Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa.
SC 2Lúc ấy một số đông Tỷ-kheo người địa phương, sau khi an cư mùa mưa tại địa phương xong, liền đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên
SC 3—Này các Tỷ-kheo, ai ở tại địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau: “Tự mình thiểu dục và giảng về thiểu dục cho các Tỷ-kheo; tự mình tri túc và giảng về tri túc cho các Tỷ-kheo; tự mình độc cư và giảng về độc cư cho các Tỷ-kheo; tự mình không ô nhiễm và giảng về không ô nhiễm cho các Tỷ-kheo; tự mình tinh cần, tinh tấn và giảng về tinh cần, tinh tấn cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giới hạnh và giảng về thành tựu giới hạnh cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu Thiền định và giảng về thành tựu Thiền định cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu trí tuệ và nói về thành tựu trí tuệ cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giải thoát và nói về thành tựu giải thoát cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và nói về thành tựu giải thoát tri kiến cho các Tỷ-kheo; vị giáo giới, vị khai thị, vị trình bày, vị khích lệ, vị làm cho phấn khởi, vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ?”.
SC 4—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Puñña Mantāniputta là Tỷ-kheo địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau: “Tự mình thiểu dục và nói về thiểu dục cho các Tỷ-kheo … (như trên) … vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ.”
SC 5Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta ngồi cách Thế Tôn không xa. Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như sau: “Hạnh phúc thay Tôn giả Puñña Mantāniputta! Chơn hạnh phúc thay Tôn giả Puñña Mantāniputta! Tôn giả đã được các vị đồng phạm hạnh có trí tán thán từng điểm một trước mặt bậc Ðạo Sư, và được bậc Ðạo Sư chấp nhận; có thể chúng ta sẽ gặp Tôn giả Puñña Mantāniputta, tại một chỗ nào, trong một thời gian nào, có thể sẽ có một cuộc đàm luận với Tôn giả.”
SC 6Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá) lâu cho đến khi vừa ý, rồi khởi hành đi Sāvatthi; Ngài tuần tự đi và đến Sāvatthi. Ở đây, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika.
SC 7Tôn giả Puñña Mantāniputta được nghe: “Thế Tôn đã đến Sāvatthi, trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika”. Rồi Tôn giả Puñña Mantāniputta thâu dọn lại sàng tọa, cầm y bát, khởi hành đi Sāvatthi. Tôn giả tuần tự đi đến Sāvatthi, Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả Puñña Mantāniputta đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Tôn giả Puñña Mantāniputta, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, từ tạ đi Andhavana để nghỉ trưa.
SC 8Rồi một Tỷ-kheo khác đến chỗ Tôn giả Sāriputta ở, sau khi đến, thưa với Tôn giả Sāriputta: “Hiền giả Sāriputta, Hiền giả luôn luôn tán dương Tỷ-kheo Puñña Mantāniputta; vị này được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, từ tạ đi đến Andhavana để nghỉ trưa”.
SC 9Rồi Tôn giả Sāriputta vội vã đem theo tọa cụ, đi theo sau lưng Tôn giả Puñña Mantāniputta, đầu hướng về trước mặt (để theo dõi). Rồi Tôn giả Puñña Mantāniputta đi sâu vào rừng Andhavana, và ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây. Tôn giả Sāriputta, sau khi đi sâu vào rừng Andhavana, ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây.
SC 10Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta từ Thiền định độc cư đứng dậy, đến tại chỗ Tôn giả Puñña Mantāniputta, sau khi đến nói lên với Tôn giả Puñña Mantāniputta những lời chào đón, hỏi thăm, xã giao rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta thưa với Tôn giả Puñña Mantāniputta
SC 11—Hiền giả, có phải chúng ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?
—Thật như vậy, Hiền giả.
SC 12—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 13—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tâm thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 14—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là mục đích kiến thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 15—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đoạn nghi thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 16—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 17—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo tri kiến thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 18—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 19—Hiền giả, khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Khi hỏi … tâm thanh tịnh? … kiến thanh tịnh? … đoạn nghi thanh tịnh? … đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh? … đạo tri kiến thanh tịnh? … Khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Như vậy, Hiền giả, với mục đích gì, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?
SC 20—Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn, nên sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn.
SC 21—Hiền giả, có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 22—Hiền giả, có phải tâm thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 23—Hiền giả, có phải kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 24—Hiền giả, có phải đoạn nghi thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 25—Hiền giả, có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 26—Hiền giả, có phải đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 27—Hiền giả, có phải tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 28—Hiền giả, có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 29—Hiền giả, khi hỏi “có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: “Không phải vậy. Khi hỏi “có phải tâm thanh tịnh …? … có phải kiến thanh tịnh …? … có phải đoạn nghi thanh tịnh …? … có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh …? … có phải đạo tri kiến thanh tịnh là …? … có phải tri kiến thanh tịnh …? … có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: “Không phải vậy.” Hiền giả, vậy ý nghĩa lời nói này cần phải được hiểu như thế nào?
SC 30—Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn. Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố tâm thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố kiến thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đoạn nghi thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đạo tri kiến thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn. Hiền giả, và nếu Thế Tôn tuyên bố cái gì ngoài các pháp ấy là vô thủ trước Bát-niết-bàn, thì kẻ phàm phu có thể Bát-niết-bàn, vì này Hiền giả, phàm phu là ngoài các pháp ấy.
SC 31Hiền giả, tôi sẽ cho Hiền giả một ví dụ, ở đây, một số kẻ có trí, nhờ ví dụ để hiểu ý nghĩa của lời nói. Hiền giả, như vua Pasenadi xứ Kosala trong khi ở tại Sāvatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Sāketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho vua giữa Sāvatthi và Sāketa. Hiền giả, rồi vua Pasenadi xứ Kosala, từ cửa nội thành ra khỏi Sāvatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm thứ nhất đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, leo lên trạm xe thứ hai, nhờ trạm xe thứ hai đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai … đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba … đến được trạm xe thứ năm, từ bỏ trạm xe thứ tư, leo lên trạm xe thứ năm, nhờ trạm xe thứ năm đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu, leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy đến được Sāketa, tại cửa nội thành. Khi vua đến tại cửa nội thành, các bộ trưởng cận thần, các thân thích cùng huyết thống hỏi như sau:” —Tâu Ðại vương có phải với trạm xe này, Bệ hạ đi từ Sāvatthi đến Sāketa tại cửa nội thành?” Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế nào mới gọi là trả lời đúng đắn?
SC 32—Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế này mới trả lời đúng đắn: ” —Ở đây, trong khi ta ở Sāvatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Sāketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho ta, giữa Sāvatthi và Sāketa. Ta từ cửa nội thành ra khỏi Sāvatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm xe thứ nhất, ta đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, ta leo lên trạm xe thứ hai; và nhờ trạm xe thứ hai, ta đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai … đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba … đến được trạm xe thứ năm; từ bỏ trạm xe thứ tư … đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm xe thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu … leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy, Ta đến được Sāketa, tại cửa nội thành”. Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala trả lời như vậy mới trả lời một cách đúng đắn.
