mātāpitūnaṁ.
Atha kho, mahārāja, āvesanaṁ sabbantaṁ temāsaṁ ākāsacchadanaṁ aṭṭhāsi, na devotivassi.
Evarūpo ca, mahārāja, ghaṭikāro kumbhakāro’ti.
‘Lābhā, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa, suladdhā, bhante, ghaṭikārassa kumbhakārassa
yassa bhagavā evaṁ abhivissattho’ti.
Atha kho, ānanda, kikī kāsirājā ghaṭikārassa kumbhakārassa pañcamattāni taṇḍulavāhasatāni pāhesi paṇḍupuṭakassa sālino tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Atha kho te, ānanda, rājapurisā ghaṭikāraṁ kumbhakāraṁ upasaṅkamitvā etadavocuṁ:
‘imāni kho, bhante, pañcamattāni taṇḍulavāhasatāni kikinā kāsirājena pahitāni paṇḍupuṭakassa sālino tadupiyañca sūpeyyaṁ.
Tāni, bhante, paṭiggaṇhathā’ti.
‘Rājā kho bahukicco bahukaraṇīyo.
Alaṁ me.
Raññova hotū’ti.
Siyā kho pana te, ānanda, evamassa:
‘añño nūna tena samayena jotipālo māṇavo ahosī’ti.
Na kho panetaṁ, ānanda, evaṁ daṭṭhabbaṁ.
Ahaṁ tena samayena jotipālo māṇavo ahosin”ti.
Idamavoca bhagavā.
Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Ghaṭikārasuttaṁ niṭṭhitaṁ paṭhamaṁ.