SC 33—Cũng vậy, này Hiền giả, giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) kiến thanh tịnh; kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đoạn nghi thanh tịnh; đoạn nghi thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh; đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo tri kiến thanh tịnh; đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tri kiến thanh tịnh; tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) vô thủ trước Bát-niết-bàn. Này Hiền giả, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn là với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn.
SC 34Khi được nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Puñña Mantāniputta
SC 35—Tôn giả tên là gì? Và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?
SC 36—Hiền giả, tên tôi là Puñña và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Mantāniputta.
SC 37—Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư, và vị đệ tử ấy là Tôn giả Puñña Mantāniputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Puñña Mantāniputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Puñña Mantāniputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, để được thân cận, thì thật là hạnh phúc cho các vị ấy, thật là chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Puñña Mantāniputta!
SC 38Khi được nói vậy, Tôn giả Puñña Mantāniputta nói với Tôn giả Sāriputta
SC 39—Tôn giả tên là gì, và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?
SC 40—Hiền giả, tôi tên là Upatissa, và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Sāriputta.
SC 41—Tôi đang luận bàn với bậc đệ tử được xem là ngang hàng với bậc Ðạo Sư mà không được biết là Tôn giả Sāriputta. Nếu chúng tôi được biết là Tôn giả Sāriputta, thì chúng tôi đã không nói nhiều như vậy. Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một, bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư. Và vị đệ tử ấy là Tôn giả Sāriputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh … được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Sāriputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Sāriputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, được thân cận, thì thật hạnh phúc cho các vị ấy, thật chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Sāriputta!
SC 42Như vậy, hai bậc cao đức ấy cùng nhau thiện thuyết, cùng nhau tùy hỷ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho sambahulā jātibhūmakā bhikkhū jātibhūmiyaṁ vassaṁvuṭṭhā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca:
“Ko nu kho, bhikkhave, jātibhūmiyaṁ jātibhūmakānaṁ bhikkhūnaṁ sabrahmacārīnaṁ evaṁ sambhāvito:
‘attanā ca appiccho appicchakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca santuṭṭho santuṭṭhikathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca pavivitto pavivekakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca asaṁsaṭṭho asaṁsaggakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca āraddhavīriyo vīriyārambhakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca sīlasampanno sīlasampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca samādhisampanno samādhisampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca paññāsampanno paññāsampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca vimuttisampanno vimuttisampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca vimuttiñāṇadassanasampanno vimuttiñāṇadassanasampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, ovādako viññāpako sandassako samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnan’”ti?
“Puṇṇo nāma, bhante, āyasmā mantāṇiputto jātibhūmiyaṁ jātibhūmakānaṁ bhikkhūnaṁ sabrahmacārīnaṁ evaṁ sambhāvito:
‘attanā ca appiccho appicchakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca santuṭṭho …pe… ovādako viññāpako sandassako samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnan’”ti.
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto bhagavato avidūre nisinno hoti.
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“lābhā āyasmato puṇṇassa mantāṇiputtassa, suladdhalābhā āyasmato puṇṇassa mantāṇiputtassa,
yassa viññū sabrahmacārī satthu sammukhā anumassa anumassa vaṇṇaṁ bhāsanti, tañca satthā abbhanumodati.
Appeva nāma mayampi kadāci karahaci āyasmatā puṇṇena mantāṇiputtena saddhiṁ samāgaccheyyāma, appeva nāma siyā kocideva kathāsallāpo”ti.
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Assosi kho āyasmā puṇṇo mantāṇiputto: “bhagavā kira sāvatthiṁ anuppatto; sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme”ti.
Atha kho āyasmā puṇṇo mantāṇiputto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho āyasmā puṇṇo mantāṇiputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena andhavanaṁ tenupasaṅkami divāvihārāya.
Atha kho aññataro bhikkhu yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“yassa kho tvaṁ, āvuso sāriputta, puṇṇassa nāma bhikkhuno mantāṇiputtassa abhiṇhaṁ kittayamāno ahosi, so bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena andhavanaṁ tena pakkanto divāvihārāyā”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto taramānarūpo nisīdanaṁ ādāya āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi sīsānulokī.
Atha kho āyasmā puṇṇo mantāṇiputto andhavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Āyasmāpi kho sāriputto andhavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā puṇṇo mantāṇiputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā puṇṇena mantāṇiputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ etadavoca:
“Bhagavati no, āvuso, brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso, sīlavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, cittavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, diṭṭhivisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, kaṅkhāvitaraṇavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, maggāmaggañāṇadassanavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, ñāṇadassanavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“‘Kiṁ nu kho, āvuso, sīlavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso, cittavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso, diṭṭhivisuddhatthaṁ …pe…
kaṅkhāvitaraṇavisuddhatthaṁ …pe…
maggāmaggañāṇadassanavisuddhatthaṁ …pe…
paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthaṁ …pe…
kiṁ nu kho, āvuso, ñāṇadassanavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ āvuso’ti vadesi.
Kimatthaṁ carahāvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Anupādāparinibbānatthaṁ kho, āvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso, sīlavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, cittavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, diṭṭhivisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, kaṅkhāvitaraṇavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, maggāmaggañāṇadassanavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, paṭipadāñāṇadassanavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, ñāṇadassanavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, aññatra imehi dhammehi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“‘Kiṁ nu kho, āvuso, sīlavisuddhi anupādāparinibbānan’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso, cittavisuddhi anupādāparinibbānan’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso, diṭṭhivisuddhi anupādāparinibbānan’ti …pe…
kaṅkhāvitaraṇavisuddhi …
maggāmaggañāṇadassanavisuddhi …
paṭipadāñāṇadassanavisuddhi …
‘kiṁ nu kho, āvuso, ñāṇadassanavisuddhi anupādāparinibbānan’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso, aññatra imehi dhammehi anupādāparinibbānan’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
Yathākathaṁ panāvuso, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“Sīlavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Cittavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Diṭṭhivisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Kaṅkhāvitaraṇavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Maggāmaggañāṇadassanavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Paṭipadāñāṇadassanavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Ñāṇadassanavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Aññatra ce, āvuso, imehi dhammehi anupādāparinibbānaṁ abhavissa, puthujjano parinibbāyeyya.
Puthujjano hi, āvuso, aññatra imehi dhammehi.
Tena hāvuso, upamaṁ te karissāmi;
upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, āvuso, rañño pasenadissa kosalassa sāvatthiyaṁ paṭivasantassa sākete kiñcideva accāyikaṁ karaṇīyaṁ uppajjeyya.
Tassa antarā ca sāvatthiṁ antarā ca sāketaṁ satta rathavinītāni upaṭṭhapeyyuṁ.
Atha kho, āvuso, rājā pasenadi kosalo sāvatthiyā nikkhamitvā antepuradvārā paṭhamaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya, paṭhamena rathavinītena dutiyaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, paṭhamaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya dutiyaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Dutiyena rathavinītena tatiyaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, dutiyaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, tatiyaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Tatiyena rathavinītena catutthaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, tatiyaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, catutthaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Catutthena rathavinītena pañcamaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, catutthaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, pañcamaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Pañcamena rathavinītena chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, pañcamaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Chaṭṭhena rathavinītena sattamaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, sattamaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Sattamena rathavinītena sāketaṁ anupāpuṇeyya antepuradvāraṁ.
Tamenaṁ antepuradvāragataṁ samānaṁ mittāmaccā ñātisālohitā evaṁ puccheyyuṁ:
‘iminā tvaṁ, mahārāja, rathavinītena sāvatthiyā sāketaṁ anuppatto antepuradvāran’ti?
Kathaṁ byākaramāno nu kho, āvuso, rājā pasenadi kosalo sammā byākaramāno byākareyyā”ti?
“Evaṁ byākaramāno kho, āvuso, rājā pasenadi kosalo sammā byākaramāno byākareyya:
‘idha me sāvatthiyaṁ paṭivasantassa sākete kiñcideva accāyikaṁ karaṇīyaṁ uppajji.
Tassa me antarā ca sāvatthiṁ antarā ca sāketaṁ satta rathavinītāni upaṭṭhapesuṁ.
Atha khvāhaṁ sāvatthiyā nikkhamitvā antepuradvārā paṭhamaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Paṭhamena rathavinītena dutiyaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, paṭhamaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ dutiyaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Dutiyena rathavinītena tatiyaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, dutiyaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, tatiyaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Tatiyena rathavinītena catutthaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, tatiyaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, catutthaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Catutthena rathavinītena pañcamaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, catutthaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, pañcamaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Pañcamena rathavinītena chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, pañcamaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Chaṭṭhena rathavinītena sattamaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, sattamaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Sattamena rathavinītena sāketaṁ anuppatto antepuradvāran’ti.
Evaṁ byākaramāno kho, āvuso, rājā pasenadi kosalo sammā byākaramāno byākareyyā”ti.
“Evameva kho, āvuso, sīlavisuddhi yāvadeva cittavisuddhatthā, cittavisuddhi yāvadeva diṭṭhivisuddhatthā, diṭṭhivisuddhi yāvadeva kaṅkhāvitaraṇavisuddhatthā, kaṅkhāvitaraṇavisuddhi yāvadeva maggāmaggañāṇadassanavisuddhatthā, maggāmaggañāṇadassanavisuddhi yāvadeva paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthā, paṭipadāñāṇadassanavisuddhi yāvadeva ñāṇadassanavisuddhatthā, ñāṇadassanavisuddhi yāvadeva anupādāparinibbānatthā.
Anupādāparinibbānatthaṁ kho, āvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ etadavoca:
“konāmo āyasmā, kathañca panāyasmantaṁ sabrahmacārī jānantī”ti?
“Puṇṇoti kho me, āvuso, nāmaṁ;
mantāṇiputtoti ca pana maṁ sabrahmacārī jānantī”ti.
“Acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena, evameva āyasmatā puṇṇena mantāṇiputtena gambhīrā gambhīrapañhā anumassa anumassa byākatā.
Lābhā sabrahmacārīnaṁ, suladdhalābhā sabrahmacārīnaṁ,
ye āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ labhanti dassanāya, labhanti payirūpāsanāya.
Celaṇḍukena cepi sabrahmacārī āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ muddhanā pariharantā labheyyuṁ dassanāya, labheyyuṁ payirūpāsanāya, tesampi lābhā tesampi suladdhaṁ, amhākampi lābhā amhākampi suladdhaṁ, ye mayaṁ āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ labhāma dassanāya, labhāma payirūpāsanāyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā puṇṇo mantāṇiputto āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“ko nāmo āyasmā, kathañca panāyasmantaṁ sabrahmacārī jānantī”ti?
“Upatissoti kho me, āvuso, nāmaṁ;
sāriputtoti ca pana maṁ sabrahmacārī jānantī”ti.
“Satthukappena vata kira, bho, sāvakena saddhiṁ mantayamānā na jānimha:
‘āyasmā sāriputto’ti.
Sace hi mayaṁ jāneyyāma ‘āyasmā sāriputto’ti, ettakampi no nappaṭibhāseyya.
Acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena, evameva āyasmatā sāriputtena gambhīrā gambhīrapañhā anumassa anumassa pucchitā.
Lābhā sabrahmacārīnaṁ suladdhalābhā sabrahmacārīnaṁ,
ye āyasmantaṁ sāriputtaṁ labhanti dassanāya, labhanti payirūpāsanāya.
Celaṇḍukena cepi sabrahmacārī āyasmantaṁ sāriputtaṁ muddhanā pariharantā labheyyuṁ dassanāya, labheyyuṁ payirūpāsanāya, tesampi lābhā tesampi suladdhaṁ, amhākampi lābhā amhākampi suladdhaṁ, ye mayaṁ āyasmantaṁ sāriputtaṁ labhāma dassanāya, labhāma payirūpāsanāyā”ti.
Itiha te ubhopi mahānāgā aññamaññassa subhāsitaṁ samanumodiṁsūti.
Rathavinītasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.
Nya 1Thus I heard:
On one occasion the Blessed One was living at Rājagaha in the Bamboo Grove, the Squirrels’ Sanctuary.
Nya 2Then a number of bhikkhus from the Blessed One’s native land who had spent the Rains there, went to the Blessed One, and after paying homage to him, they sat down at one side. When they had done so, the Blessed One asked them: “Bhikkhus, who is there in my native land that is esteemed by the bhikkhus of my native land, his companions in the life divine, in this way: with few wishes himself, he talks to the bhikkhus on fewness of wishes; content himself, he talks to the bhikkhus on contentment; secluded himself, he talks to the bhikkhus on seclusion; aloof from society himself, he talks to the bhikkhus on aloofness from society; energetic himself, he talks to the bhikkhus on energy; perfect in virtue himself, he talks to the bhikkhus on perfection of virtue; perfect in concentration himself, he talks to the bhikkhus on perfection of concentration; perfect in understanding himself, he talks to the bhikkhus on perfection of understanding; perfect in deliverance himself, he talks to the bhikkhus on perfection of deliverance; perfect in the knowing and seeing of deliverance himself, he talks to the bhikkhus on perfection in knowing and seeing deliverance; who advises, informs, instructs, urges, rouses and encourages his companions in the life divine?”
“Venerable sir, the venerable Mantāniputta called Punna is esteemed in the native land by bhikkhus of the native land, his companions in the life divine, in this way: with few wishes himself, he talks to the bhikkhus on fewness of wishes… rouses and encourages his companions in the life divine.”
Nya 3Now on that occasion the venerable Sāriputta was seated near the Blessed One. Then it occurred to the venerable Sāriputta: “It is gain for the venerable Punna Mantāniputta, it is great gain for him that wise companions in the life divine praise him point by point in the Master’s presence. Now suppose that sometime or other, we were to meet the venerable Punna Mantāniputta and have some conversation with him?”
Nya 4Then, when the Blessed One had stayed at Rājagaha as long as he chose, he set out to go by stages to Sāvatthi. Wandering by stages, he at length arrived at Sāvatthi. There he lived in Jeta’s Grove, Anathapindika’s Park.
Nya 5The venerable Punna Mantāniputta heard: “The Blessed One, it seems, has arrived at Sāvatthi and is living in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park.” Then the venerable Punna Mantāniputta set his resting-place in order and taking his outer robe and bowl set out to go by stages to Sāvatthi. Wandering by stages, he at length arrived at Sāvatthi and he went to Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s Park, to see the Blessed One. After paying homage to him, he sat down at one side. When he had done so, the Blessed One instructed, roused and encouraged him with talk on the Dhamma. Then satisfied and delighting in the Blessed Qne’s words, the venerable Punna Mantāniputta rose from his seat, and after paying homage to the Blessed One, keeping him on his right, he went to the Blind Mens’ Grove for the day’s abiding.
Nya 6Then a certain bhikkhu went to the venerable Sāriputta and said to him: “Friend Sāriputta, the bhikkhu Punna Mantāniputta of whom you have always spoken highly has just been instructed, urged, roused and encouraged by the Blessed One with talk on the Dhamma and being satisfied and delighting in the Blessed One’s words, he has now risen from his seat, and after paying homage to him, keeping him on his right, he is going to the Blind Mens’ Grove for the day’s abiding.”
Nya 7Then the venerable Sāriputta quickly picked up a mat and followed close behind the venerable Punna Mantāniputta, keeping his head in sight. Then the venerable Punna Mantāniputta went in to the Blind Mens’ Grove and sat down for the day’s abiding at the root of a tree. And the venerable Sāriputta went into the Blind Mens’ Grove and sat down for the day’s abiding at the root of a.tree.
Nya 8Then when it was evening, the venerable Sāriputta rose from meditation, and went to the venerable Punna Mantāniputta and exchanged greetings with him, and when the courteous and amiable talk was finished, he sat down at one side. When he had done so, he said to the venerable Punna Mantāniputta:
Nya 9“Is the life divine lived under the Blessed One, friend?”
“Yes, friend.”
“But, friend, is it for the goal of purification of virtue that the life divine is lived under the Blessed One?”
“No, friend.”
“Then is it for the goal of purification of mind?”
“No, friend.”
“Then is it for the goal of purification of view?”
“No, friend.”
“Then is it for the goal of purification by overcoming doubt?”
“No, friend.”
“Then is it for the goal of purification by knowledge and vision of what is and what is not the path?”
“No, friend.”
“Then is it for the goal of purification by knowledge and vision of the way?”
“No, friend.”
“Then is it for the goal of purification by knowledge and vision?”
“No, friend.”
“Friend, when asked: ‘But, friend is it for the goal of purification of virtue that the life divine is lived under the Blessed One’, you replied: ‘No, friend’, and when asked: ‘Then is it for the goal of purification of mind… purification of view… purification by overcoming doubt… purification by knowledge and vision of what is and what is not the Path… purification by knowledge and vision of the Way… purification by knowledge and vision’ you replied: ‘No, friend’. For what goal, then, is the life divine lived under the Blessed One?”
Nya 10“Friend, it is for the goal of Nibbāna through not clinging that the life divine is lived under the Blessed One.”
Nya 11“But, friend, is the purification of virtue Nibbāna through not clinging?”
“No, friend.”
“Then is the purification of mind Nibbāna through not clinging?”
“No, friend.”
“Then is the purification of view Nibbāna through not clinging?”
“No, friend.”
“Then is the purification by overcoming doubt Nibbāna through not clinging?”
“No, friend.”
“Then is the purification by knowledge and vision of what is and what is not the Path Nibbāna through not clinging?”
“No, friend.”
“Then is the purification by knowledge and vision of the Way Nibbāna through not clinging?”
“No, friend.”
“Then is the purification by knowledge and vision Nibbāna through not clinging?”
“No, friend.”
“When asked: ‘But, friend, is the purification of virtue Nibbāna through not clinging?’ you replied: ‘No, friend’, and when asked: ‘Then is the purification of mind… the purification of view… the purification by overcoming doubt… purification by knowledge and vision of what is and what is not the Path… the purification by knowledge and vision of the Way… the purification by knowledge and vision Nibbāna. through not clinging?’ you replied: ‘No, friend’. But how should the meaning of these statements be regarded?”
Nya 12“Friend, if the Blessed One had described purification of virtue as Nibbāna through not clinging, he would have described what is still accompanied by clinging as Nibbāna through not clinging. If the Blessed One had described purification of mind… purification of view… purification by overcoming doubt… purification by knowledge and vision of what is and what is not the Path… purification by knowledge and vision of the Way… purification by knowledge and vision as Nibbāna through not clinging, he would have described what is still accompanied by clinging as Nibbāna through not clinging. And if what is without these dhammas were Nibbāna through not clinging, then an ordinary man would have reached Nibbāna, for an ordinary man is without these dhammas.
Nya 13“As to that, friend, I shall give you a simile, for some wise men understand by means of a simile the meaning of what is said first. Suppose the King Pasenadi of Kosala while living at Sāvatthi had some urgent business to settle at Sāketa, and that between Sāvatthi and Sāketa seven relay coaches were kept ready for him; and then King Pasenadi of Kosala came out of the inner palace door in Sāvatthi and mounted the first relay coach; and by means of the first relay coach he arrived at the second relay coach; then he dismounted from the first coach and mounted the second coach; and by means of the second coach he arrived at the third coach… by means of the third coach he arrived at the fourth coach… by means of the fourth coach he arrived at the fifth coach… by means of the fifth coach he arrived at the sixth coach… by means of the sixth coach he arrived at the seventh coach, and by means of the seventh coach he arrived at the inner palace door in Sāketa. Then, when he had come to the inner palace door, his friends and acquaintances, his relatives and kin, asked him: ‘Sire, did you come from Sāvatthi by means of this coach to the inner palace door in Sāketa?’—how then should King Pasenadi of Kosala answer in order to answer correctly?”
“In order to answer correctly, friend, he should answer thus: ‘Here while living at Sāvatthi I had some urgent business to settle at Sāketa. And between Sāvatthi and Sāketa seven relay coaches are kept ready for me. Then I came out of the inner palace door in Sāvatthi and mounted the first relay coach and by means of the first relay coach I arrived at the second… and by means of the seventh relay coach I arrived at the inner palace door in Sāketa.’ In order to answer correctly he should answer thus.”
Nya 14“So too, friend, the purification of virtue has the purification of mind as its goal; the purification of mind has the purification of view as its goal; the purification of view has the purification by overecoming doubt as its goal; the purification by overcoming doubt has the purification by knowledge and vision of what is and what is not the Path as its goal; the purification by knowledge and vision of what is and what is not the Path has the purification by knowledge and vision of the Way as its goal; the purification by knowledge and vision of the Way has the purification by knowledge and vision as its goal; the purification by knowledge and vision has Nibbāna through not clinging as its goal. It is for the goal of Nibbāna through not clinging that the life divine is lived under the Blessed One.”
Nya 15When this was said, the venerable Sāriputta asked the venerable Punna Mantāniputta: “What is the venerable one’s name, and how do his companions in the life divine know him?”
“My name is Punna, friend, and companions in the life divine know me as Mantāniputta.”
“It is wonderful, friend, it is marvellous; each profound question has been answered point by point by the venerable Punna Mantāniputta as a learned disciple who knows the Master’s Teaching as it is. It is gain for his companions in the life divine, it is great gain for them, that they have the opportunity to see him and to honour him. And even if it were by carrying the venerable Punna Mantāniputta about on a cushion on their heads that his companions in the life divine might get the opportunity to see him and to honour him, it would be gain for them, great gain for them. And it is gain for us, great gain for us, that we have the opportunity of seeing the venerable Punna Mantāniputta and honouring him.”
Nya 16When this was said, the venerable Punna Mantāniputta asked the venerable Sāriputta: “What is the venerable one’s name, and how do his companions in the life divine know him?”
“My name is Upatissa, friend, and companions in the life divine know me as Sāriputta.”
“Indeed, friend, we did not know that we were talking with the venerable Sāriputta, the disciple who is like of the Master himself. Had we known that it was the venerable Sāriputta, we should not have said so much. It is wonderful, friend, it is marvellous; each profound question has been put point by point by the venerable Sāriputta as a learned disciple who knows the Master’s Teaching as it is. It is gain for his companions in the life divine, it is great gain for them, that they have the opportunity to see him and to honour him. And even if it were by carrying the venerable Sāriputta about on a cushion on their heads that his companions in the life divine might get the opportunity to see him and to honour him, it would be gain for them, great gain for them. And it is gain for us, great gain for us, that we have the opportunity of seeing the venerable Sāriputta and honouring him.”
Thus it was that these two great Nāgas agreed with each other’s good words.
Như vầy tôi nghe.
SC 1Một thời Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá) tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivapa.
SC 2Lúc ấy một số đông Tỷ-kheo người địa phương, sau khi an cư mùa mưa tại địa phương xong, liền đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo đang ngồi một bên
SC 3—Này các Tỷ-kheo, ai ở tại địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau: “Tự mình thiểu dục và giảng về thiểu dục cho các Tỷ-kheo; tự mình tri túc và giảng về tri túc cho các Tỷ-kheo; tự mình độc cư và giảng về độc cư cho các Tỷ-kheo; tự mình không ô nhiễm và giảng về không ô nhiễm cho các Tỷ-kheo; tự mình tinh cần, tinh tấn và giảng về tinh cần, tinh tấn cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giới hạnh và giảng về thành tựu giới hạnh cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu Thiền định và giảng về thành tựu Thiền định cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu trí tuệ và nói về thành tựu trí tuệ cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giải thoát và nói về thành tựu giải thoát cho các Tỷ-kheo; tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và nói về thành tựu giải thoát tri kiến cho các Tỷ-kheo; vị giáo giới, vị khai thị, vị trình bày, vị khích lệ, vị làm cho phấn khởi, vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ?”.
SC 4—Bạch Thế Tôn, Tôn giả Puñña Mantāniputta là Tỷ-kheo địa phương được các Tỷ-kheo đồng phạm hạnh cùng một địa phương tán thán như sau: “Tự mình thiểu dục và nói về thiểu dục cho các Tỷ-kheo … (như trên) … vị làm cho các vị đồng phạm hạnh hoan hỷ.”
SC 5Lúc bấy giờ, Tôn giả Sāriputta ngồi cách Thế Tôn không xa. Tôn giả Sāriputta suy nghĩ như sau: “Hạnh phúc thay Tôn giả Puñña Mantāniputta! Chơn hạnh phúc thay Tôn giả Puñña Mantāniputta! Tôn giả đã được các vị đồng phạm hạnh có trí tán thán từng điểm một trước mặt bậc Ðạo Sư, và được bậc Ðạo Sư chấp nhận; có thể chúng ta sẽ gặp Tôn giả Puñña Mantāniputta, tại một chỗ nào, trong một thời gian nào, có thể sẽ có một cuộc đàm luận với Tôn giả.”
SC 6Thế Tôn trú tại Rājagaha (Vương Xá) lâu cho đến khi vừa ý, rồi khởi hành đi Sāvatthi; Ngài tuần tự đi và đến Sāvatthi. Ở đây, Thế Tôn trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika.
SC 7Tôn giả Puñña Mantāniputta được nghe: “Thế Tôn đã đến Sāvatthi, trú ở Sāvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika”. Rồi Tôn giả Puñña Mantāniputta thâu dọn lại sàng tọa, cầm y bát, khởi hành đi Sāvatthi. Tôn giả tuần tự đi đến Sāvatthi, Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika, đến chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Thế Tôn thuyết pháp cho Tôn giả Puñña Mantāniputta đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Tôn giả Puñña Mantāniputta, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, từ tạ đi Andhavana để nghỉ trưa.
SC 8Rồi một Tỷ-kheo khác đến chỗ Tôn giả Sāriputta ở, sau khi đến, thưa với Tôn giả Sāriputta: “Hiền giả Sāriputta, Hiền giả luôn luôn tán dương Tỷ-kheo Puñña Mantāniputta; vị này được Thế Tôn thuyết pháp, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, từ tạ đi đến Andhavana để nghỉ trưa”.
SC 9Rồi Tôn giả Sāriputta vội vã đem theo tọa cụ, đi theo sau lưng Tôn giả Puñña Mantāniputta, đầu hướng về trước mặt (để theo dõi). Rồi Tôn giả Puñña Mantāniputta đi sâu vào rừng Andhavana, và ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây. Tôn giả Sāriputta, sau khi đi sâu vào rừng Andhavana, ngồi nghỉ trưa dưới một gốc cây.
SC 10Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta từ Thiền định độc cư đứng dậy, đến tại chỗ Tôn giả Puñña Mantāniputta, sau khi đến nói lên với Tôn giả Puñña Mantāniputta những lời chào đón, hỏi thăm, xã giao rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta thưa với Tôn giả Puñña Mantāniputta
SC 11—Hiền giả, có phải chúng ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?
—Thật như vậy, Hiền giả.
SC 12—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 13—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tâm thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 14—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là mục đích kiến thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 15—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đoạn nghi thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 16—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 17—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo tri kiến thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 18—Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh?
—Không phải vậy, Hiền giả.
SC 19—Hiền giả, khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Khi hỏi … tâm thanh tịnh? … kiến thanh tịnh? … đoạn nghi thanh tịnh? … đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh? … đạo tri kiến thanh tịnh? … Khi hỏi “có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh?”, Hiền giả trả lời “Không phải vậy”. Như vậy, Hiền giả, với mục đích gì, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?
SC 20—Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn, nên sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn.
SC 21—Hiền giả, có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 22—Hiền giả, có phải tâm thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 23—Hiền giả, có phải kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 24—Hiền giả, có phải đoạn nghi thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 25—Hiền giả, có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 26—Hiền giả, có phải đạo tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 27—Hiền giả, có phải tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 28—Hiền giả, có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn?
—Hiền giả, không phải vậy.
SC 29—Hiền giả, khi hỏi “có phải giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: “Không phải vậy. Khi hỏi “có phải tâm thanh tịnh …? … có phải kiến thanh tịnh …? … có phải đoạn nghi thanh tịnh …? … có phải đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh …? … có phải đạo tri kiến thanh tịnh là …? … có phải tri kiến thanh tịnh …? … có phải cái gì ngoài các pháp này là vô thủ trước Bát-niết-bàn?”, Hiền giả trả lời: “Không phải vậy.” Hiền giả, vậy ý nghĩa lời nói này cần phải được hiểu như thế nào?
SC 30—Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố giới thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn. Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố tâm thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố kiến thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đoạn nghi thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố đạo tri kiến thanh tịnh … Hiền giả, nếu Thế Tôn tuyên bố tri kiến thanh tịnh là vô thủ trước Bát-niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố vô thủ trước Bát-niết-bàn là đồng đẳng với hữu thủ trước Bát-niết-bàn. Hiền giả, và nếu Thế Tôn tuyên bố cái gì ngoài các pháp ấy là vô thủ trước Bát-niết-bàn, thì kẻ phàm phu có thể Bát-niết-bàn, vì này Hiền giả, phàm phu là ngoài các pháp ấy.
SC 31Hiền giả, tôi sẽ cho Hiền giả một ví dụ, ở đây, một số kẻ có trí, nhờ ví dụ để hiểu ý nghĩa của lời nói. Hiền giả, như vua Pasenadi xứ Kosala trong khi ở tại Sāvatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Sāketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho vua giữa Sāvatthi và Sāketa. Hiền giả, rồi vua Pasenadi xứ Kosala, từ cửa nội thành ra khỏi Sāvatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm thứ nhất đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, leo lên trạm xe thứ hai, nhờ trạm xe thứ hai đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai … đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba … đến được trạm xe thứ năm, từ bỏ trạm xe thứ tư, leo lên trạm xe thứ năm, nhờ trạm xe thứ năm đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu, leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy đến được Sāketa, tại cửa nội thành. Khi vua đến tại cửa nội thành, các bộ trưởng cận thần, các thân thích cùng huyết thống hỏi như sau:” —Tâu Ðại vương có phải với trạm xe này, Bệ hạ đi từ Sāvatthi đến Sāketa tại cửa nội thành?” Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế nào mới gọi là trả lời đúng đắn?
SC 32—Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala phải trả lời như thế này mới trả lời đúng đắn: ” —Ở đây, trong khi ta ở Sāvatthi, có công việc khẩn cấp khởi lên ở Sāketa, và bảy trạm xe được sắp đặt cho ta, giữa Sāvatthi và Sāketa. Ta từ cửa nội thành ra khỏi Sāvatthi, leo lên trạm xe thứ nhất, và nhờ trạm xe thứ nhất, ta đến được trạm xe thứ hai; từ bỏ trạm xe thứ nhất, ta leo lên trạm xe thứ hai; và nhờ trạm xe thứ hai, ta đến được trạm xe thứ ba; từ bỏ trạm xe thứ hai … đến được trạm xe thứ tư; từ bỏ trạm xe thứ ba … đến được trạm xe thứ năm; từ bỏ trạm xe thứ tư … đến được trạm xe thứ sáu; từ bỏ trạm xe thứ năm, leo lên trạm xe thứ sáu, nhờ trạm xe thứ sáu, đến được trạm xe thứ bảy; từ bỏ trạm xe thứ sáu … leo lên trạm xe thứ bảy, nhờ trạm xe thứ bảy, Ta đến được Sāketa, tại cửa nội thành”. Hiền giả, vua Pasenadi nước Kosala trả lời như vậy mới trả lời một cách đúng đắn.
SC 33—Cũng vậy, này Hiền giả, giới thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tâm thanh tịnh; tâm thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) kiến thanh tịnh; kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đoạn nghi thanh tịnh; đoạn nghi thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh; đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) đạo tri kiến thanh tịnh; đạo tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) tri kiến thanh tịnh; tri kiến thanh tịnh chỉ có mục đích (đạt cho được) vô thủ trước Bát-niết-bàn. Này Hiền giả, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dẫn của Thế Tôn là với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn.
SC 34Khi được nói vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Puñña Mantāniputta
SC 35—Tôn giả tên là gì? Và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?
SC 36—Hiền giả, tên tôi là Puñña và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Mantāniputta.
SC 37—Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư, và vị đệ tử ấy là Tôn giả Puñña Mantāniputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Puñña Mantāniputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Puñña Mantāniputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, để được thân cận, thì thật là hạnh phúc cho các vị ấy, thật là chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Puñña Mantāniputta!
SC 38Khi được nói vậy, Tôn giả Puñña Mantāniputta nói với Tôn giả Sāriputta
SC 39—Tôn giả tên là gì, và các vị đồng phạm hạnh biết Tôn giả như thế nào?
SC 40—Hiền giả, tôi tên là Upatissa, và các vị đồng phạm hạnh biết tôi là Sāriputta.
SC 41—Tôi đang luận bàn với bậc đệ tử được xem là ngang hàng với bậc Ðạo Sư mà không được biết là Tôn giả Sāriputta. Nếu chúng tôi được biết là Tôn giả Sāriputta, thì chúng tôi đã không nói nhiều như vậy. Thật hy hữu thay, Hiền giả! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được trả lời từng điểm một, bởi một đệ tử nghe nhiều, đã biết rõ giáo lý của bậc Ðạo Sư. Và vị đệ tử ấy là Tôn giả Sāriputta. Thật hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh! Thật chơn hạnh phúc thay cho các vị đồng phạm hạnh … được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Sāriputta! Nếu các vị đồng phạm hạnh đội Tôn giả Sāriputta trên đầu với một cuộn vải làm khăn để được thăm viếng, được thân cận, thì thật hạnh phúc cho các vị ấy, thật chơn hạnh phúc cho các vị ấy! Thật hạnh phúc cho chúng tôi, thật chơn hạnh phúc cho chúng tôi được thăm viếng, được thân cận Tôn giả Sāriputta!
SC 42Như vậy, hai bậc cao đức ấy cùng nhau thiện thuyết, cùng nhau tùy hỷ.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Atha kho sambahulā jātibhūmakā bhikkhū jātibhūmiyaṁ vassaṁvuṭṭhā yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinne kho te bhikkhū bhagavā etadavoca:
“Ko nu kho, bhikkhave, jātibhūmiyaṁ jātibhūmakānaṁ bhikkhūnaṁ sabrahmacārīnaṁ evaṁ sambhāvito:
‘attanā ca appiccho appicchakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca santuṭṭho santuṭṭhikathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca pavivitto pavivekakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca asaṁsaṭṭho asaṁsaggakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca āraddhavīriyo vīriyārambhakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca sīlasampanno sīlasampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca samādhisampanno samādhisampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca paññāsampanno paññāsampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca vimuttisampanno vimuttisampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca vimuttiñāṇadassanasampanno vimuttiñāṇadassanasampadākathañca bhikkhūnaṁ kattā, ovādako viññāpako sandassako samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnan’”ti?
“Puṇṇo nāma, bhante, āyasmā mantāṇiputto jātibhūmiyaṁ jātibhūmakānaṁ bhikkhūnaṁ sabrahmacārīnaṁ evaṁ sambhāvito:
‘attanā ca appiccho appicchakathañca bhikkhūnaṁ kattā, attanā ca santuṭṭho …pe… ovādako viññāpako sandassako samādapako samuttejako sampahaṁsako sabrahmacārīnan’”ti.
Tena kho pana samayena āyasmā sāriputto bhagavato avidūre nisinno hoti.
Atha kho āyasmato sāriputtassa etadahosi:
“lābhā āyasmato puṇṇassa mantāṇiputtassa, suladdhalābhā āyasmato puṇṇassa mantāṇiputtassa,
yassa viññū sabrahmacārī satthu sammukhā anumassa anumassa vaṇṇaṁ bhāsanti, tañca satthā abbhanumodati.
Appeva nāma mayampi kadāci karahaci āyasmatā puṇṇena mantāṇiputtena saddhiṁ samāgaccheyyāma, appeva nāma siyā kocideva kathāsallāpo”ti.
Atha kho bhagavā rājagahe yathābhirantaṁ viharitvā yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi tadavasari.
Tatra sudaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Assosi kho āyasmā puṇṇo mantāṇiputto: “bhagavā kira sāvatthiṁ anuppatto; sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme”ti.
Atha kho āyasmā puṇṇo mantāṇiputto senāsanaṁ saṁsāmetvā pattacīvaramādāya yena sāvatthi tena cārikaṁ pakkāmi.
Anupubbena cārikaṁ caramāno yena sāvatthi jetavanaṁ anāthapiṇḍikassa ārāmo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Ekamantaṁ nisinnaṁ kho āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ bhagavā dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi.
Atha kho āyasmā puṇṇo mantāṇiputto bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena andhavanaṁ tenupasaṅkami divāvihārāya.
Atha kho aññataro bhikkhu yenāyasmā sāriputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“yassa kho tvaṁ, āvuso sāriputta, puṇṇassa nāma bhikkhuno mantāṇiputtassa abhiṇhaṁ kittayamāno ahosi, so bhagavatā dhammiyā kathāya sandassito samādapito samuttejito sampahaṁsito bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā yena andhavanaṁ tena pakkanto divāvihārāyā”ti.
Atha kho āyasmā sāriputto taramānarūpo nisīdanaṁ ādāya āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ piṭṭhito piṭṭhito anubandhi sīsānulokī.
Atha kho āyasmā puṇṇo mantāṇiputto andhavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Āyasmāpi kho sāriputto andhavanaṁ ajjhogāhetvā aññatarasmiṁ rukkhamūle divāvihāraṁ nisīdi.
Atha kho āyasmā sāriputto sāyanhasamayaṁ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā puṇṇo mantāṇiputto tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā āyasmatā puṇṇena mantāṇiputtena saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā sāriputto āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ etadavoca:
“Bhagavati no, āvuso, brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Evamāvuso”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso, sīlavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, cittavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, diṭṭhivisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, kaṅkhāvitaraṇavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, maggāmaggañāṇadassanavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, ñāṇadassanavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“‘Kiṁ nu kho, āvuso, sīlavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso, cittavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso, diṭṭhivisuddhatthaṁ …pe…
kaṅkhāvitaraṇavisuddhatthaṁ …pe…
maggāmaggañāṇadassanavisuddhatthaṁ …pe…
paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthaṁ …pe…
kiṁ nu kho, āvuso, ñāṇadassanavisuddhatthaṁ bhagavati brahmacariyaṁ vussatī’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ āvuso’ti vadesi.
Kimatthaṁ carahāvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti?
“Anupādāparinibbānatthaṁ kho, āvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
“Kiṁ nu kho, āvuso, sīlavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, cittavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, diṭṭhivisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, kaṅkhāvitaraṇavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, maggāmaggañāṇadassanavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, paṭipadāñāṇadassanavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ nu kho, āvuso, ñāṇadassanavisuddhi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“Kiṁ panāvuso, aññatra imehi dhammehi anupādāparinibbānan”ti?
“No hidaṁ, āvuso”.
“‘Kiṁ nu kho, āvuso, sīlavisuddhi anupādāparinibbānan’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso, cittavisuddhi anupādāparinibbānan’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ nu kho, āvuso, diṭṭhivisuddhi anupādāparinibbānan’ti …pe…
kaṅkhāvitaraṇavisuddhi …
maggāmaggañāṇadassanavisuddhi …
paṭipadāñāṇadassanavisuddhi …
‘kiṁ nu kho, āvuso, ñāṇadassanavisuddhi anupādāparinibbānan’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
‘Kiṁ panāvuso, aññatra imehi dhammehi anupādāparinibbānan’ti iti puṭṭho samāno ‘no hidaṁ, āvuso’ti vadesi.
Yathākathaṁ panāvuso, imassa bhāsitassa attho daṭṭhabbo”ti?
“Sīlavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Cittavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Diṭṭhivisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Kaṅkhāvitaraṇavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Maggāmaggañāṇadassanavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Paṭipadāñāṇadassanavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Ñāṇadassanavisuddhiñce, āvuso, bhagavā anupādāparinibbānaṁ paññapeyya, saupādānaṁyeva samānaṁ anupādāparinibbānaṁ paññapeyya.
Aññatra ce, āvuso, imehi dhammehi anupādāparinibbānaṁ abhavissa, puthujjano parinibbāyeyya.
Puthujjano hi, āvuso, aññatra imehi dhammehi.
Tena hāvuso, upamaṁ te karissāmi;
upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti.
Seyyathāpi, āvuso, rañño pasenadissa kosalassa sāvatthiyaṁ paṭivasantassa sākete kiñcideva accāyikaṁ karaṇīyaṁ uppajjeyya.
Tassa antarā ca sāvatthiṁ antarā ca sāketaṁ satta rathavinītāni upaṭṭhapeyyuṁ.
Atha kho, āvuso, rājā pasenadi kosalo sāvatthiyā nikkhamitvā antepuradvārā paṭhamaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya, paṭhamena rathavinītena dutiyaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, paṭhamaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya dutiyaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Dutiyena rathavinītena tatiyaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, dutiyaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, tatiyaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Tatiyena rathavinītena catutthaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, tatiyaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, catutthaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Catutthena rathavinītena pañcamaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, catutthaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, pañcamaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Pañcamena rathavinītena chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, pañcamaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Chaṭṭhena rathavinītena sattamaṁ rathavinītaṁ pāpuṇeyya, chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ vissajjeyya, sattamaṁ rathavinītaṁ abhiruheyya.
Sattamena rathavinītena sāketaṁ anupāpuṇeyya antepuradvāraṁ.
Tamenaṁ antepuradvāragataṁ samānaṁ mittāmaccā ñātisālohitā evaṁ puccheyyuṁ:
‘iminā tvaṁ, mahārāja, rathavinītena sāvatthiyā sāketaṁ anuppatto antepuradvāran’ti?
Kathaṁ byākaramāno nu kho, āvuso, rājā pasenadi kosalo sammā byākaramāno byākareyyā”ti?
“Evaṁ byākaramāno kho, āvuso, rājā pasenadi kosalo sammā byākaramāno byākareyya:
‘idha me sāvatthiyaṁ paṭivasantassa sākete kiñcideva accāyikaṁ karaṇīyaṁ uppajji.
Tassa me antarā ca sāvatthiṁ antarā ca sāketaṁ satta rathavinītāni upaṭṭhapesuṁ.
Atha khvāhaṁ sāvatthiyā nikkhamitvā antepuradvārā paṭhamaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Paṭhamena rathavinītena dutiyaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, paṭhamaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ dutiyaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Dutiyena rathavinītena tatiyaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, dutiyaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, tatiyaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Tatiyena rathavinītena catutthaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, tatiyaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, catutthaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Catutthena rathavinītena pañcamaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, catutthaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, pañcamaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Pañcamena rathavinītena chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, pañcamaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Chaṭṭhena rathavinītena sattamaṁ rathavinītaṁ pāpuṇiṁ, chaṭṭhaṁ rathavinītaṁ vissajjiṁ, sattamaṁ rathavinītaṁ abhiruhiṁ.
Sattamena rathavinītena sāketaṁ anuppatto antepuradvāran’ti.
Evaṁ byākaramāno kho, āvuso, rājā pasenadi kosalo sammā byākaramāno byākareyyā”ti.
“Evameva kho, āvuso, sīlavisuddhi yāvadeva cittavisuddhatthā, cittavisuddhi yāvadeva diṭṭhivisuddhatthā, diṭṭhivisuddhi yāvadeva kaṅkhāvitaraṇavisuddhatthā, kaṅkhāvitaraṇavisuddhi yāvadeva maggāmaggañāṇadassanavisuddhatthā, maggāmaggañāṇadassanavisuddhi yāvadeva paṭipadāñāṇadassanavisuddhatthā, paṭipadāñāṇadassanavisuddhi yāvadeva ñāṇadassanavisuddhatthā, ñāṇadassanavisuddhi yāvadeva anupādāparinibbānatthā.
Anupādāparinibbānatthaṁ kho, āvuso, bhagavati brahmacariyaṁ vussatī”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā sāriputto āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ etadavoca:
“konāmo āyasmā, kathañca panāyasmantaṁ sabrahmacārī jānantī”ti?
“Puṇṇoti kho me, āvuso, nāmaṁ;
mantāṇiputtoti ca pana maṁ sabrahmacārī jānantī”ti.
“Acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena, evameva āyasmatā puṇṇena mantāṇiputtena gambhīrā gambhīrapañhā anumassa anumassa byākatā.
Lābhā sabrahmacārīnaṁ, suladdhalābhā sabrahmacārīnaṁ,
ye āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ labhanti dassanāya, labhanti payirūpāsanāya.
Celaṇḍukena cepi sabrahmacārī āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ muddhanā pariharantā labheyyuṁ dassanāya, labheyyuṁ payirūpāsanāya, tesampi lābhā tesampi suladdhaṁ, amhākampi lābhā amhākampi suladdhaṁ, ye mayaṁ āyasmantaṁ puṇṇaṁ mantāṇiputtaṁ labhāma dassanāya, labhāma payirūpāsanāyā”ti.
Evaṁ vutte, āyasmā puṇṇo mantāṇiputto āyasmantaṁ sāriputtaṁ etadavoca:
“ko nāmo āyasmā, kathañca panāyasmantaṁ sabrahmacārī jānantī”ti?
“Upatissoti kho me, āvuso, nāmaṁ;
sāriputtoti ca pana maṁ sabrahmacārī jānantī”ti.
“Satthukappena vata kira, bho, sāvakena saddhiṁ mantayamānā na jānimha:
‘āyasmā sāriputto’ti.
Sace hi mayaṁ jāneyyāma ‘āyasmā sāriputto’ti, ettakampi no nappaṭibhāseyya.
Acchariyaṁ, āvuso, abbhutaṁ, āvuso.
Yathā taṁ sutavatā sāvakena sammadeva satthusāsanaṁ ājānantena, evameva āyasmatā sāriputtena gambhīrā gambhīrapañhā anumassa anumassa pucchitā.
Lābhā sabrahmacārīnaṁ suladdhalābhā sabrahmacārīnaṁ,
ye āyasmantaṁ sāriputtaṁ labhanti dassanāya, labhanti payirūpāsanāya.
Celaṇḍukena cepi sabrahmacārī āyasmantaṁ sāriputtaṁ muddhanā pariharantā labheyyuṁ dassanāya, labheyyuṁ payirūpāsanāya, tesampi lābhā tesampi suladdhaṁ, amhākampi lābhā amhākampi suladdhaṁ, ye mayaṁ āyasmantaṁ sāriputtaṁ labhāma dassanāya, labhāma payirūpāsanāyā”ti.
Itiha te ubhopi mahānāgā aññamaññassa subhāsitaṁ samanumodiṁsūti.
Rathavinītasuttaṁ niṭṭhitaṁ catutthaṁ.